NHÂN VẬT QUAN CÔNG TRONG TAM
QUỐC DIỄN NGHĨA
Bài 2
(Vì lý do riêng, xin tạm kết thúc).
Thái Quốc Mưu
“Sau đó, khi Viên Thuật bị từ chối khi muốn vay một lượng lương thực lớn
từ thái thú Lư Giang là Lục Khang, bèn sai Tôn Sách tấn công Lư Giang. Viên Thuật
hứa sẽ cho Tôn Sách làm thái thú Lư Giang nếu ông thành công. Tuy nhiên, khi
Tôn Sách chiếm được Lư Giang thì Viên Thuật một lần nữa lại quên lời và giao
chức vụ này cho Lưu Huân và chỉ cho ông làm Hoài Nghĩa hiệu úy. Ấm ức trước
việc đó Tôn Sách đã có ý định rời bỏ Viên Thuật vì nhớ tới tư thù cũ đồng thời
ông này cũng là một kẻ không giữ lời hứa.
Trong khi đó, Lưu Do (劉繇) được quyền thần Lý Thôi nhân danh Hán Hiến Đế bổ nhiệm làm Thứ sử
Dương Châu (揚州), ngày nay là miền nam Giang Tô, miền nam An Huy, Giang
Tây, Chiết Giang và Phúc Kiến), đã chiếm Khúc A do nơi đóng bản doanh cũ là Thọ
Xuân (壽春), ngày nay là huyện Thọ, An Huy, đã bị Viên Thuật chiếm giữ. Ông này sau
đó đã buộc Ngô Cảnh phải lui về phía tây, dọc theo sông Dương Tử tới Lịch Dương
(历陽), ngày nay là huyện Hòa, An Huy. Tuy
nhiên, Viên Thuật cho rằng mình mới là thái thú hợp pháp và sai Ngô Cảnh cùng
anh họ của Tôn Sách là Tôn Bí (孫賁) tấn công Lưu Do. Hơn một năm, họ không thể phá vỡ sự phòng ngự của Lưu
Do. Tôn Sách bèn đề nghị Viên Thuật cho ông đem quân tới hỗ trợ họ.
Đánh bại Lưu Do
Mặc dù Viên Thuật biết rằng Tôn Sách có ý định ra đi, nhưng ông ta tin
rằng Tôn Sách không thể đánh bại Lưu Do. Vì thế ông ta đã đồng ý cho Tôn Sách
đem khoảng 1.000 bộ binh cùng một lực lượng nhỏ kỵ binh đi. Cùng với vài trăm
người tình nguyện theo mình, Tôn Sách tiến tới Lịch Dương, tại đây ông đã tăng
cường được sức mạnh của mình lên tới trên 5.000 quân nhờ thu được nhiều hào
kiệt vùng Giang Đông. Sau đó ông đã bắt đầu tấn công dọc theo sông Dương Tử và
chiếm đóng vị trí chiến lược Ngưu Chử (牛渚), ngày nay ở tây nam Mã An Sơn, An Huy, vào năm 195.
Hai đồng minh của Lưu Do sau đó từ Bành Thành và Hạ Bì kéo xuống phía
nam để giúp Lưu Do. Tôn Sách quyết định tấn công một trong hai đoàn quân này do
Trách Dung (笮融) chỉ huy, ông này đóng quân tại Mạt Lăng. Sau khi bị thất bại trong mấy
trận đầu, Trách Dung lui vào phòng ngự và từ chối giao đấu trên chiến trường.
Tôn Sách đưa quân lên phía bắc và tấn công Tiết Lễ (薛禮). Mặc dù Tiết Lễ nhanh chóng thua
trận và bỏ chạy, nhưng bộ hạ của Lưu Do là Phàn Năng (樊能) và những người khác đã tập hợp lực
lượng của mình và tấn công lại tại Ngưu Chử. Quay về, Tôn Sách đánh bại Phàn
Năng và giữ được Ngưu Chử. Sau đó ông lại tấn công Trách Dung. Tuy nhiên, ông
bị dính tên vào đùi. Quay về Ngưu Chử, ông cho loan tin giả là đã bị giết chết
trong trận đánh vừa qua. Trách Dung tin điều đó và đem quân tấn công. Tôn Sách
lừa cho quân của Trách Dung vào ổ mai phục và tiêu diệt đội quân này. Khi Trách
Dung biết rằng Tôn Sách còn sống thì ông ta lại càng tăng cường phòng ngự.
Tôn Sách sau đó tạm thời bỏ qua kế hoạch tấn công Trách Dung và tập
trung lực lượng vào Khúc A. Sau khi toàn bộ khu vực xung quanh lần lượt bị Tôn
Sách chiếm đóng thì Lưu Do đã bỏ thành và chạy về phía nam tới Dự Chương (豫章), ngày nay là Nam Xương, Giang Tây và
sau đó chết tại đây.
Chiếm Cối Kê và Đan Dương
Do Tôn Sách giữ vững kỷ luật trong quân đội của mình nên ông đã thu được
sự ủng hộ của người dân khu vực và thu được nhiều người có tài năng, như Trần
Vũ, Chu Thái, Tưởng Khâm, Trương Chiêu, Trương Hoành và Lã Phạm v.v… Sau đó ông
lấn sâu vào Dương Châu và chiếm Cối Kê (會稽), ngày nay là Thiệu Hưng, Chiết Giang, thái thú Hội Kê là
Vương Lãng (王郎) phải bỏ chạy. Tôn Sách lấy Cối Kê làm căn cứ của mình và đánh bại đội
quân thổ phỉ của Nghiêm Bạch Hổ (嚴白虎) ở Ngô Quận. Nghiêm Bạch Hổ sai em trai là Nghiêm Dư (嚴輿) tới giảng hòa với Tôn Sách và chia
đôi vùng Giang Đông, nhưng Tôn Sách không đồng ý và tự tay giết chết sứ giả. Do
Nghiêm Dư là chiến binh dũng mãnh nhất trong số những người của Nghiêm Bạch Hổ,
nên cái chết của ông này đã làm họ lo sợ và nhanh chóng bị đánh tan.
Chiến dịch của ông, từ khi chiếm Ngưu Chử cho đến khi chiếm toàn bộ khu
vực đông nam sông Dương Tử, chỉ mất chưa tới 1 năm. Sau đó ông đánh bại và nhận
được sự phục vụ của Tổ Lãng (祖朗), thái thú Đan Dương, và Thái Sử Từ (太史慈), thủ lĩnh đám tàn quân của Lưu Do. Ông sai Thái Sử Từ
đi thu thập hết tàn quân Lưu Do, quan tâm tới gia quyến Lưu Do và thăm dò Thái
thú Dự Chương là Hoa Hâm (華歆). Khi được biết Hoa Hâm không có ý định chống đối, Tôn Sách quay sang
mặt trận bình định người Sơn Việt.
Những người của bộ lạc Sơn Việt thì lại không dễ dàng như vậy. Để chống
lại những cuộc nổi dậy liên tục của người Sơn Việt trong nhiều năm sau đó, Tôn
Sách đã cho Hạ Tề (賀齊) làm chỉ huy một đội quân để chinh phục người Sơn Việt. Hạ Tề sau này
trở thành một viên tướng giành được thắng lợi lớn, trên thực tế, việc Tôn Sách
bổ nhiệm ông là bước đi đầu tiên rất quan trọng trong việc nhà nước Đông Ngô
chinh phục các bộ lạc Sơn Việt này. Ngoại trừ đội quân tuy rải rác nhưng còn
đông của Nghiêm Bạch Hổ ra thì vùng đất phía nam sông Dương Tử về cơ bản đã
được hòa bình.
Năm 197, Viên Thuật tự xưng làm hoàng đế, hiệu là Trọng Thị. Sau khi bị
Lã Bố đánh bại, Viên Thuật có gửi thư cho Tôn Sách để mượn quân. Trong thư gửi
trả lời Viên Thuật, Tôn Sách đã cự tuyệt và cắt đứt mọi ràng buộc với ông này.
Trong cố gắng nhằm tranh thủ sự ủng hộ của Tôn Sách, một lãnh chúa mới nổi là
Tào Tháo sau đó đã đề cử ông vào chức vụ Thảo nghịch tướng quân (討逆將軍) và tước phong là Ngô hầu (吳侯)[3].
Năm 199, Tôn Sách đang trên đường đem quân tấn công Hoàng Tổ tại Hạ Khẩu
(夏口), ngày nay là Hán Khẩu, Vũ Hán, Hồ Bắc, thì nhận được tin: Viên Thuật đã
chết, lực lượng phân hóa làm 2: Em họ là Viên Dận thì đem theo quan tài Viên
Thuật và quân đội họ Viên đến Hoãn Thành (皖城), ngày nay là huyện Tiềm Sơn, An Huy, nương tựa vào Thái
thú Lư Giang là Lưu Huân (劉勳) vốn được Viên Thuật phong; còn bộ tướng của Thuật là Trương Huân và
trưởng sử Dương Hoằng bỏ Thọ Xuân đến địa bàn của Tôn Sách định theo hàng,
nhưng Thái thú Lư Giang là Lưu Huân lại chặn đường họ giết chết để cướp của và
quân chúng.
Tôn Sách rất hận Lưu Huân về chức Thái thú Lư Giang khi Viên Thuật còn
sống, nhưng ngoài mặt vẫn đi lại, và đề nghị Lưu Huân đi Thượng Diên, đánh các
dòng họ đóng cửa địa bàn không thuần phục. Lưu Huân lúc đó cũng không đủ lượng
thực nuôi quân, bèn mang quân tới Hải Hôn (海昏), phía đông của huyện Vĩnh Tu, Cửu Giang, Giang Tây ngày
nay, và Thự Liêu. Tôn Sách bèn cùng Chu Du mang 2 vạn quân đánh tập kích vào
quận Lư Giang, chiếm được Hoãn Thành, tiếp quản toàn bộ số quân cũ của Viên
Thuật khoảng 30.000 người.
Tại Hoãn Thành, Tôn Sách và Chu Du gặp hai tiểu thư đẹp nổi tiếng con
của Kiều công và lấy làm vợ: Tôn Sách lấy Đại Kiều, Chu Du lấy Tiểu Kiều.
Nghe tin căn cứ bị mất, Lưu Huân chạy về phía tây và tìm kiếm sự hỗ trợ
của Hoàng Tổ. Hoàng Tổ gửi 5.000 thủy quân thiện chiến tới giúp Lưu Huân. Tôn
Sách đánh bại Lưu Huân khiến Huân phải chạy về phía bắc đầu hàng Tào Tháo. Tôn
Sách thu được trên 2.000 quân cùng 1.000 tàu thuyền của Lưu Huân rồi cùng Chu
Du tiến quân đánh Hoàng Tổ, bắt sống 2000 quân Lư Giang và 1000 chiếc thuyền.
Đuổi được Lưu Huân, Tôn Sách và Chu Du quay sang đánh Hoàng Tổ. Hai bên
đánh một trận lớn nữa ở gần Vũ Xương. Mặc dù đã được tăng cường thêm quân từ
phía Lưu Biểu, nhưng Hoàng Tổ vẫn bại trận.
Tôn Sách mang quân sang quận Dự Chương, sai Ngu Phiên vào thành dụ Hoa
Hâm. Hoa Hâm đầu hàng nộp thành. Tôn Sách rất kính trọng Hoa Hâm, đối đãi như
thượng khách.
Tôn Sách vào năm 199 đã chiếm được toàn bộ miền nam Trung Quốc. Dương
châu mà ông cai quản gồm có 5 quận: Lư Giang, Ngô Quận, Cối Kê, Đan Dương, Dự
Chương. Ông lấy một phần quận Dự Chương tách ra lập quận thứ 6 là quận Lư Lăng
(廬陵).
Do bị đe dọa ở phía bắc là Viên Thiệu nên chưa thể chia sẻ sự quan tâm
của mình, vì thế Tào Tháo cố gắng tăng cường liên minh với Tôn Sách bằng cách
gả cháu gái của mình cho em Tôn Sách là Tôn Khuông (孫匡). Đến lượt mình, Tôn Sách cũng đồng ý
gả con gái của Tôn Bôn (Phần) cho con trai của Tào Tháo là Tào Chương.
Thái thú cũ của Ngô Quận (吳郡),
phía nam của Tô Châu ngày nay, Giang Tô là Hứa Cống (許貢) đã từ lâu chống lại Tôn Sách. Hứa
Cống gửi mật thư về cho Hán Hiến Đế, khuyên vua nên triệu hồi Tôn Sách về kinh
do ông cảm nhận rằng Tôn Sách là một anh hùng có thể sánh với Hạng Vũ và là quá
nguy hiểm để cho phép Tôn Sách chiếm giữ lãnh thổ. Tuy nhiên, bức mật thư đã bị
các quan lại ưa Tôn Sách chặn lại, Tôn Sách mời Hứa Cống tới và giết chết.
Những người trung thành với Hứa Cống sau đó chờ đợi cơ hội trả thù.
Năm 200, Tào Tháo đánh trận quyết định với Viên Thiệu tại Quan Độ, dọc
theo bờ sông Hoàng Hà, để kinh đô và căn cứ của ông ta tại Hứa Xương vào tình
thế ít được bảo vệ. Người ta cho rằng Tôn Sách đã vạch ra kế hoạch tấn công Hứa
Xương dưới ngọn cờ giải cứu Hán Hiến Đế, khi đó đang bị Tào Tháo kiểm soát gắt
gao. Công việc chuẩn bị cho cuộc tấn công đang diễn ra thì Tôn Sách bị rơi vào
nơi phục kích của 3 bộ hạ cũ của Hứa Cống trong một cuộc đi săn đơn độc. Một
trong số ba người này đã kịp bắn một mũi tên trúng má Tôn Sách trước khi người
của Tôn Sách kịp đến và giết chết những kẻ ám sát. Về cái chết của Tôn Sách có
nhiều giả thiết khác nhau. Một giả thuyết được chấp nhận nhiều nhất là ông ta
chết ngay trong đêm đó.
Một giả thuyết khác cho rằng Tôn Sách còn sống thêm được một thời gian
nữa. Các thầy thuốc nói với Tôn Sách là ông cần phải nghỉ ngơi đúng 100 ngày để
vết thương được bình phục, nhưng một hôm Tôn Sách nhìn vào trong gương và khi
nhìn thấy vết sẹo đã điên tiết lên và đập vỡ bàn. Chuyển động mạnh đã làm vết
thương vỡ ra và ông chết trong đêm đó. Mặc dù khi đó có một con trai chưa sinh
ra, nhưng Tôn Sách đã truyền lại di sản cho em trai là Tôn Quyền. Năm 222, khi
Tôn Quyền tự xưng làm hoàng đế đầu tiên của Đông Ngô, ông đã phong Tôn Sách làm
Trường Sa Hoàn Vương (長沙桓王).
Dòng dõi Tôn Sách được kế tiếp bằng con trai sinh ra sau khi cha mất là
Tôn Thiệu (孫紹), cũng như ít nhất là hai (có thể là ba) con gái, một người lấy Chu Kỷ
(朱紀), người kia lấy
Cố Thiệu (顧卲) và sau đó là Lục Tốn (陆逊).
Tôn Thiệu sinh được một con trai là Tôn Phụng (孫奉), sau này bị Tôn Hạo tử hình với tội danh được gán cho là phản bội do
ông này rất nổi tiếng” (ngưng
trích).
***
Tôn Sách vốn là một người uy vũ vẹn
toàn, được người đương thời phong là, “Tiểu Bá Vương”, để sánh vai cùng Tây Sở
Bá Vương Hạng Vũ. Nhờ đó, việc chiêu tập quân binh nhanh chóng, sớm trở thành
đội quân hùng mạnh, đánh đâu thắng đó, chiếm cứ vùng Giang Đông và trở thành
một viên tướng kỳ tài, là một lãnh chúa trong thời cuối nhà Đông Hán.
Một lần đi săn ở Đân Đô, đuổi theo một
con hươu đến khu rừng già, gặp ba người mang cung tên thương giáo chận đàng.
Một trong 3 người đó bắt trúng vào mặt Tôn Sách. Do vết thương nặng. Tôn Sách
đến Cối Kê điều trị và chết ở đó.
Trước khi chết, vì con còn nhỏ, Tôn Sách quyết định giao
quyền lực lại cho em là Tôn Quyền (孫權).
Tôn Quyền, tự Trọng Mưu (仲謀), sinh ngày 5 tháng 7 năm 182 (đến
21 tháng 5 252), tại Phú Xuân, Ngô Quận. Lên nối nghiệp, Tôn Quyền từ bỏ vai
trò Lãnh Chúa của cha, anh. Ông tổ chức hành chánh, đặt quan cai trị, thiết lập
triều đình tự xưng là Ngô
Đại Đế (吴大帝). Hậu duệ của Tôn Quyền gọi ông bằng Ngô Thái Tổ (吴太祖). Ở Đông Ngô, Tôn Quyền trở thành thủy tổ của thể chế
quân chủ đầu tiên ở nước nầy.
Qua
gia phả của Tôn Quyền, cha từng làm Thái Thú, anh từng làm lãnh chúa, đánh đâu
thắng đó, bản thân Tôn Quyền ngang hàng với Lưu Bị, vậy mà khi cầu hôn cho con,
Quan công dám lộng ngôn miệt thị: “Hổ nữ sao có thể gả cho khuyển tử”. Vậy thì, anh chàng gánh tào phụ đi bán dạo, giết người (dù là giết tên du côn) trở thành tên
tội phạm, trên đường bôn ba đào tẩu, dịp may được kết bạn và làm tôi thần cho
Lưu Bị. Hắn vừa bất tài vừa không có kiến thức, lại tự cao, tự đại, kiêu căng,
ngạo mạn… thì chúng ta nên xếp hạng người như anh ta thuộc loại gì đây?
Theo “Ngô thư -
Lục Tốn truyện": “Khi Mi Phương
và Phó Sĩ Nhân cùng Quan công trấn giữ Kinh Châu. Hai người nầy luôn bị Quan
công khinh thường. Một lần xuất chinh, Mi Phương với Phó Sĩ Nhân sơ suất trong
quân nhu, Quan công đe dọa khi trở về sẽ trị tội. Hai tướng ngày đêm lo sợ,
nhân dịp đó Tôn Quyền chiêu dụ, hai tướng Mi Phương, Phó Sĩ Nhân liền quy hàng
Ngô. Giúp Tôn Quyền chiếm Kinh Châu không mất một giọt máu.”
Điều mà La Quán Trung cố tạo ra hình ảnh một Quan công
“Thập Toàn, Thập Mỹ” chỉ là một hình ảnh không bào giờ có. Nhưng nó giúp cho
nhân gian dựng nên một thần tượng và thánh hóa Quan công trở thành Võ Thánh
Quan Vân Trường - Một danh dự cho một kẻ
mà ngày nay chúng ta không tìm ra một điều để có thể trọng vọng ông ta.
Ở đây,
người viết xin hỏi: Một kẻ bại trận khom mình đầu giặc một cách hèn hạ, phản
chủ, phản bạn như Quan công có xứng đáng để hậu thế tôn thờ hay không? Thế mà,
không thiếu những kẻ trong giống nòi Việt tôn thờ tên giặc Hán ấy.
Đau làm sao!
***
Lật trang sử cũ, tổ
tiên ta từng có rất nhiều đại anh hùng dân tộc như Lê Thánh Tôn, Trần Nhân Tôn,
Lê Lợi, Quang Trung, Ngô Quyền, Lê Đại Hành, Đinh Tiên Hoàng, Trần Hưng Đạo,
Trần Bình Trọng, Nguyễn Biểu, Nguyễn Trãi, … và vô số anh hùng vô danh khác.
Thế mà, chỉ vì đầu óc vọng ngoại, nên
không ít kẻ trong chúng ta bị giặc xăm lược đầu độc, để rồi chẳng biết gì về
anh hùng dân tộc đất nước mình, từng chống ngoại xăm, giữ gìn đất nước quê
hương. Cho nên, ngày nay, tuổi trẻ ở trong ngoài nước, dường như chẳng biết gì
về lịch sử tiền nhân của dân tộc ta.
Không cần phải là những đại anh hùng dân tộc như những vị
anh hùng nêu trên. Chỉ cần đem tiểu
tướng Lê Lai ra so sánh, ai cũng có thể nhìn nhận ra rằng Lê Lai vượt xa Quan
công về tinh thần yêu nước và tinh thần hy sinh của người chiến sĩ vì quốc gia
đại sự.
Ai trong chúng ta cũng biết, khi Đức Bình Định Vương Lê
Lợi bị giặc Minh vây hãm ở Chí Linh, trong tình thế nguy ngập. Khi ấy, chắc
chắn Lê Lai hiểu được rằng, nếu mình mặc
long bào giả vua để gạt giặc thù đang bao vây nghiêm ngặt thì không thể nào
thoát chết. Thế mà, người chiến sĩ của dân tộc Việt vẫn hiên ngang cáo lỗi cùng
trời đất, xin Đức Vua cho mặc hoàng bào xông ra trận đề nhận cái chết hầu cứu
Vua.
Còn Quan công?
Hắn từng hưởng lộc Lưu Bị, vậy mà trong lúc Lư Bị gặp cơn
hiểm nghèo, vợ con bị quân Ngụy bắt hết, hắn chẳng nghĩ ra điều gì để có thể
giúp Lưu Bị. Ngược lại, do bàn tính thấp hèn, tham sống, sợ chết vội vàng hàng
Tào Tháo, để an thân.
Và, nếu chỉ viết bài nầy với mục đích chỉ để nói lên
những sai lầm của Quan công, thì tôi – Thái Quốc Mưu, có thể tiếp tục viết,
vạch ra vô vàn những sai lầm khác của hắn ta. Ngặt, vì hoàn cảnh đặc biệt*, cho
nên chỉ đơn cử một vài trong vô số yếu kém, sai lầm đã nêu ra ở Bài 1. Coi như
tạm đủ để nói lên mục đích của người viết.
Mục
đích của tôi, viết, vạch ra những yếu kém của Quan công không phải nhằm để “tố
khổ” ông ta. Mà, để cảnh tỉnh những người cùng mang dòng máu dân tộc Việt Nam
hãy tỉnh ngộ, hãy xóa bỏ đầu óc vọng ngoại,… để hướng về những anh hùng dân tộc
của non sông đất nước mình.
Những ai đã từng đặt bàn,
thờ Quan công, nên xét lại việc làm của mình đúng hay sai?
***
Còn chuyện ngày nay,
Ở đây
người viết, xin thưa, tôi đã 77 tuổi rồi, cái tuổi mà mọi tham vọng không còn
nữa. Cho nên tôi xin đặt hai thể chế chính trị Việt Nam Cộng Hòa và Nước Cộng
Hòa Xã Hội Xã Hội Chủ Nghĩa ra ngoài bài viết. Tôi chỉ đưa ra cái ý chí, cái tinh thần dũng cảm và cái khí tiết giàu
anh hùng tính của những con người xứng đáng là con dân nước Việt của cả hai thể
chế chánh trị.
Tôi muốn nói về các trận hải chiến Hoàng Sa, Trường Sa.
* Phía Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa:
- Ngoài Nguỵ Văn Thà, Trung Tá Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa, Hạm trưởng HQ- 10, còn có 74 binh sỹ khác tử thương, trong đó riêng
HQ-10 có 63 chiến sĩ hy sinh bao gồm: Hạm trưởng Ngụy Văn Thà / HQ-4 có 3 người
chiến sĩ hy sinh / HQ-5 có 3 chiến sĩ tử vong và 16 chiến sĩ bị thương / HQ-16
có 2 chiến sĩ tử vong / Và, lực lượng người nhái có 4 chiến sĩ hy sinh.
Nguồn tin bán chánh thức cho biết, không kể những chiến
sĩ bị giặc Tàu bắt làm tù binh thì, tất cả 75 chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa đều chiến đấu anh dũng và hy sinh trước hỏa lực mạnh hơn gấp vài chục lần
của Hải Quân ta.
Cũng theo nguồn tin trên, khi lặn vào bờ, Thượng sĩ Người
Nhái Ðinh Hữu Từ, bị giặc Tàu phát hiện, chúng bắn anh trọng thương và kêu gọi
đầu hàng, người chiến sĩ Người Nhái dũng cảm gật đầu giả vờ chấp nhận rồi kín
đáo ém trái lựu đạn đã mở chốt an toàn đặt dưới lưng, giặc kéo đến… bất nhờ
Thượng sĩ Đinh Hữu Từ lăn vội người qua một bên cho quả lựu đạn được cài dưới
lưng anh phát nổ. Thân xác và máu anh hòa củng xác và máu ba bốn tên giặc Tàu
làm phân bón quê hương!
* Dưới đây là danh
sách cách chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã dũng cảm chiến đấu và hy
sinh trong trận chiến với giặc Tàu, tại hải đảo Hoàng Sa. (trích
từ báo Thanh Niên trong nước)
1. Trung sĩ Cơ khí Trần Văn Ba, HQ-10 / 2. Hạ sĩ Cơ khí
Phạm Văn Ba, HQ-10 / 3. Hải quân đại úy Vũ Văn Bang, HQ-10 / 4. Hạ sĩ Cơ khí
Trần Văn Bảy, HQ-10 / 5. Thượng sĩ nhất quản nội trưởng Trọng pháo …. Châu,
HQ-10 / 6. Trung sĩ nhất Vô tuyến Phan Tiến Chung, HQ-10 / 7. Hạ sĩ Giám lộ
Nguyễn Xuân Cường, HQ-10 / 8. Hạ sĩ Điện khí Trần Văn Cường, HQ-10 / 9. Trung
sĩ Bí thư Trần Văn Đảm, HQ-10 /10. Hạ sĩ nhất Vận chuyển Nguyễn Thành Danh, HQ-4
/ 11. Hạ sĩ Vận chuyển Trương Hồng Đào, HQ-10 / 12. Hạ sĩ nhất đoàn viên, Trần
Văn Định, HQ-10 / 13. Trung úy Người nhái Lê Văn Đơn, Người nhái / 14 / Hạ sĩ
Cơ khí Nguyễn Văn Đông, HQ-10 / 15. Hải quân Trung úy, Phạm Văn Đông, HQ-10 /
16. Hải quân trung úy Nguyễn Văn Đồng, HQ-5 / 17. Trung sĩ Trọng pháo… Đức,
HQ-10 / 18 / Thủy thủ nhất Trọng pháo, Nguyễn Văn Đức, HQ-10 / 19. Trung sĩ
Thám xuất, Lê Anh Dũng. HQ-10 / 20. Hạ sĩ Quản kho. Nguyễn Văn Duyên, HQ-16 /
21. Thượng sĩ Ðiện tử (truy phong chuẩn úy) Nguyễn Phú Hảo, HQ-5 / 22. Hạ sĩ
Ðiện khí Nguyễn Ngọc Hòa, HQ-10 / 23. Hạ sĩ Giám lộ Nguyễn Văn Hoàng (nhỏ tuổi
nhất), HQ-10 / 24. Hải quân trung úy Cơ khí Vũ Ðình Huân, HQ-10 / 25. Hạ sĩ
Trọng pháo Phan Văn Hùng, HQ-10 / 26. Thượng sĩ nhất Ðiện khí Võ Thế Kiệt,
HQ-10 / 27. Thượng sĩ Vận chuyển Hoàng Ngọc Lễ (cao tuổi nhất), HQ-10. 28. Thủy
thủ nhất Thám xuất Phạm Văn Lèo, HQ-10 / 29. Thượng sĩ nhất Cơ khí Phan Tấn
Liêng, HQ-10 / 30. Hạ sĩ Trọng pháo Nguyễn Văn Lợi, HQ-10 / 31. Thủy thủ nhất
Cơ khí Dương Văn Lợi, HQ-10 / 32. Hạ sĩ Người nhái Ðỗ Văn Long, Người nhái /
33. Trung sĩ Ðiện khí Lai Viết Luận, HQ-10 / 34. Hạ sĩ nhất Cơ khí Ðinh Hoàng
Mai, HQ-10. 35. Hạ sĩ nhất Trọng pháo Nguyễn Quang Mến, HQ-10 / 36. Hạ sĩ nhất
Cơ khí, Trần Văn Mộng, HQ-10 / 37. Trung sĩ Trọng pháo… Nam, HQ-10 / 38. Thủy
thủ nhất Trọng pháo Nguyễn Văn Nghĩa, HQ-10 / 39. Trung sĩ Giám lộ Ngô Văn Ơn,
HQ-10 / 40. Hạ sĩ Phòng tai Nguyễn Văn Phương, HQ-10 / 41 / Thủy thủ nhất Phòng
tai Nguyễn Hữu Phương, HQ-10 / 42 Thượng sĩ nhất Trọng pháo Nguyễn Ðình Quang,
HQ-5 / 43. Thủy thủ nhất Trọng pháo Lý Phùng Quy, HQ-10 / 44. Trung sĩ Cơ khí
Phạm Văn Quý, HQ-10 / 45. Trung sĩ Trọng pháo Huỳnh Kim Sang, HQ-10 / 46. Hạ sĩ
nhất Vận chuyển Ngô Sáu, HQ-10 / 47. Trung sĩ Cơ khí Nguyễn Tấn Sĩ, HQ-10 / 48.
Thủy thủ Trọng pháo Thi Văn Sinh, HQ-10 / 49. Trung sĩ Vận chuyển Ngô Tấn Sơn,
HQ-10 / 50. Hạ sĩ nhất Vận chuyển Lê Văn Tây, HQ-10 / 51. Hải quân Thiếu tá -
Hạm trưởng (truy phong Trung Tá) Ngụy Văn Thà, HQ-10 / 52. Hải quân đại úy Hàng
hải-Thương thuyền Huỳnh Duy Thạch, HQ-10 / 53. Hạ sĩ Trọng pháo Nguyễn Văn
Thân, HQ-10 / 54. Thủy thủ Điện tử … Thanh, HQ-10 / 55
Hải quân trung úy Ngô Chí Thành, HQ-10 / 56. Hạ sĩ Phòng
tai Trần Văn Thêm, HQ-10 / 57. Hạ sĩ Phòng tai Phan Văn Thép, HQ-10 / 58. Hạ sĩ
nhất Vận chuyển Lương Thanh Thú, HQ-10 / 59. Thượng sĩ Điện tử … Thọ, HQ-10 /
60. Thủy thủ nhất Vô tuyến Phạm Văn Thu, HQ-10 / 61. Thủy thủ nhất Điện tử Ðinh
Văn Thục, HQ-10 / 62. Trung sĩ Giám lộ Vương Thương, HQ-10 / 63. Thủy thủ (?)
Người nhái Nguyễn Văn Tiến, Người nhái / 64. Hải quân thiếu tá – Hạm phó Nguyễn
Thành Trí, HQ-10 / 65.Trung sĩ Trọng pháo Nguyễn Thành Trọng, HQ-10 / 66. Hạ sĩ
Vận chuyển Huỳnh Công Trứ, HQ-10 / 67. Thượng sĩ Người nhái Ðinh Hữu Từ, Người
nhái / 68. Trung sĩ Quản kho Nguyễn Văn Tuân, HQ-10 / 69. Thủy thủ nhất Cơ khí
Châu Túy Tuấn, HQ-10 / 70. Biệt hải Nguyễn Văn Vượng, HQ-4 / 71. Hải quân trung
úy Nguyễn Phúc Xá, HQ-10 / 72. Trung sĩ Trọng pháo Nguyễn Vĩnh Xuân, HQ-10 /
73. Trung sĩ Ðiện tử Nguyễn Quang Xuân, HQ-10 / 74. Trung sĩ Điện khí … Xuân,
HQ-16.
* Và, sau đây là danh
sách một vài, trong 64 chiến sĩ trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam đã dũng cảm
chiến đấu kiên cường và đã hy sinh trong trận chiến chống giặc Tàu, xăm lược
hải đảo Gạc Ma, Trường Sa:
- Thiếu úy Trần văn Phương (có báo viết Trần Đình
Phương), sinh 1965 - Quảng Bình, Sĩ Quan Quân Đội Nhân Dân Việt Nam / Trung Tá
Trần Đức Thông, sinh 1944, Thái Bình, Phó lữ đoàn trưởng 146 / Đại úy Vũ Phi
Trừ, sinh 1957 - Thanh Hóa, thuyền trưởng HQ-604 / Thiếu tá Vũ Huy Lễ sinh 1946
- Thái Bình, thuyền trưởng HQ-505 / Nguyễn Văn Lanh, sinh 1966 - Quảng Bình,
chiến sỹ công binh E83 và khoảng 60 chiến sĩ Hải Quân tử trận.
Trong trận chiến ở Gạc
Ma, Trường Sa đất nước ta đã mất tất cả 64 người con yêu của Tổ Quốc. Họ, hạ
quyết tâm thà chết chứ không đầu hàng giặc thù xâm lược. Họ thật sự là những
anh hùng của dân tộc Việt, xứng đáng là con cháu của vua Trần Nhân Tôn, thà
chết chứ không để một tấc đất của tổ tiên ta lọt vào tay giặc thù phương Bắc.
Đặc biệt, khi chết, người chiến binh kiêu hùng Thiếu úy
Trần Văn Phương (Trần Đình Phương) vẫn giữ khí tiết oai hùng của người chiến
binh Việt Nam. Sau khi bị địch bắn trọng thương, anh vần đứng giữ vững và
giương cao ngọn Cờ Đỏ Sao Vàng sừng sững tung bay, khiến địch quân phải rụng
rời, khiếp vía bỏ chạy. Cuối cùng anh từ từ quỵ xuống!
Trong trận Gạc Ma, Trần văn Phương chỉ là một sĩ quan cấp
úy, trên anh, còn nhiều sĩ quan khác, như Trung tá Trần Đức Thông, sinh 1944 -
Thái Bình,… rất xứng đáng nhận danh hiệu anh hùng và đã được chánh quyền Nước
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tuyên dương tinh thần dũng cảm ấy.
Ngoài Trung Tá Trần Đức Thông và Thiếu Úy Trần Văn Phương
(Trần Đình Phương), còn có trên 60 chiến binh trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
bị tử vong. Đáng tiếc, người viết không tìm ra danh sách tên tuổi của những
chiến binh oai hùng đó. Thật đáng buồn!
Người viết - Thái Quốc Mưu, thành thật xin
lỗi tất cả các gia đình của những anh hùng mà tôi tạm thời xin được gọi là
“những anh hùng vô danh trong trận chiến chống giặc Tàu trên hải đảo Gạc Ma,
Trường Sa”.
- Tôi thành kính nguyện
cầu hồn thiêng sông núi đưa anh linh cách chiến sĩ đã hy sinh trong trận chiến
Gạc Ma và các chiến sĩ đã chiến đấu dũng cảm bảo vệ hải đảo Hoàng Sa sớm được
về nơi an nghĩ vĩnh hằng.
- Tôi thành tâm nguyện
cầu anh linh tất cả các anh sớm gặp nhau nơi góc trời Nam, để cùng nắm tay nhau
phù hộ chúng tôi, những người còn sống luôn giữ vững tinh thần chiến đấu dũng
cảm với kẻ thù phương Bắc, để đem an bình lại cho non sông đất nước và dân tộc
chúng ta!
- Tôi thanh tâm cầu
nguyện cho dân tộc, cho đất nước chúng ta, thoát khỏi hiểm họa chiến tranh. Để dân
tộc ta luôn được sống trong an bình hoan lạc.
Để tạm kết thúc bài nầy, tôi xin kính gởi đến tất cả
những ai là con dân Đất Việt một dòng tâm huyết: Non Sông Tổ Quốc Cao Hơn Hết, Hãy Đặt Lên Trên Mọi Vấn Đề.
Mong thay!
Thái Quốc Mưu
(Atlanta, Georgia, USA)
Mar. 10, 2016
___________
* Ghi
chú: Hiền nội tác giả đã
78 tuổi, mà từ tháng 9/2015 – 12/2015 phải phẫu thuật 4 lần, Vì vậy tác giả
phải chăm sóc nên không có thời gian viết nhiều. Kính mong quý độc giả cảm
thông – TQMưu.
________________
Tài liệu tham khảo:
- Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung
- Tam Quốc Chí - Chính Sử và Thục Chí của Trần Thọ.
- Tư liệu từ học giả Phương Thi Minh, Trung Quốc.
- Tướng soái cổ đại Trung Hoa
- Vũ Kinh Tổng Yếu
- Bách Khoa Tự Điển Toàn Thư
- Khang Hy từ thư
- Hán Việt từ điển của Thiều Chửu
- Trí Thức Trẻ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét