Phiếm: TẢN MẠN VỀ THƠ ĐƯỜNG
TẢN MẠN VỀ THƠ ĐƯỜNG
Thái Quốc Mưu
Thơ Đường là loại thơ – có thể gọi là thơ
cao cấp trong các thể thơ – Vì, luật lệ khe khắc phải gắn bó với niêm luật, đối
họa nghiêm chỉnh, trạng luận phân minh.
Nói vậy không có nghĩa tôi có ý chê các
thể thơ khác là “thơ hạ cấp”. Mục đích bài viết chỉ để nói về luật thơ Đường
nghiêm khắc hơn tất cả luật các thể loại thơ khác. Còn, thơ hay hoặc chưa hay
là vấn đề khác. Bất cứ loại thơ nào cũng có hay, chưa hay và dở.
Một bài thơ Đường hay phải có ẩn dụ, đọc
như vậy chứ ý không phải vậy, nói một đàng hiểu một nẻo,… phải có nhạc tính
cao, đọc lên nghe êm như lời ru của mẹ.
Các câu 3 + 4 (gọi là trạng) và 5 + 6 (gọi
là luận) phải phân minh. Xướng đối phải rõ ràng. Năm vần (các câu 1, 2, 4, 6,
8) phải đồng âm. Ngoài ra phải đúng luật BẰNG, TRẮC ( Bằng = B – Trắc = T),
luật nầy có thể được miễn trừ ở các chữ trong câu, là: Nhất, tam, ngũ (1 – 3 –
5) bất luận (không buộc theo đúng luật Bằng, Trắc); Nhì, tứ, lục (2 –
4 – 6) phân minh (bắt buộc phải đúng luật Bằng, Trắc).
Thơ Luật Thất Ngôn Bát Cú:
T – T – B – B – T – T – B (vần)
B – B – T – T – T – B – B (vần)
B – B – T – T – B – B – T
T – T – B – B – T – T – B (vần)
T – T – B – B – B – T – T
B – B – T – T – T – B – B (vần)
B – B – T – T – B – B – T
T – T – B – B – T – T – B (vần)
Các câu trong bài thơ luật Đường được gọi
như sau:
- Câu 1. Phá đề
- Câu 2: Thừa đề
- Hai câu 3 + 4 cặp trạng, phải đối nhau.
- Hai câu 5 + 6, cặp luận, phải đối nhau.
- Câu 7: Kết
- Câu 8: Thúc.
Đặc biệt, xin lập lại, hai cặp 3 + 4 và 5
+ 6 tứ thơ phải phân minh, nghĩa là ý thơ hai câu 5 + 6 không được trùng lập
với tứ thơ hai câu 3 + 4.
Thơ Thất Ngôn Bát Cú, được gọi Thơ Đường,
vì thể thơ nầy phát triển rất nhanh vào thời Nhà Đường (từ 18 tháng 6, 618
đến 1 tháng 6, 907) của nước Trung Hoa (nay là Trung Quốc).
Người ta thường gọi thơ Thất Ngôn Bát Cú
là Thơ Đường, có thể không chính xác, nên chăng gọi là Thơ Luật Đường, có lẽ
đúng hơn. Bởi, Thơ Đường là thơ của thời Nhà Đường, còn các thế hệ làm thơ Tám
Câu Bảy Chữ, sau Nhà Đường là làm thơ theo luật thơ của Nhà Đường.
Thất ngôn bát cú, thực tế được cải tiến từ
thơ Cổ Phong 7 chữ tám câu. Thể thơ nầy không cần niêm luật và có thể có nhiều
vần trong một bài thơ.
Triều đại Nhà Đường có ba, bốn trăm Nhà
thơ vào hàng cự phách và để lại đời sau mấy chục ngàn bài thơ bất hủ. Trong đó,
có năm, sáu vị mà hầu như chúng ta ít nhiều biết đến: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư
Dị, Thôi Hiệu, Thôi Hộ và Vương Bột...
Trong những vị ấy, Lý Bạch là người nổi
tiếng hơn cả, có lẽ do thơ ông gần gũi quần chúng, và, “cái ngông” của ông
trong huyền thoại, say, xỉn xuống sông mò trăng (?).
Để thơ đến với mọi người, thơ ca phải giản
dị, gắn bó với nỗi lòng của mọi tầng lớp quần chúng bằng tính nhân bản. Lý Bạch
cùng nhóm bạn Trương Tịch, Vương Kiến,… chủ trương thơ phải phản ảnh thực trạng
xã hội, trong đó yếu tố đời sống người dân là trọng tâm. Ông nói: “Làm
thơ phải nhìn vào hoàn cảnh mà nói lên được khát vọng của đại đa số quần chúng,
chứ không nên chỉ trong mộng mơ hư ảo”.
Còn Vương Bột có lẽ là Nhà thơ có nhiều
tác phẩm hơn các vị kia: Hán Thư Chỉ Hà (10 quyển), Chu Dịch Phát Huy (5 quyển
), Thứ Luận Ngữ (10 quyển), Chu Trung Toản Tự (5 quyển) và Thiên Tuế
Lịch, nhưng tên tuổi ông ít được quần chúng biết đến.
Thơ Luật Đường là thể thơ có nhiều xướng
họa hơn các thể loại thơ khác
Chơi thơ (bất cứ thể loại nào) là
một nghệ thuật, đòi hỏi có nhiều năng khiếu về thơ. Đặc biệt thơ luật Đường cần
phải có vốn kiến thức, thông suốt ngữ phạm và, tất nhiên thông thạo luật thơ.
Một bài thơ hay, chẳng phải do có nhiều
sáo ngữ hoặc nhiều “từ mới”. Không ít Nhà thơ khi sáng tác thơ cố vắt óc nặn
chữ cho có vẻ cao siêu, kết quả là người đọc không hiểu tác giả viết gì? Muốn
gởi gắm cái gì đến mình.
Đó là căn bệnh trầm kha của những “Người
thơ” cố ghép chữ thành vần điệu. Và, để biện minh cho trò ghép chữ của mình họ
tự sáng chế ba từ “Tân Hình Thức”.
Bài thơ hay, ngoài đúng niêm luật, giàu
nhạc tính còn gởi ý thơ, hồn thơ đến mọi người. Để khi đọc họ cảm thấy rung
động trong lòng; cảm nhận được tứ thơ và lắng sâu vào hồn… Ngoài ra, thơ cần có
sự sáng tạo về ngôn ngữ nhưng phải phù hợp ý thơ, bất ngờ, nhưng không khách
sáo, viển vông.
Người làm thơ cần tự tạo cho mình một
hướng thơ (tức là đường thơ, là phát kiến riêng); phải tự tạo ra ánh
hào quang đặc biệt cho riêng mình, không nên đi theo lối mòn do các nhà thơ
khác đã khai phá.
Khi nghe ai đọc một bài thơ mà ta đoán
được bài thơ đó của tác giả nào thì nhà thơ ấy đã thành công.
Ngược lại, khi nghe hay đọc một bài thơ mà
ta cảm nhận âm hưởng, cấu trúc ngôn ngữ của bài thơ đó na ná với dòng thơ, cấu
trúc ngôn ngữ của một tác giả khác thì kẻ viết bài thơ ấy chưa đạt được chánh
danh Nhà thơ.
Cuối cùng, người viết xin mượn ý của thi hào Lý Bạch kết thúc bài
nầy: “Viết văn, làm thơ để tạo thành một ấn phẩm thì không chỉ viết cho
riêng mình, mà cho tất cả mọi người đọc”.
Thái
Quốc Mưu

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét