PHỐ NÚI, NHỮNG NGÀY MƯA
Truyện ngắn
MANG
VIÊN LONG
Tùng được dịp ghé Phố Núi lần đầu vào mùa hè năm 1963 để thăm người
chị vừa có chồng, lặn lội theo chồng lên núi. Từ ngày chị có chồng, xa nhà đã
hai năm – không có ai lên đó thăm chị cả! Chị ra di, vẫn nghĩ là ra đi biền
biệt. Tùng cũng mơ hồ cảm nhận được điều đó khi nhìn chị khóc nức nở, nghẹn
ngào.
Chị gặp anh – là sự một tình cờ, chưa hề biết mặt nhau lần nào trước đó.
Và người anh của Tùng đã coi chuyện gả chị có chồng là đỡ đi một gánh nặng, thì
còn muốn đeo bám theo cái gánh nặng ấy làm gì nữa? Chỉ còn có Tùng – người em
út, là không bao giờ quên được người chị tình nghĩa mà anh xem như một “người
mẹ nhỏ“ đã thương yêu, chia sẻ, chăm sóc anh từ thuở vừa lên tám tuổi…
Buổi chiều thi xong phần vấn đáp hai môn
Anh – Pháp ban C tú tài toàn phần, Tùng biết chắc mình đã đỗ, nên viết thư ngay
cho chị để báo tin vui. Một người dưới quê chuyên buôn bán trái cây ở miệt
Pleiku - Kontum đã mang phong thư chỉ vỏn vẹn mấy câu của chị đến cho Tùng: “Chị mừng lắm, em ơi! Gởi em tiền xe, mau lên
chơi với chị vài hôn. Em nhé?“. Nét chữ nguệch ngoạch của chị khiến Tùng
thương chị vô hạn. Chị đã phải nghỉ học từ năm lớp ba, để cúi xuống bên những
công việc của một người đàn bà, hay của một người giúp việc nghèo khó, dầu đang
sống trong chính ngôi nhà của cha mẹ mình, của anh ruột mình. Được thụ hưởng
phần lớn gia sản của cha mẹ để lại – nhưng người anh cả đã không làm được chút
gì cho hai em như lời di chúc của cha mẹ để lại khi ra đi, ngoài chuyện tóm
thâu nhà cửa và ruộng vườn.
Năm ấy, Phố Núi đang vào mùa mưa. Tùng
chỉ được vài lần trùm áo mưa, đạp xe lòng vòng xuống phố, chui vào một quán
café dọc đường nào đó, ngồi nhìn mưa giăng ngợp trời, rồi trở về. Phố nhỏ . Nhà
cửa rải rác, sơ sài ngoài mấy dãy phố chính ở trung tâm rạp hát Diệp Kính là
còn có sinh khí, rộn ràng đôi chút, giữa cảnh núi đồi cao nguyên thầm lặng u
trầm. Phố mưa buồn. Lòng Tùng cũng ngút buồn như phố. Trước ngày trở về, người
anh rể đã mượn được chiếc Gobel chở Tùng vào thăm chơi ở miệt xưởng trà Bầu Cạn
– một địa chỉ theo yêu cầu của Tùng. Chính tại nhà máy chế biến trà này người
thông dịch là cha anh, đã gặp cô gái miền xuôi lên xin làm việc ở xưởng trà là
mẹ anh – họ đã gặp nhau, và thương yêu. Tùng muốn được nhìn lại cái quang cảnh
ngày xưa ấy, cho dầu, tất cả đã dần dà đổi thay. Nhưng trước mắt anh, núi vẫn
còn. Những cánh rừng bạt ngàn vẫn còn. Nhất là con đường gập ghềnh, lầy lội từ
thị xã dẫn vào Bàu Cạn vẫn còn. Như vẫn còn hằn in dấu chân đi về của cha mẹ
anh thời vừa tròn hai mươi tuổi.
Ngày từ giã chị trở về xuôi để chuẩn
bị thi vào đại học, Tùng chỉ nhớ hai hình ảnh mà cho đến mãi sau này không bao
giờ phai nhạt trong trí nhớ anh: Ngôi
nhà tạm bợ của chị như nhỏ sụp xuống trong những cơn mưa đen kịt đêm ngày bên
góc đồi vắng, và gương mặt chị bao giờ cũng lạnh lẽo, trơ vơ như những cánh
rừng u tối phía sau nhà.
Năm 65, Tùng lại được lên Phố Núi lần 2:
Sau những ngày tưng bừng của tháng 11 năm 63, các năm tiếp đó là những tháng
ngày biến động liên tục. Chính trường xao động. Các đảng phái, bè nhóm lại nổi
lên khiến Saigon và những thành phố lớn chộn
rộn với nhiều tin tức đảo chánh, thay thế, chuyễn đổi quyền lực. Đã có một vài
tờ báo đưa tin về những cuộc âm mưu đảo chánh của các nhóm quân nhân và đảng
phái bị phá vỡ. Sau cùng, là một vài cuộc biểu tình, xuống đường lẻ tẻ ở Saigon
và Huế để ủng hộ hay đả đảo, đã làm cho không khí càng thêm ngột ngạt Tùng và
ba người bạn cùng khóa ở trường sư phạm Qui Nhơn đang lẩn quẩn trong cái thị xã
như vừa được hâm nóng vì những tin dồn, khi trường bị tạm thời cho sinh viên
nghỉ học, thì Tâm từ Pleiku bất ngờ ào xuống Qui Nhơn thăm Yến. Yến là bạn gái
của Nguyên và Quế ở văn khoa Huế đã cùng rủ nhau thi vào trường sư phạm, là
người yêu của Tâm – cũng là một người ban thân thiết của nhau thời trung học đang
bị động viên, đang đồn trú ở vùng núi rừng Pleiku.
Buổi sáng ở quán café Tùng – Tâm đề
nghị :
-
Tao “dù“ về thăm, không ở
nán lại lâu được. nhân lúc trường còn nghỉ, cả bọn lên Phố Núi chơi với tao vài
hôm còn thú vị hơn nhé?
Ngay
trưa hôm đó, bọn Tùng cùng lên xe đò với Tâm đi Pleiku. Bốn giờ chiều xe đã tấp
vào bến. Ngày hôm sau Tâm phải về đơn vị, cả bọn đội mưa đến thăm gia đình
người chị của Tùng, rồi đi lông bông các ngã phố chợ cho hết buổi chờ Tâm mượn
xe jeep về để đi Kontum chơi. Đang nhởn nhơ giữa đường, cả bọn bị chiếc xe jeep
màu xanh – trắng ép sát, dừng lại, kiểm tra giấy tờ. Dù đã có đủ mọi thứ giấy hộ
mệnh, bọn Tùng cũng “bị mời“ về đồn cảnh sát thị xã. Sau khi xét hỏi lý do
chuyến đi Pleiku riêng lẻ từng người – vị cảnh sát trưởng ra lệnh : “Chúng tôi
buộc phải “trục xuất “ các anh chị về lại Qui Nhơn ngay trưa hôm nay, nếu các
anh chị không muốn ở lại trong nhà tạm giam!”
Lần thứ 3 Tùng lên Phố Núi cách xa
lần bị đẩy lên xe quay về lại Qui Nhơn đến 24 năm. Năm ấy, Tùng ra đi như một sự trốn chạy: Vừa
nhận được giấy mời của Tòa án phải có mặt vào sáng hôm sau, thì ngay chiều ấy
Tùng đã vội vàng gom ít áo quần ra đường đón xe. Anh chỉ kịp nói với Thúy – vợ
anh, một câu: “Tôi không thể có mặt ở nơi
ô nhục đó! Không bao giờ!“.
Đến Phố Núi, cũng là lúc cơn mưa
đổ ập xuống thị xã mù trời. Phố xá buồn hiu. Mưa. Tất cả như co ro, thu nhỏ,
nhạt nhòa trong màn mưa dày. Không có gì phải vội, Tùng chui vào một quán nhỏ
nằm cạnh góc bến xe, gọi ly café đen, nhâm nhi, phì phà khói thuốc như kẻ nhàn
du lửng lơ bên lề đời sống. Nguyên đã không còn ở Phố Núi sau hơn 10 năm làm
hiệu trưởng trường nam tiểu học ở đây mà chạy về Núi Thành. Tâm cũng đã chết
trước ngày Yến ra trường vài tháng rồi.
Còn Quế thì đang ở cách xa anh ngàn dặm tận bên kia bờ đại dương. Chỉ
còn lại người chị khốn khó và ba đứa con mồ côi nơi phố núi trập trùng đồi dốc
này thôi…
Năm ngoái, Quế về nước – ghé lại thămTùng đột ngột như lần anh ra đi
cách nay gần 30 năm. Quế đã bỏ ra tám năm đi học, tốt nghiệp đại học ngành viễn
thông thông tin, hiện đang làm việc cho hãng thông tấn truyền hình MEIS. Sau
một ngày ở lại chơi bên Tùng, Quế đề nghị Tùng cùng đi Phố Núi để thăm lại
những người bạn cũ của Tâm và Nguyên. Thật ra, Tùng dư biết Quế vẫn còn yêu Phố
Núi với bóng hình lãng đãng của Đoan ngày nào mà anh đã có lần bảo rằng, Trung
- người bạn đồng hương lớn hơn anh hai tuổi, đã viết nên bốn đoạn thơ hào sảng
và trữ tình, rồi chép tay gởi tặng anh một bản như nói hộ anh bao nỗi niềm
thương nhớ và biết ơn mà anh chưa kịp nói hết được với Phố Núi và Đoan. Quế vẫn
thường nghêu ngao bài hát được Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ ấy khi được thu vào
băng dĩa, trình diễn lần đầu, như một tình khúc của đời mình: “ …xin cám ơn thành phố có em, xin cám ơn
một mái tóc mềm. mai xa lắc bên đồi
biên giới, còn một chút gì để nhớ để thương…” – quả là Phạm Duy đã chắp cánh cho hồn thơ bay
xa, vang xa đến tận bây giờ cho dù Trung đã không bao giờ có dịp trở lại thăm
Phố Núi thêm lần nào nữa kể từ năm 81…
Xe Nguyệt Linh vào bến đúng 11 giờ,
trời đang hửng nắng. Mây lãng đãng trên Phố Núi, có vùng mây sà thấp xuống, nhưng
không có dấu hiệu cho một cơn mưa lớn. Tùng mở máy gọi taxi. Chưa hút hết điếu thuốc, xe đã chạy đến
ngay điểm hẹn phía trước khách sạn Hoàng Anh. Xe vòng lên phố Hoàng Diệu. Quế
vỗ vào vai Tùng: “Không biết nàng có còn ở nơi căn nhà cũ không?“ – “Cậu biết
được nhà cũ, thì dần dần sẽ tìm ra nhà mới thôi mà!“ – Tùng liếc nhìn những dãy
phố mới như đang vươn mình dưới ánh nắng hiếm hoi tươi tắn, những ngôi nhà
nhiều tầng lộng lẫy như sơn nữ đỏm dáng, những công trình đang thi công ngổn ngang
sắt đá, nghĩ, Phố Núi đã đổi thay ngờm ngợp so với lần đến thứ ba của anh vào
năm 89. Cười thầm: “Núi rừng thay đổi đến
vậy, con người làm sao mà không thay đổi được đây?“.
Cô bé chủ gian hàng bán đồ gỗ mỹ
nghệ phía trước mời Tùng và Quế đi vào nhà sau – cô Đoan đang ở đó. Quế có vẻ
tin tưởng, một chút xao xuyến trên nét mặt như rung động, nắm tay Tùng kéo
đi. Quế vừa đẩy cánh cửa kính bước vào
phòng khách thì Đoan đã từ phòng riêng kế bên bước ra.
-
Hình như… là anh Quế phải không? – Đoan thốt lên.
Không trả lời nàng – Quế ngắm nhìn
Đoan giây lâu, cười:
-
Em vẫn không có gì khác…Đoan ạ!
-
Em khác xưa lắm chứ? Già và khổ lắm rồi, mà anh? - Đoan vừa cười,
vừa liếc nhìn Tùng. Đã hơn ba mươi năm rồi còn gì? Phố Núi có biết bao đổi
thay…
Đoan đon đả mời cả hai ngồi vào bàn,
vội bước ra sau pha trà. Quế có dịp nhìn kỹ gian phòng, anh để ý chiếc bàn thờ
đặt sát vách tường giữa nhà với hai tấm ảnh. Quế bước lại, nhìn. Anh nhận ra cả
cha và mẹ Đoan đều đã qua đời. Người cha
trí thức,và rất nghệ sĩ ấy đã nhiều lần cùng anh trò chuyện về nhân tình thế
sự, nay đã yên lặng, đang mở to đôi mắt như nhìn anh: Nhân tình vẫn bạc bẽo.
Còn thế sự vẫn nhiễu nhương. Cho mãi đến bao giờ?
Thấy Quế đang thắp hương cho bàn
thờ cha mẹ mình – Đoan đứng lặng bên
cạnh. Nàng nghĩ thầm: “Nếu Quế không bị động viên vào mùa hè năm ấy – thì cuộc
đời nàng đã đổi khác rồi, đâu chịu cảnh oan nghiệt đau buồn như ngày nay?“,
Với giọng thì thầm trong trẻo, ngập
ngừng, và chậm rải – Đoan đã kể lại cho Quế nghe quảng đời lao đao của gia đình
nàng sau 75 và nỗi phiền muộn của nàng sau khi có một đứa con với Hải , rồi
phải ra tòa chia tay ngay sau đó hai năm. Hơn hai mươi năm một mình nuôi con, sống qua ngày với nghề dạy học, hiện đang chờ
nhận quyết định nghỉ hưu…Đoan đã kể, có lúc say sưa - như muốn trút đi nỗi buồn
đã tích tụ trong nàng bao năm mà chưa được chia sẻ cùng ai.
Tùng nâng tách trà lên, khẻ hớp một
ngum nhỏ, giọng hồn nhiên: “Hơi sức nào mà buồn lâu, em?“ – anh chợt cười; “Nếu buồn vậy thì anh và Quế
đây cũng đã chết từ khuya rồi!“. Quế vỗ
vào chân bạn – cười thoải mái: “ Cậu nói chính xác! Ở lứa tuổi bọn mình, thì
không nên buồn chuyện gì nữa…Hãy sống vui với hiện tại hạnh phúc hôm nay, Đoan
ạ!”
Quế nhìn Đoan, giọng đắn đo:
-
Em chịu làm hướng dẫn viên cho bọn anh ở thăm Phố Núi vài hôm, được
không?
-
Hân hạnh lắm – nàng cười, có lẽ ông trời thương các anh hay sao ,
nên hôm nay tự nhiên ngớt mưa, lại có chút nắng ấm chứ mấy ngày qua rả rích suốt ngày đêm, buồn lắm anh ạ!
-
Không phải ông trời thương riêng bọn anh đâu – Quế nhìn Đoan đắm
đuối, ông trời rất thương yêu em nữa đấy!
-
Ông trời cũng…khéo sinh cái miệng của anh nữa mà!
Cả ba người cùng cười như thời thơ
trẻ.
Tùng xin phép cả hai phải
đến thăm người chị ở ngoài khu chợ Trà Bá, hẹn sẽ quay trở lại. Quế và Đoan đưa
Tùng ra ngoài đường đón taxi. Xe vừa chạy, Quế chợt cầm lấy bàn tay Đoan: “Chúng
mình cùng đi uống với nhau ly café-hội-ngộ đi, em? Thời gian bây giờ với anh
thật quý hơn tất cả… “.
Đoan dắt chiếc Serius xuống
lòng đường, quay lại – cười: “Anh muốn ngồi ở đâu, thăm nơi nào tùy ý…” – “ Anh
quên hết đường đi rồi! Em chở giúp anh đi! Tùy em cho anh đi đâu cũng tốt cả
miễn là có em bên cạnh… “.
Trước hết, Đoan chở Quế lướt
qua một vòng Phô Núi – những con đường mới quy hoạch, những công trình đang xây
dựng,và các dinh thự bề thế của các đại gia mọc lên sau 90. Qua từng chặng
dường, nàng nhắc nhớ nbững nơi chốn mà cả hai đã từng gần gũi, gắn bó - bằng
giọng nói mơ hồ, xa vắng, có chút ngậm ngùi. Quế ngồi sau, nhìn theo từng đổi
thay không kịp nhớ hết, cảm thấy mình thật sự lạc lõng giữa bộn bề đổi thay của
đời sống…
Đoan quẹo vào con đường dốc
nhỏ, ghé khu công viên Diên Hồng. Hai người đếm bước dần vào các dãy nhà sàn
phía trong cầu treo – chọn một chiếc bàn nơi căn nhà sàn nổi trên mặt hồ tĩnh
lặng, thoáng mát. Gọi hai ly café đen. Đoan lại tiếp tục giới thiệu về khu công
viên, về ngôi nhà sàn nằm trên khu đồi cao kia được chọn làm nơi bắn pháo bông
vào đêm giao thừa hằng năm; trong lúc Quế ngắm nhìn rừng thông cao vút dọc theo
những con đường dốc, tạo nên quang cảnh thật êm đềm, yên vắng, thơ mộng rất
riêng của Phố Núi cao nguyên…
Trong từng căn nhà gỗ ẩn mình
dưới rặng thông, hay rừng cây rợp bóng mát dọc ven hồ là những cặp tình nhân,
những cặp vợ chồng với con nhỏ, những du khách phương xa ghé lại. Bên kia bờ
hồ, những túp lều nổi lục giác nho nhỏ là chỗ cho khách lai rai. Quế nói với
Đoan về sự ưu đãi của thiên nhiên đã dành cho Phố Núi, nhưng nếu con người
không biết giữ gìn, chăm sóc - thì chẳng bao lâu, những sự ưu đãi ấy không còn,
sẽ làm cho Phố Núi tàn tạ. Cái u trầm, tĩnh lặng của Phố Núi có phần quyến rủ
hơn ở Đà lạt rất nhiều.
Đoan cảm thấy hạnh phúc được
uống ly café cùng Quế sau bao năm mong chờ tưởng là vô vọng. Những điều bất ngờ
mầu nhiệm của đời sống luôn làm cho đời sống tươi trẻ, và lòng người được vỗ về
biết bao. Cả hai rời khu công viên, Đoan lại chở Quế vòng ra phố. Nàng quay
lại: “Em đưa anh đến “quán phở hai tô “ ngày xưa nhé?“. Quế
khẻ ôm vào lưng nàng : “Tuyệt vời rồi! Phở truyền thống của Phố Núi mà em? À,
có phải quán Ngọc Sơn ở đường Hùng Vương mà chúng ta có lần ngồi với nhau sau
khi ở Biển Hồ về không? Anh rất
nhớ… “ – “ Anh có trí nhớ tốt lắm! Hai
quán Mỹ Tâm và Ngọc Sơn vẫn còn, anh ạ!“. Đoan cười: “Nhưng anh còn nhớ…hai
cách ăn khô và nước nữa không?“ – Quế cười thoải mái: “ Cứ nhìn em…ăn cách nào,
thì anh ăn y như vậy mà! Cách nào rổi cũng hết hai tô thôi! Đúng không? “
Xe tiếp tục trên dường đi về
ngả Biển Hồ. Trởi mưa nhẹ hạt. Con đường ngày xưa không còn chút dấu vết. Quế
nhớ lại lần cùng Đoan ngồi ở bờ hồ suốt ngày, trước lúc anh phải vào Saigon
trình diện, với mấy ổ bánh mì, hai hộp thịt ba lát, túi kẹo Nouga và hai chai
nước khoáng Vỉnh Hảo. Biển Hồ ngày ấy hoang vắng, quạnh hiu trong cơn sốt chiến
tranh luôn ầm ì tiếng súng và bom mìn vang dội đâu đó trong từng cánh rừng phía
xa. Anh và Đoan như hai kẻ lạc loài giữa hận thù, là những đám mây lơ lửng trôi
dạt lạnh lẽo trước cơn gió dữ của sự phân tranh. Đường lên hồ hôm nay đang có đông khách tham
quan. Quế cầm lấy tay Đoan cùng lên những bậc cấp để đến căn nhà lục giác trên
cao. Mưa nhẹ. Nhưng gió thổi dạt dào. Se lạnh. Quế cảm thấy hơi ấm của bàn tay
dịu mềm Đoan đã truyền cho mình nỗi ấm áp nồng nàn của quê nhà sau bao năm xa cách tưởng không
bao giờ có thể tìm lại.
Về lại trung tâm thành phố đã hơn
bốn giờ chiều. Đoan cho biết, ngày mai –
nếu trời nắng ấm, sẽ đưa Quế lên thăm khu du lịch Về Nguồn cách xa thành
phố gần 10 cây số, sẽ tha hồ… Nàng rẽ vào đường Hai Bà Trưng, dừng lại ở quán
cơm gà Hải Nam ,
vội vã vào mua hai hộp cơm gà đặc biệt. Giơ hai hộp cơm lên trước mặt Quế -
Đoan cười : “Chúng mình vào quán café ăn cơm, rồi nhâm nhi café đến tối, anh
nhé? Ngày mai, em sẽ đưa anh đến thăm ngôi chùa kỳ vĩ nhất ở Phố Núi – chùa
Minh Thành, đã khởi công xây dựng trên ngọn đồi rợp bóng mát, suối, và hồ thiên
nhiên bao quanh thật thơ mộng, tĩnh lặng – đã gần năm năm ngày đêm kiến tạo rồi
mà chưa hoàn chỉnh, có lẽ cũng phải mất mười năm anh ạ! “. Đoan vừa lái xe, vừa trò chuyện hồn nhiên với
Quế như đôi bạn thuở nào.
Đoan dừng xe ở dốc quẹo lên đường
Lê Quí Đôn, trước mặt là quán café Hạ Vàng trông sang trọng, rực rỡ với những
chùm đèn mầu lấp lánh trên các tàng lá cây cảnh mỹ thuật.
-
Anh thích vào Hạ Vàng hay Đen?
-
Quán Đen ở đâu?
-
Sát bên cạnh đây thôi…
-
Nhưng điều quan trọng không phải là anh thích, mà em thích ngồi ở
đâu với anh?
-
Em quen ngồi ở Đen anh à! – Đoan khẻ nói, mỉm cười, bọn bạn học cũ
của em ngày xưa cũng vẫn thưởng rủ nhau đến Đen tán gẩu đủ thứ chuyện quá khứ
hiện tại vị lai cho vui vậy mà!
Quế bước theo Đoan vào sâu trong
quán, lên các bậc cấp bằng gỗ, tre – như chiếc cầu nổi được thiết kế xinh xắn,
như một người xa lạ. Đoan tìm một chiếc bàn vuông nhỏ chỉ có hai chiếc ghế gỗ
sát bên cửa sổ ngó ra vườn cây. Nàng đặt hai hộp cơm lên mặt bàn kính – cười :
“Anh đã đói bụng chưa?“
-
Em làm tài xế và hướng dẫn viên phải đói hơn anh chứ?
-
Vậy thì chúng ta cùng ăn cho nóng, anh nhé?
-
Anh rất hạnh phúc được ăn bữa cơm sum họp với em. Đoan ạ! – Quế
nhìn đứng lên gương mặt hơi gầy, xanh của Đoan – lòng cảm thấy bùi ngùi. Anh không
ngờ chuyến về này lại được hạnh phúc đến vậy…Ở bên đó, anh…
-
Anh thế nào, hở anh?
-
Anh chỉ ngồi ăn vội vã một mình cho qua bữa, rồi bị cuốn vào công
việc phải cập nhật từng giờ…
Cậu bé trai mang khay trà và café ra
đặt trên bàn – yên lặng quay đi. Bên ngoài mưa và gió rào rào, hình như mưa đã
bắt đầu nặng hạt. Ánh sáng lờ mờ hắt qua những khung cửa sổ khiến căn nhà sàn
như rộng thêm và lạnh lẽo. Khu nhà phía dưới đã mở đèn sáng mầu nhạt, rải rác
từng bàn khách đang ngồi thầm lặng bên tách café. Khóm trúc lòa xòa vươn lên
tầng trên lay lắc một cách êm ái, thơ mộng. Quế nhìn ra sân sau, một khoẳng sân
trống, một vùng cỏ cây lặng lẽ dưới mưa, chợt nhận ra, buổi chiều Phố Núi được
ngồi bên Đoan ở đây quả thật là một diễm
phúc bất ngờ không bao giờ quên dành cho cuộc đời tha hương của anh. Theo lời
Đoan, Phố Núi có hơn hai trăm quán café – trong hai trăm quán ấy, giờ này, chắc
có nhiều người yêu nhau được nhận bao điều an ủi và ấm áp như mình, trong lúc
ngoài trời, mưa và gió vẫn thản nhiên rào rạt, cuồng nộ như không bao giờ
dứt...
Phố Núi, tháng 8 năm 2007
MANG VIÊN LONG
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét