KHI VỢ VẮNG NHÀ
Vương Đằng
Đúng ra phải gọi “chú”, “bác” hay “ông”
theo dáng vóc, khuôn mặt và tóc tai, nhưng ở đây tác giả xin phép được dùng
nhân xưng đại từ “lão” theo phong tục và thói thường “kính lão đắc thọ”.
Thật thế, lão
Long Mềm không giống như những cụ già vừa ăn lễ trung thọ. Tên cúng cơm của lão
là Long, nhưng được Hải Mắt Híp, một bạn thân ưa “thọc gậy bánh xe” thêm chữ
“Mềm”.
Một là để phân biệt với Long Đất—một người bạn nghệ sĩ, cựu tài tử nổi
danh trước 1975, nhưng bây giờ sinh tật để đất bám đầy người do tối thiểu nửa
tháng mới tắm một lần. Hai là để vừa châm chích vừa trầm trồ bởi vì tóc của lão
mềm như tơ, được mệnh danh “cuốn theo chiều gió” theo nhan đề bộ phim lừng danh
bốn biển năm châu do tài tử thượng thặng Lạc Ghế-Bố (Clark Gable) cụp lạc với
cô đào mỹ miều Ví-Liền Lấy(Vivien Leigh). Quả vậy, gió hướng nào thì tóc lão
phất phơ phương đó khiến lão phải luôn luôn đội nón để giữ chúng nằm yên tại
chỗ, thế mà những cọng dài sau ót và vành tai cũng luôn đung đưa thật lãng mạn.
Đôi bàn tay trời sinh của lão cũng dài và mềm mại như tiểu thư, có lẽ nhờ thế
mà lão, đệ tử ruột của nhạc sư tài danh Nghiêm Phú Phi, đã trở thành nhạc sĩ
dương cầm nổi tiếng trước 1975. Giọng nói lão cũng dịu dàng, nhũn nhặn. Cộng
thêm da của lão đầy mềm mại, không nhăn nheo như ông già bảy mươi và gương mặt
lão mịn màng như gã đàn ông ngoài bốn mươi, chỉ vầng trán có dăm nét nhăn do
quá suy tư hay tính toán, nhờ mỗi ngày lão siêng năng thoa kem chống nắng,
dưỡng hay làm trắng da và mỗi tối trước khi đi ngủ lão chịu khó trét chèn nhẹt
mỹ phẩm chống lão hóa khắp thân thể, nhứt là ở mặt cổ, và sóng bàn tay. Có lần
Son Râu, bạn chí thân của lão từ lúc hai đứa còn cà rịch cà tang chở nhau đi
học trên chiếc xe đạp cũ rít trước 1954, đã nói móc:
- Già rồi, cần
gì mỹ phẩm như đàn bà!
Câu bình phẩm
mỉa mai của Son Râu vô tình khiến lão nhớ thuở nhỏ trong nhà có chú Tám Cao ở
đậu. Chiều nào chú cũng cạo mặt, tô chì thêm chưn mày, thoa kem, xịt dầu thơm
chuẩn bị đi làm bồi bàn ở nhà hàng Công-Ty-Năn-Tanh trên đường Ca-Ti-Na (sau đó
được đổi tên Tự Do và bây giờ là Đồng Khởi). Thuở ấy lão mới non mười tuổi, cứ
cười thầm và nghĩ trong bụng “đàn ông mà lại xức kem như con gái, hổng biết mắc
cỡ”. Nhưng từ hơn mười ba năm nay thì lão đành công nhận kết quả khả quan và
hiển nhiên của các loại kem cho nên lão chẳng những không giấu giếm mà còn tự
hãnh diện rằng mình đã thức thời để chống tuổi già bắt đầu lộ diện trên thân
xác, dẫu biết rằng mỹ phẩm chỉ giúp kéo dài tuổi trẻ thêm một khoảng thời gian
nào đó, nhưng “có còn hơn không” theo thiển ý của lão.
- Đàn bà hay đàn
ông gì! Ai muốn trẻ lâu thì phải xài mỹ phẩm mầy ạ!
Lão vừa trả lời
vừa ngếch mắt, đưa tay chỉ mặt mày, thân thể của lão, vừa tự hào “mình vẫn còn
trẻ và đầy phong độ”.
Quả lão đầy
phong độ thật, khó ai chối cãi nỗi! Quá bảy mươi mà thân thể vẫn tráng kiện,
nhờ thể dục, thể thao, luyện tập Hiệp khí đạo non suốt cuộc đời, nhứt là không
hút thuốc, chẳng uống rượu, ghét thức đêm cờ bạc hay cá độ bóng đá. Trước bảy
mươi lão còn hít đất một tay cả chục cái, mỗi lần biểu diễn ai cũng lé mắt
nhưng trong bụng sợ thầm lão đứt gân máu đi đon không kịp chở vô nhà thương;
còn bây giờ con số mười tuột xuống còn năm, nhưng có mấy ai còn gân như lão
chăng? Trong khi đã có hơn chục cháu ngoại và nội, vợ mới chết chưa đầy bốn
năm, vừa ăn thất tuần xong thì cưới ngay cô vợ trẻ mới ngoài bốn mươi tuổi, gái
lỡ thời chưa bao giờ lên xe hoa, không những trẻ mà còn quyến rũ nữa, khi chưng
diện đầy đủ son phấn trông như ca sĩ Trí-Di Phương Trinh hải ngoại, có hình
chụp chân dung hóa trang đội mái tóc vàng kim vừa giống mà còn đẹp hơn ca sĩ
Thanh Hà lai Mỹ nữa, thỉnh thoảng mặc quần Jean trắng và mặt áo đỏ nhô ngực thì
có khác gì cô gái híp-py choai choai, phóng xe Ắt-Ti-La như gió khiến bao nhiêu
đực rựa lái xe thồ ngơ ngác, tây ba lô huýt miệng inh ỏi.
Ai cũng nghĩ cô
vợ trẻ lấy lão chỉ vì cái biệt thự nhỏ nhắn trên đầu dốc cuối bờ hồ Xuân Hương
mới ăn tân gia, trang bị đủ loại máy móc, ngoài ti-vi và dàn âm thanh nổi, nào
là máy giặt, máy tắm nước nóng, máy thâu băng (cát-sét có, CD có, vi-đê-ô có
luôn!), máy vi tính nối mạng In-tẹt-nết, máy đấm bóp, vân vân, ôi thôi đủ loại
máy kể ra chỉ càng thêm mỏi miệng, khô bọt mép. Nhưng, oan cho cô ta lắm, người
đời ơi! Chính trong thâm tâm thì thuở ban đầu cô vợ trẻ mê tiếng dương cầm, lời
lẽ lẫn giọng nói lãng mạn và tấm thân cường tráng, bụng không phệ của lão; chỉ
mãi về sau gần ngày hỏi cưới, cô ta mới để ý đến những gì đáng chú ý khác bao
quanh con người lão.
Tiền đâu lão có?
Dù có năm đứa con Việt kiều ở Mỹ, Ca-Na-Đa, Pháp và Úc, lão vẫn thích sống tự
lập, không nhờ vả hay xin xỏ chúng. Ngay từ lúc thiếu thời, lão vốn ưa làm
phước và lão cứ tiếp tục vun trồng, bón phân cây từ thiện nho nhỏ của mình mỗi
khi có cơ hội. Có lẽ nhờ thế mà Trời, Phật, Chúa hay A-La thương nên lão trúng
số cặp năm hai lần trong năm 1993. Lão mua nhà, mua đất rẻ rề; mua đi bán lại
trong khi giá nhà đất mỗi năm lên vùn vụt như pháo thăng thiên; không đầy tám
năm lão trở thành tỷ phú nho nhỏ, tuy vẫn thua quá xa, không thể nào so sánh
với tỷ phú Hoàng Anh Gia Lai nổi tiếng như cồn, nhưng cũng đáng cổ động để làm
gương lao lực và tự lập cho bọn trẻ con ông cháu cha, sống ăn bám, vô lý tưởng,
ỷ thế gia đình, phá làng chọc xóm, mê cá cược, ham đua xe, trác táng ngày đêm.
Mới mua miếng đất thổ cư ở thành phố Đà Lạt, chưa kịp xây cất thì bà vợ mập lù
của lão lên máu, lăn đùng ra chết không kịp trối. Lão phải hy sinh ba năm sống
cô đơn, chịu tang cho vợ hiền để vừa lòng con cháu và miệng đời. Sau mãn tang
lão mới dám bung ra, muốn sống thỏa thích, miễn là không gây tội lỗi, những
tháng năm cuối cùng của cuộc đời theo ý nguyện và nhu cầu thâm sâu, sôi nổi
dưới làn da của lão.
Nghe lời xúi
giục của đồ đệ văn nghệ biệt danh Phì Lủ Phan An (một tay ghiền In-tẹt-nết, tối
nào cũng đóng đô ở dịch vụ vi tính khít vách với bệnh viện tâm thần Biên Hòa,
và khoái gởi khắp bốn phương khoe hình mập như con heo nọc chụp ở Thái Lan với
bê đê đàn ông giải phẫu thành đàn bà cực kỳ xinh đẹp), lão đăng ký lên mạng
Việt-phân với tên hiệu “Vẫn Còn Yêu” (nhưng không dám cho thấy hình!) để tìm bạn
gái bốn phương. Ban đầu, biết lão có biệt thư ở Đà Lạt, hàng mấy chục gái góa
chồng, ly dị, lỡ thời đánh thư kết bạn; lão cũng viết, cũng chát những lời tình
tứ như chàng trai hai mươi; nhưng dần dà, chán chê lão cho họ rớt đài từng tên
một, chỉ giữ lại một mống không qua Việt-phân mà do bạn già khác giới thiệu.
Và cuối cùng,
liệng vào sọt rác ý kiến con cái và dư luận bởi vì nghĩ rằng chúng cũng sống
theo chủ nghĩa cá nhân vị kỷ Tây phương và ngu ngốc gì mà chạy theo dư luận bởi
vì “ở rộng người cười, ở hẹp người chê…” và “mỗi người chỉ có một đời” theo ý
lão ai muốn sống sao thì sống miễn là đừng sống trên sự đau khổ của người khác;
vợ chết đã mãn tang và cưới vợ trẻ bằng tiền bạc do công lao cực khổ của mình
thì có gì là tội lỗi. Bởi thế, như chàng trai tràn trề nhựa sống lão lật đật in
thiệp mời, chịu mồ hôi chảy dầm dề để thay vô cởi ra ba bốn bộ đồ chụp hình
chân dung hai chục kiểu với “người yêu trẻ tuổi” hầu chiều lòng “cô dâu tương
lai” lần đầu tiên lên xe hoa, lu bu đãi tiệc nhà hàng hai lần ở hai nơi, quỳ
mọp trước bàn thờ ông bà bên đàng gái, răm rắp theo các lời hướng dẫn khác
trong lễ rước dâu, chịu nắng nôi lên xe xuống bắc đưa cô vợ trẻ từ Cà Mau về Đà
Lạt vừa làm nữ chủ căn biệt thự mới cất và được ủy thác nhiệm vụ chính yếu là
hâm nóng mạch máu khô cằn và sưởi ấm trái tim nguội lạnh trong hơn ba năm qua
của lão.
Mọi rắc rối, bực
bội và gian khổ tổ chức đám cưới như cơn sóng thần tàn phá Đông Nam Á đã vút
qua và giấc mộng vàng của lão đang trong tầm tay để lão hưởng thụ và sống chết
bên nhau trong những ngày tháng năm cuối cùng của mình. Nghĩ như thế, lão thở
nhẹ nhõm và niềm tự hào dâng lên cao trong tâm trí lão như phi tiễn vượt bầu
khí quyển.
Cô vợ trẻ, vốn
sinh trong gia đình có nghề thuốc Nam lẫn Bắc gia truyền, mới đầu sợ ông chồng cao
niên không đủ sức chung chăn xẻ gối nên trước một tháng ngâm cho lão một hũ
thuốc rượu bổ thận, cường dương hạng nhứt tốn mấy triệu đồng, mỗi tối mỗi
thưởng thức và bắt lão phải uống kèm thuốc bổ 851 hảo hạng bào chế từ Trung
quốc ngay trong đêm động phòng hoa chúc. Chưa an tâm, kể từ ngày hôm sau, cô
nàng còn cung cấp và nhắc nhở lão uống thêm mỗi tối năm viên bổ thận hoàn của
phòng chẩn trị y học dân tộc Tân Hưng Long và hai viên Song Long Hoàn nhập vào
từ Quảng Đông. Cô ta không biết rằng trong khi đó, e gặp cảnh “khóc ngoài quan
ải” hay đi lết bết sau vài trận hỗn chiến, chính lão cũng đã nhờ bạn thân Việt
kiều Mỹ từ Sài Gòn Nhỏ bên Ca Li mua về giùm hai chai thuốc bổ thượng thận Dê
Hát Ê A (DHEA) và cả trăm viên Cạt-đu-ra (Cardura) giá phải chăng, càng uống
càng nóng, càng dai, cóc cần phải có Váy-ấy-ra (Viagra) mắc mỏ mới có hiệu quả.
Chắc hẳn nhờ tất
cả thuốc rượu, thuốc bổ Đông, Tây, Nam, Bắc mà sau ba tháng cô vợ trẻ bị quấy
rầy mỗi đêm bắt đầu đề cao cảnh giác, không còn dám hó hé, bày vẽ thuốc thang
gì nữa. Riêng lão, lão cũng chẳng lo lắng gì cả bởi vì theo tình hình chiến sự
hiện tại thì “ta thắng, địch thua” nhưng cứ mỗi khi có dấu hiệu địch sẽ tái tấn
công thì lão nốc trước hai viên thuốc Mỹ là xong, địch phục kích khu nào, lão
ta phản pháo tức khắc, không để sống sót một tên nào.
Có độc giả sẽ
thắc mắc: “Làm sao biết khi nào địch sẽ tái tấn công?” “Dễ ợt! Dễ ợt!”, lão sẽ
cười mím chi giải thích, “Hễ chiều hay tối nào sau khi tắm rửa mà địch thoa kem
thơm Ê-ly-da-bết At-đần (Elizabeth Arden) thượng hạng của Mỹ khắp hang cùng ngõ
hẹp, rồi một mình mê man trước bàn trang điểm non tiếng đồng hồ với đủ loại mỹ
phẩm, bao gồm luôn chuyện tỉ mỉ gắn hàng lông mi giả cong như trăng lưỡi liềm,
và son bóng ngời chiếu trên đôi môi khiến ruồi mà đậu cũng phải rớt là ta biết
địch sắp ồ ạt chuyển quân tấn công!”
Chiến trận xảy
ra giữa lão và cô vợ trẻ quá ác liệt và phức tạp nên tác giả không đủ ngôn từ
để diễn đạt cho chính xác và súc tích; bởi vậy bây giờ tác giả xin cáo lỗi, hẹn
tương lai sẽ “tầm sư học đạo” với bậc thượng thừa thì mai sau mới đủ khả năng
kể lại cho quý độc giả.
*
Bây giờ tác giả nhắm vào chủ đề chính
yếu của truyện ngắn nầy, xin quý độc giả thoải mái theo dõi.
Số là hết sáu
tháng tạm trú ở Đà Lạt, cô vợ trẻ phải đi về Cà Mau xin giấy tạm vắng tạm trú
mới, sẵn dịp coi mua và xin sổ đỏ cho vài mẫu đất nông nghiệp để hộ thân khi
tối lửa tắt đèn. Lão không muốn đi cùng cô vợ trẻ bởi vì trời đang tháng tư
nắng hạn. Lão vừa sợ Sài Gòn cát bụi ô nhiễm, cướp giựt khắp nơi, cũng như nắng
nóng miền Nam, vừa ngại đường dài đăng đẳng, đầy nhóc ổ gà, nay lấp mai sửa mốt
tráng, khói bụi mịt mù dễ gây viêm tai mũi họng liên miên. Thêm nữa, lão có tật
vừa lạ vừa xấu là quen êm ái; trời sinh hai mông của lão không quen ngồi lâu
trên ghế xe đò, dù là xe chất lượng cao như Dalattoserco. Bảy tiếng ngồi xe đò
từ Đà Lạt xuống Sài Gòn, cộng thêm tám chín tiếng xuống đến thị xã Cà Mau, rồi
lại ê ẩm ngồi băng ghế cây cứng ngắc trên đò máy xuống tận quê quán chó ăn
chuột gà ăn nhái của cô vợ trẻ khiến lão ê càng, sợ như bị lọt vô hang động đầy
rắn rít.
Thế là lão có lý
do chính đáng để ở lại một mình. Hai chữ “một mình” đối với những đức phu quân
khác có vợ lâu năm là một dịp may hiếm có trong đời bởi vì họ được sống ngoài
vòng kiềm tỏa của đức phu nhơn, mặc sức bay nhảy tung tăng như cá gặp nước lớn.
Còn đối với lão thì trái lại. Than ôi, mới mặn nồng với cô vợ trẻ không đầy một
trăm tám mươi ngày, chưa phỉ lòng phỉ sức thì lại kẻ xuống hóc bà Tó miền Nam,
người ở lại thành phố sương mù miền Trung gần “đồi thông hai mộ”.
Ngày đầu lão đi
ăn cơm tiệm, nhưng nuốt không vô, ăn phân nửa bỏ phân nửa vì lão không quen
khẩu vị Đà Lạt hay miền Trung. Lão quen ăn theo cách nấu nướng Sài Gòn hoặc
miền Nam, nhứt là Hậu Giang. Vợ trước của lão quê quán Mỹ Tho, nhưng sống ở Cần
Thơ lâu năm. Sau khi vợ chết, lão mướn ông nấu bếp Sài Gòn gặp bước sa cơ. Kể
từ khi có cô vợ trẻ, lão cho ông ta về hưu sớm, nhưng cảm thương hoàn cảnh long
đong nên lão cho mượn vốn không lời để ông ta mở quán cơm bình dân ở Trại Mát
sống qua ngày. Từ nhà lão đến Trại Mát thì lại quá xa nên lão phải đành ăn cơm
tiệm hay nấu ở nhà.
Các ngày kế tiếp
mỗi sáng lão phải đi chợ và nấu ăn, kể cả rửa chén bát, dọn dẹp nhà cửa, giặt
đồ tốn thời giờ quý báu của lão hơn bốn tiếng đồng hồ. Lão không còn nhiều thời
giờ để đọc sách, nghe nhạc hay giao dịch mua bán bất động sản như trước.
Thời giờ tuy
hiếm hoi, nhưng lão không tiếc, chỉ có điều là lão nhớ cô vợ trẻ quá, nhớ đến
ăn không trôi, ngủ không yên (trước kia, đêm đêm lão ngủ như chết, nhứt là sau
những màn kịch chiến!). Lão nhớ từng lời ăn tiếng nói, từng cử động tay chân,
khoé mắt mấp máy, làn môi đỏ mướt mời mọc của cô vợ trẻ. Thân xác hồi xuân của
lão bỗng như có lỗ trống, nhịp tim như thiếu óc-xy nên đập chậm rì, áp suất
huyết tuột xuống thấp nhứt khiến buổi tối lão hóa lờ đờ, ngờ nghệch. Suốt ngày
lão cảm thấy thời gian mông mênh, tâm tư càng cô quạnh hơn sau khi vợ chết,
ngay cả khi giữa chợ kẻ chen người lấn, bởi vì sáu tháng qua lão thật bận bịu
với cô vợ trẻ, ngày qua, tháng lại nhanh như chuột chạy. Cô vợ trẻ không quanh
quẩn, líu lo, lão cảm thấy thời gian như chết đứng chẳng biết bao giờ mới tới
đầu tháng năm là lúc tái ngộ với cục cưng nẩy lửa nhưng chung tình (theo tin
tưởng của lão!). Một tháng trước, đôi khi lão cảm thấy bị quấy rối vì cô vợ trẻ
cứ tíu tít tường thuật tin tức giật gân hay hình sự qua báo Công An hoặc An
Ninh Thế Giới khiến lão không còn tâm trí nào để suy tính chuyện đầu tư nhà đất
hay thư giãn trước cảnh đẹp thiên nhiên; lão muốn kiếm cớ đi Sài Gòn hay Nha
Trang dăm ba ngày để rảnh mắt, khỏe màng nhĩ, cho tâm hồn phấn chấn, nhưng chưa
kịp quyết định thực hiện thì bây giờ cục cưng của lão lại có cơ hội bỏ lão hiu
quạnh non tháng trời giữa thành phố không bạn bè, bà con thân thích. Cả khí hậu
tươi mát và phong cảnh mộng mơ của thành phố Đà Lạt không còn là gì đối với lão
như những năm trước. Giờ đây lão thật sự thấm thía mãnh lực trái tim và xác
thịt đang vày vò từng sợi gân, thớ thịt của mình. Lão bất giác tự thán: “Ôi
tình yêu! Sao mi cứ đeo đuổi ta ở từng tuổi nầy?”
Nhưng
rồi ba tuần tự xử cực hình nhớ nhung cô vợ trẻ cũng lềnh bềnh trôi qua như lục
bình trên rạch nhỏ. Chỉ còn một tuần nữa thôi là lão sẽ tay bắt mặt mừng, bên
nhau to nhỏ như trước với cô vợ trẻ. Hôm nay trưa thứ bảy, trời nắng ấm, hàng
trăm xe ồn ào xịt khói chở du khách tứ xứ về Đà Lạt vui chơi lễ cuối tháng Tư.
Sau giấc ngủ trưa thường lệ, lão bỗng có cảm hứng khác thường, mạnh mẽ như cơn
mưa bão bất ngờ đổ xuống vùng đất khô cằn Phan Rang. Lão muốn đi dạo quanh
quẩn, không cần biết đi đâu, miễn sao ra khỏi căn biệt thự cô liêu, chứ không
lẽ nằm ôm gối chiếc, nói chẳng ai nghe, sầu chẳng ai biết. Muốn sao làm vậy, như
thanh niên có hẹn gặp đào, lão hí hửng cạo râu láng cón, thoa kem chống nắng,
chống hôi nách, luôn cả kem Bờ-Lít-Tét (Blistex) giúp môi mềm mỏng, xịt thêm
chút dầu thơm lên sóng tay và cổ, mặc áo hồng nhạt hàng ngoại trang trí nghệ
thuật và chiếc quần tây xanh lam đặt may công phu hợp thời trang, không quên
tròng tòn ten sợi dây chuyền bạc tinh vi chạm trổ rồng bay phượng múa, đội nón
cao bồi chính hiệu da mềm do thằng con trai đầu đàn mua tặng từ Tết-Xác.
Tự nhiên vui quá
khiến lão quên đem theo cả bóp lẫn đồng hồ đeo tay, khóa kỹ trong tủ sắt cả mấy
tuần nay: Lão có thói quen giấu đôi ba triệu trong cuốn từ điển La-ruốt
(Larousse) mòn da gãy góc để lo chợ búa, chi tiêu lặt vặt. Lão rờ rẫm, moi móc
khắp các túi. Không có gì! Quên luôn cái điện thoại di động đang sạc pin, định
trở về nhà nhưng lão chợt nhớ tờ giấy bạc xanh xanh mới tinh là tiền dành cho
khẩn cấp giấu bên trong nón, dọc theo mép da quanh viền. “Một trăm ngàn dư sức
qua cầu!” Lão mỉm cười, hả hê trong ý nghĩ đó, dỡ nón xuống coi thử cho chắc. Tờ
giấy bạc vẫn còn đó; yên chí lớn, lão tiếp tục hành trình vô định như hiệp
khách thiếu lâm lang bạt giang hồ.
Con
đường dọc theo cuối bờ hồ Xuân Hương trưa nay sống động với du khách và nhiều
loại xe, đặc biệt là xe đạp đôi và xe ngựa. Dù đội nón rộng vành, nhiệt độ
ngoài trời chỉ khoảng dưới 300 C , có lẽ nắng chói, người
và xe tấp nập khiến mồ hôi mặn muối đã rịn xuống môi mỏng lẫn gò má mịn kem và
lão cảm thấy cổ họng khô khốc. Bởi thế, lão ghé quán bên lề đường đối diện vườn
hoa thành phố để mua chai cam ép bỏ bọc với nhiều nước đá. Rồi lão lơn tơn vào
công viên nho nhỏ mới thiết lập, vắng người, chỉ có một cặp tình nhân thủ thỉ,
cười cười, nói nói. Lão chọn băng ghế hướng về nhà hàng Thủy Tạ, vừa nhâm nhi
bọc nước vừa rảo mắt nhìn quanh. Mặt trời rực sáng, phản chiếu trên hồ. Xa xa
các kiến trúc như hòa lẫn với đồi cỏ, cây lá và nền trời. Âm thanh xe cộ vang
động. Tiếng người ơi ới gọi nhau nghe vui tai.
Lão nhớ tới kỷ
niệm nằm ngủ lén lút trong nhà họp thanh niên, dựng cất sơ sài trước 1963 dọc
bên bờ hồ, với cô tình nhân láng giềng khi hai đứa từ Nha Trang trở lên Đà Lạt
nửa đêm, không tiện gõ cửa nhà quen, lại tiếc tiền mướn khách sạn phải trả trọn
ngày mà chỉ cần nghỉ lưng vài tiếng. Mỉm cười đắc ý và tự hào khi lão mường
tượng lại khung cảnh như Thiên Thai, tắm thác Pờ-rên (Prenn) dưới ánh trăng hè
và du dương với tình nhân lãng mạn trên bàn đá trong chòi tranh giữa thời sinh
viên. Lão không tự hào làm sao được? Bởi vì thuở ấy thác nầy còn hoang dã, sau
sáu giờ chiều chẳng ai dám bén mảng khi giọng cọp gầm vang vọng, lời khỉ vượn
hú hí quanh quẩn và tiếng gió xao động tàn cây.
Lão không quên
kinh nghiệm phải mướn khách sạn giá cao ba lần bình thường vào dịp lễ đầu tháng
9 năm trước để đón rước bạn nhạc sĩ cũ tên Quế Tuyền chỉ mới năm mươi ngoài, kèm
theo cô em kết nghĩa trẻ tuổi, sùng đạo hơn cả linh mục tên Bình An mới ly dị,
dắt tò tò đứa con gái lên mười, từ Phan Thiết nồng mùi nước mắm, được lên Đà
Lạt lần đầu tiên trong đời. Cuối cùng lão chẳng được cái thá gì, vì hai mẹ con
kỳ đà chềnh ềnh cản mũi, chỉ lỗ vốn nặng, mất thì giờ và chuốt đầy phiền nhiễu
khó mờ nhạt.
Kỷ niệm tuổi ấu
thơ ở Trại Mát không bao giờ phai nhòa, được gợi lên trong tâm trí của lão:
thuở ấy chợ Đà Lạt còn đốt đèn khí đá, thỉnh thoảng mới có tiệm thắp đèn
măng-xông; đường đi tắt đến chợ phải vượt qua nhiều cầu khỉ khập khềnh; ban đêm
trời lạnh gấp mấy lần bây giờ và hàng chục con trùng đeo quanh mùng con nào con
nấy bự xự thấy mà ớn. Lão như sống lại mùa hè 1964 với Thiểu Yến, với Hưởng và
tiệm uốn tóc Bạch Cung ngay trung tâm thành phố, với em Tới và cô Hai Nhành bán
mận ngoài chợ Đà Lạt, cư ngụ ở đầu dốc Xuân An. Bây giờ cô đã qua đời, Tới thì
chật vật với con cháu đầy nhà ở Sóc Trăng. “Thiểu Yến và Hưởng phiêu bạt nơi
nào hay…?” lão thắc mắc.
- Bố đi chơi đâu không, bố?
Câu
hỏi bất ngờ lôi lão trở về thực tại. Lão quay nhìn tên xe thồ, cò mồi hay dẫn
mối mặt mày lanh lợi với vẻ ngại ngùng. Lão lắc đầu hai cái.
- Bố thích đi uống cà phê không?
Lão
trả lời:
-
Hổng biết uống cà phê!
Tên nầy vẫn
không buông tha cho lão:
- Bố không uống
cà phê thì bia hay nước ngọt, có em tiếp đãi.
Nghe chữ “em”,
tim lão đánh thót; chữ “em” như nhảy tọt vào tận đáy lòng, tâm tư thiếu bóng
hồng nhan của lão mấy tuần nay. Lão nhíu mày, đắn đo, rồi dợm hỏi:
- Tốn bao nhiêu?
- Ô, có bao nhiêu đâu! Cà phê, nước ngọt
mười đồng; bia thì mười lăm; em thì cho tiền bo hai chục được rồi.
Bài
toán cộng chạy nhanh như tia điện tử trong đầu óc quen tính toán của lão:
“mười, cộng hai chục, cho hai chục tiền xe cũng còn dư!”
Cho chắc ăn, lão
gặn hỏi:
- Còn tiền gì khác nữa không?
- Không, bố! Bảo đảm mà!
Lão
vẫn nghi ngờ:
- Thiệt hông?
- Ai mà nói láo với bố làm gì! Con đưa
khách
đi hoài!
Như
mở cờ trong bụng, nhưng vẫn còn e mắc bẫy bởi lão từng nghe nhiều người bị trấn
lột trong những trường hợp tương tự, lão móc hết tiền trong túi quần ra, xòe
các tờ giấy bạc hôi hôi trước mặt hắn:
- Nè, tôi chỉ có chín mươi lăm ngàn thôi.
Hơn nữa thì tôi không có tiền trả đó!
Hắn
cười hề hà:
- Bố đừng lo! Bảo đảm! Bảo đảm!
Thế
là lão hăng hái theo hắn ra khỏi công viên; mặt tươi tỉnh như mới được khách
chịu mua căn nhà bán hoài không được; lòng lão phơi phới như diều gặp gió. Xe
cộ và người ta như mắc cửi. Chỉ mười lăm phút sau, hắn đưa lão đến một quán cà
phê nằm bên mặt gần đầu dốc đường Hải Thượng, cách bịnh viện thành phố khoảng
100 thước.
Với
ám hiệu của tên dẫn mối, chỉ trong nháy mắt, gã chủ quán đưa lão lên lầu, mời
vào một phòng khách phía mặt tiền trang trí lố lăng, ghế sa lông da sặc sỡ.
Liếc mắt quan sát trước sau, lão cảm thấy nghi ngại, định mở miệng hỏi thì gã
trấn an:
- Bố yên tâm! Em sẽ đến trong vài phút. Mời bố ngồi. Bố uống gì cho
biết.
Não
bộ chưa thoái hoá của lão suy tính nhanh nhẩu: “Không lẽ kiếm cớ tháo lui thì
‘mất mặt bầu cua’, mà từ nhỏ đến giờ ‘anh hùng có sợ chi ai’, thêm nữa, mình
chẳng có gì ngoài chín mươi lăm ngàn để chúng trấn lột. Thôi, tới đâu thì tới!”
Đoạn lão chọn chỗ ngồi vừa có thể thấy cửa vào và cửa lưới mở ra lan can lầu.
Lão gọi một lon Cô-ca Cô-la. Gã mau lẹ xuống lầu.
Nhắm mắt chốc
lát để tâm hồn thư giãn, nhưng vẫn chưa cảm thấy an toàn, lão mở cửa lưới và
bước ra quan sát. Nắng đã dịu. Lời ca hòa lẫn tiếng đàn từ bên dưới và từ bên
kia đường trộn lẫn với tiếng ồn ào xe cộ. Căn nhà bên trái cũng có lan can
tương tự, ngăn cách đôi bên bởi một song sắt đơn giản mà nếu muốn người ta có
thể leo qua lại không mấy khó khăn.
Trở vô ghế ngồi.
Lon nước và ly đá được mang lên bởi một cô phụ bán theo như lão đoán. Lão gật
đầu và nói “cám ơn!”. Cô phụ bán nhanh nhẹn chào từ giã, khép cửa và xuống lầu.
Lão nhấn nút lon kêu cái xịt và rót Cô-ca vào ly đá, uống một hớp dài, mát
rượi, hơi ga khì ra lỗ mũi. Lão nhắm mắt, lơ mơ tịnh dưỡng.
Tiếng gõ cửa nhẹ
nhàng khiến lão thức tỉnh, bật dậy, bước ra cửa. Mùi hương thoang thoảng. Lão
nghĩ chắc là em đến. Đúng vậy, em đến! Em khoảng dưới ba mươi, chẳng những co
eo hấp dẫn mà khuôn mặt trái xoan tuyệt đẹp và son phấn quá khêu gợi còn hơn cô
vợ trẻ của lão nữa. Lão không ngờ Đà Lạt có em thơm ngon như múi mít như thế.
Má thấy phừng phừng, gân nghe rần rần, tim bỗng giựt giựt, lão như mới nốc ly
rượu cao
hổ cốt đậm đặc.
Em bước vào với
một dĩa hột dưa nhỏ và hơn nửa lố bịt chứa đựng đồ nhâm nhi như đậu phộng rang,
khô mực, khô nai. Khác với các khách hảo ngọt, thay vì thích em ngồi bên cạnh
hay trong lòng, lão mời em ngồi đối diện để có thể ngắm nghía tất cả những gì
em làm chủ. Hồn lão bấy giờ gần giống như của Trụ Vương bị Đắc Kỷ hớp mất. Em
xưng tên Linh Trang; lão tấm tắc ngợi khen vừa đẹp vừa trang nhã. Lão tiếc hùi
hụi rằng chỉ có đem chín mươi lăm ngàn thì làm sao tính chuyện xa hơn với em
được. Lão hẹn với em 8 giờ tối nay ở nhà hàng Thủy Tạ và bây giờ lão đưa ý kiến
chỉ trò chuyện để biết nhau thêm mà thôi. Em gật đầu. Lão mời em uống cà phê .
. .
Theo gợi ý và
chất vấn của lão, em vừa kể chuyện đời mình gian truân vừa xé dăm bịt. Tim lão
hơi lo lo, e không đủ tiền trả, ra dấu em đừng xé nữa, nhưng em cứ lờ đi. Khi
em xé đến bịt thứ sáu thì lão cụt hứng, đứng phắt dậy, cáo lỗi xin về, hẹn gặp
lại tối nay. Lão móc túi, đưa em hai chục ngàn tiền bo. Em giẫy nẫy không chịu,
đòi năm chục mặc dầu lão giải thích tình huống quên bóp ở nhà thế nào em cũng
nằng nặc không tin. Cuối cùng lão bực bội bước ra cửa, định xuống lầu phân trần
với chủ quán. Nhưng em chận cửa, móc điện thoại di động gọi ai đó. Bây giờ thì
tim lão sôi sùng sục, không còn vì da thịt ngoại hình cám dỗ nữa mà vì tức
giận. Lão định lôi em tránh xa cửa và nếu em chống cự thì tống cho em một quả
vào mặt là xong. Nhưng không biết sao lão đổi ý, quay lưng và vọt tới mở cửa
lưới, chạy vụt ra lan can, đứng la thất thanh:
- Kêu công an!
Kêu công an! Tôi bị trấn lột! Kêu 113! . . .
Hai khách bộ
hành ngước cổ lên, tò mò, nghe ngóng. Có cô gái cởi Honda ngừng lại. Lão giơ
hai tay kêu cứu:
- Xin gọi công
an. Xin gọi 113. Tôi bị bọn ác trấn lột! Làm ơn gọi gấp! Cảm ơn, cảm ơn …
Mọi người tiếp tục
đi; lão chẳng biết họ sẽ gọi công
an hay không. Lão thử nhìn
ngoái lại bên trong, thì bóng em mất
tăm, có lẽ đã cuốn gói vì sợ công an đến. Lão vội vã trở vô và bước như bay
xuống lầu.
Chủ
quán tính tiền hành, tiền hẹ tổng cộng một trăm sáu mươi ngàn. Lão phân bua:
- Tôi chỉ uống
có một lon Cô-ca và em một ly cà phê sữa. Em tự xé các bịt. Tôi đâu có ăn. Tôi
cho em hai chục tiền bo theo như lời anh xe ôm bảo mà em đòi đến năm chục. Tôi
chỉ có chín mươi lăm ngàn mà thôi.
Chủ
quán nháy mắt. Trong tíc tắc hai tên bảo kê, mặt đầy sát khí xông lại kè lão;
một tên cho thấy có dao lú trong túi quần. Dù là cựu huyền đai nhị đẳng Hiệp
khí đạo, đệ tử yêu chuộng của võ sư Đặng Thông Phong ở Đa Kao trước 1975, lão
không muốn điệu võ dương oai bởi vì lão biết chắc mình chỉ có chín mươi lăm
ngàn, không bóp, không đồng hồ, không điện thoại di động, cà rá, hột xoàn trong
người. Lão quên lửng sợi dây chuyền bạc đồ cổ của mình. Lão móc túi, lấy hết
tiền ra và đếm trước mặt chúng: đúng chín mươi lăm ngàn. Lão nói:
- Các anh không tin thì lục hết người tôi đi. Chỉ có chín mươi lăm ngàn
mà thôi.
Tên
chủ quán tóm lấy tiền từ tay của lão, rồi hếch càm; hai gã cô hồn lục lọi các
túi và rờ rẫm khắp người, xét luôn nón, đôi vớ và giày của lão. Chẳng có gì cả,
chủ quán ra hiệu cho lão đi. Mừng quýnh, lão nhanh chân ra cổng. Bỗng một tên
to con như bò rừng ngồi ngoài hàng hiên chận lão lại:
- Ê! Lão già,
đưa sợi dây chuyền đây!
Nghe đến sợi dây
chuyền yêu thích, chỉ có giá trị riêng đối với lão (bán chẳng được bao nhiêu!),
tuy máu anh hùng trong người căng lên, nhưng với bản tính ôn hoà, không muốn
đương đầu, lão bước tránh đi; thế mà tên nầy vẫn chụp vai lão. Lúc ấy chẳng còn
lo sợ chuyện gì sẽ xảy ra nữa, lão lòn người ra sau, nhanh nhẹn chụp tay tên
đó, vặn tréo rồi kéo tên đó ngã chúi xuống đất. Lão vọt xuôi xuống dốc. Hai tên
bảo kê xông ra, định rượt theo nhưng ngừng lại tức khắc vì có xe tuần
cảnh sát trên dốc đang từ từ chạy ngang
cửa quán.
Còn lão, lão vẫn
tiếp tục chạy đến ngã ba gặp đường Hoàng Diệu, vừa chạy vừa tiếc em xinh mộng
mà sống nghề láu cá, giận bọn gian manh bạo lực, tức mình bốc đồng không biết
an phận còn ham bóng sắc và hờn lây luôn cô vợ trẻ về quê quá lâu khiến lão lâm
vào tình thế rối răm, suýt nữa bị “xin tí máu”.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét