8. Danh nhân Nam Bộ BÁC
VẬT LANG
Kha Tiệm Ly
Vào đầu thế kỉ 20, ở nam bộ có một nhân vật rất nổi danh, đến
nỗi tên của ông đã đi vào huyền thoại. Người ta đã gọi ông với lòng tôn kính và
sự bái phục như với một người đầy đủ đức hạnh và một bậc trí giả tài năng tót
chúng: Đó là Bác Vật Lang.
Ông tên thật là Lưu Văn Lang, sinh ngày 5 tháng 6 năm 1880 tại
làng Tân Phú Đông, hạt Sa Đéc (nay thuộc thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp) trong
một gia đình nông dân nhưng có truyền thống hiếu học.
Thân sinh của ông là Lưu
Văn Cung; từ nhỏ ông học chữ Nho,
đến năm lên 10, ông mới học chữ Pháp và
Quốc Ngữ.
Ông là học sinh xuất sắc nên được đặc cách vào học ở trường
Chasseloup-Laubat tại Sài Gòn, để rồi năm 17 tuổi, ông đậu Tú Tài với điểm ưu,
và được học bổng sang Pháp học tại trường École Centrale de Paris, là trường
đào tạo kĩ sư lớn nhất tại Pháp thời bấy giờ. Năm 1904, ông tốt nghiệp kĩ sư
hạng xuất sắc (hạng 3/250), trở thành vị kĩ sư bản xứ đầu tiên ở Đông Dương.
Khi về nước, ông được người Pháp trọng dụng và cho giữ nhiều
chức vụ quan trọng ở Sở Công Chánh Đông Dương
Một trí thức yêu nước, yêu
dân.
Sau khi Nhật đảo chánh Pháp (9/3/1945), ông từ chối lời mời của
Bảo Đại tham gia nội các Trần Trọng Kim
để giữ chức Bộ Trưởng Bộ Công Chánh
Sau khi tái chiếm Nam Bộ, người Pháp mời ông tham gia chánh phủ
bù nhìn Nguyễn Văn Thinh, ông thẳng thắn trả lời câu nói nổi tiếng: “Je suis
tropvieux pour servir de valet” (Tôi quá già để làm tay sai)
Năm 1947, ông là người kí tên đầu tiên vào bản tuyên ngôn của
400 trí thức, đòi chánh phủ Pháp phải chấm dứt chiến tranh và thương lượng với
chánh phủ Hồ Chí Minh. Năm sau ông làm cố vấn Hội Liên Việt Sài Gòn-Chợ Lớn của
chánh phủ kháng chiến.
Năm 1948, lần nữa, ông lại cùng các trí thức Sài Gòn kí tên vào
bản tuyên ngôn đòi chánh phủ Pháp phải thương lượng với chánh phủ Hồ chí Minh
để chấm dứt chiến tranh
Sau hiệp định Genève 1954, ông tham gia phong trào hòa bình, kêu
gọi tổng tuyển cử. Năm sau, lại kêu gọi lần nữa! Phong trào bị đàn áp dã man,
ông bị quản thúc đến năm 1958. Bấy giờ ông đã 78 tuổi!
Từ thực tài…
Khi cầu Long Thạnh ở Bạc Liêu do một kĩ sư người Pháp xây sắp
xong, ông đến lấy gậy gõ vào thành cầu và khẳng định với vị kĩ sư ấy rằng, một
tháng nữa cầu sẽ bị sập! Vị kĩ sư ấy vô cùng phẫn nộ. Chưa nguôi cơn giận thì
một tháng sau, cầu bị sập như dự đoán của ông! Từ đó cầu Long Thạnh được gọi là
Cầu Sập cho đến ngày nay. Vì lẽ nầy, vị tỉnh trưởng người Pháp lúc bấy giờ vô
cùng ngưỡng mộ ông, nên mỗi khi có dịp thường mời ông đến dinh dùng cơm, trò
chuyên thân mật. Để đáp lại tấm thạnh tình ấy, ông đã sáng chế ra chiếc đồng hồ
Thái Dương để tặng vị tỉnh trưởng nầy.
Đồng hồ Thái Dương được đặt tại trước sân dinh (giờ là Trung Tâm
Giáo Dục Thường Xuyên); xây bằng gạch tàu, cao khoảng 1 mét, rộng 0,8 mét, mặt
quay về hướng bắc (có nhiều tư liệu nói quay về hướng đông e không chính xác),
gồm ba phần: Phần giữa hình chữ nhật, nhô ra phía trước, hai bên là hai hình
vuông; trên mỗi mặt hình vuông nầy có khắc số La Mã theo hình vòng cung để biểu
thị giờ; một bên từ 6 đến 12 giờ; một bên từ 12 đến 17 giờ. Ánh mặt trời chiếu
xuống phần hình chữ nhật, tạo ra hai vệt sáng tối. Vệt sáng, tối nầy xem như là
cây kim chỉ giờ, “chỉ” ngay số nào là giờ đó.
Vào thời điểm ấy thì đồng hồ Thái Dương có độ chính xác rất cao
(có lẽ mãi mãi vẫn giữ độ chính xác như vậy nếu trái đất không quay chậm hoặc
nhanh hơn!), và nó không bao giờ sợ… “hết dây thiều”! Bởi vậy, hồi đó, các thầy
kí thầy thông, kể cả người Pháp mỗi sáng, thường tạt vào dinh để “lấy” lại đồng
hồ mình cho chuẩn! Đến nay, đồng nầy vẫn còn “chạy” tốt, và là một trong những
điểm tham quan du lịch của Bạc Liêu.
Có thể vì tài năng cùng đức độ của ông được biểu lộ rõ ràng, mà
người dân Nam Bộ thường gọi ông là “Quan BácVật” với lòng tôn trọng và quí mến.
Từ “Bác Vật” lúc ấy có ý nghĩa là người thông thái về khoa học. Với Bác Vật
Lang, người dân đương thời còn đi xa hơn
nữa, đó là người thông thiên đạt địa, biết rõ “thiên cơ”!
Trên núi Cấm có một cái hang huyền bí, người Pháp muốn thám hiểm
hang nầy. Ban đầu họ cho con khỉ vào lồng rồi buộc dây thả xuống, ít lâu sau.
khi thấy sức căng của dây không còn; họ kéo lên thì lồng đựng con khỉ biến mất,
mà mối dây như được ai tháo ra! Kế tiếp, họ cho con chó vào, và kết quả cũng y
như lần trước! Lúc nầy Bác Vật Lang mới tình nguyện xuống hang. Khi người trên
hang giật dây thì không được tín hiệu (của ông) bên dưới trả lời. Họ chờ một
đêm, thì bất ngờ từ dưới hang, nhà Bác Vật lù lù bò lên, nhiều người xúm nhau
hỏi, nhưng ông ú ớ mà không nói được! Mọi người liền đưa ông về Sài Gòn cứu
chữa. Khi sức khỏe bình phục, ông cũng chẳng nói được lời nào! Về sau có người đại diện của Bửu Sơn
Kì Hương tới thăm và hỏi, ông đơ đớ trả lời: “ Dưới… có mâm cơm… dọn… sẵn. Trên
là … một cái … lồng bàn,.. giở ra là… ăn. Các ông … ráng … tu!”
Nói chỉ bấy nhiêu rồi ông cúi đầu chào mọi người, đoạn vào
thiền! Đó là câu nói cuối cùng của ông cho đến khi ông nhắm mắt.
Từ đó người ta gọi hang nầy là Hang
Bác Vật Lang. (ngày nay vị trí nó vẫn còn nhiều tranh cãi) Và cũng từ câu
chuyện nầy mà trong dân gian có câu: “Đàn
kêu tích tịch tình tang/ Đố ai biết được trong hang có gì?/ Đàn kêu tích tịch
tì tì/ Đố ai biết được có gì trong
hang?”.
Đến huyền thoại.
Có thể nói Bác Vật Lang đã trở thành
huyền thoại với người dân Nam Bộ thời bấy giờ. Họ tôn sùng ông, ca ngợi ông,
tôn vinh ông là kẻ phi phàm, cho ông là người thấu đạt “thiên cơ”.
Chuyện ông gõ vào cầu Long Thạnh và
tiên đoán một tháng sau sẽ sập, là chuyện có thật. Nhưng để cho sự việc thêm
màu thần thánh, họ còn nói ông còn cho chính xác cả ngày, giờ cầu bị bị rơi
xuống nước!
Khi Sông Ba Lai càng ngày càng bị
nông và hẹp từ dòng chảy sông Tiền đến địa phận xã An Hóa và dần dần tại cửa
biển cũng bị nghẽn bởi phù sa, thì họ cũng nói đó là lời ông đã tiên đoán vào
năm nào đó, “người ta sẽ trồng bắp trên dòng Ba Lai”!
Họ còn “chế” thêm rằng, có một lần
về công tác một nơi bị hạn hán, người dân than không còn nước ngọt dự trữ để
uống (có lẽ ở vùng biển), ông bèn ra sau nhà, vừa đi vừa gõ ba-ton xuống đất.
Đến chỗ sau cùng, ông bảo chủ nhà đào lên; chủ nhà mới đào có … mấy cuốc (!),
thì từ lòng đất phụt lên một vòi nước ngọt lịm, “cả làng dùng không hết”!
Họ lại bảo, ông nói với người Pháp,
dưới cù lao Rồng (Mỹ tho) có một con rồng đang tu luyện, khi “thành đạo”, nó sẽ
“dậy” lên thì không những cồn Rồng, mà cà trấn Định Tường cũng thành biển nước.
Người Pháp vốn phục tài ông nhưng điều nầy họ không tin, nên dùng dàn khoan,
khoan sâu xuống. Đến khi đất cồn rung chuyển, cây cối chao nghiêng (có lẽ chạm
tời mình rồng!), họ cả sợ, bèn thu dàn khoan, và vội đem những người bệnh cùi
qua đó để yếm, cho rồng sợ sự ô uế mà mà không dám “dậy”! Nhờ thế mà cù lao
Rồng… còn tồn tại đến ngày nay (!)
Cũng vì thần thánh hóa ngài bác vật
đáng kính ấy, nên người ta không lạ gì vào thời điểm đó, trong những câu chuyện
liên quan đến tài năng, người dân nam bộ thường sử dụng cụm từ “làm như nó là
Bác Vật Lang vậy”!
Bác Vật Lang mất tại Sài gòn (có chỗ
nói tại Sa Đéc) vào ngày 3 tháng 6 năm 1969, thọ 89 tuổi. Ở quận 1, TP HCM có
con đường mang tên ông. Tại Sa Đéc cũng có trường học và con đường mang tên Lưu
Văn Lang../.
Đính kèm:
- Hình Bác Vật Lang
- Hình chiếc đồng hồ Thái Dương

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét