Quán nhỏ bên lề
Truyện ngắn của Thủy Điển
Vừa đến Đảo
vào buổi chiều, nhân viên sắp xếp chỗ ăn, chỗ ở xong xuôi. Sáng ngày hôm sau
hai vợ chồng ghé vào quán cóc vệ đường gọi hai tô Mì nóng ăn, Vì cả tháng nay kể
từ ngày đi vượt biên toàn ăn đồ vớ vẩn. Vừa ăn, vừa hít hà khen ngon định gọi
thêm tô nữa. Chưa kịp gọi thì ông Chủ quán xề lại hỏi han đủ thứ chuyện trên đời
và gạn sang cái quán ông đanh hành nghề, nên mất hứng.
Tám
giờ sáng một ngày tháng tám năm 1980. Bảy chiếc thuyền Bầu chở gần ba trăm thuyền
nhân thuộc tàu Cap Anamur của Đức từ Singapore chuyển sang Đảo Poulo Galang
Indonesia tạm cư. Vì hiện tại, trại tỵ nạn Singapore không còn chỗ trống. Những
chiếc thuyền Bầu len lỏi theo những con sông và rạch nhỏ suốt sáu tiếng đồng hồ
từ Singapore-Indonesia. Trên quãng đường đi ai ai cũng rất vui thú, vì lần đầu
tiên được ngắm nhìn toàn những thắng cảnh thiên nhiên, mà từ nhỏ đến giờ chưa một
lần thấy nó. Chiếc thuyền cứ tành tạch với vận tốc vừa phải, thế mà mấy chốc đã
đến nơi.
Đúng
mười bốn giờ trưa cùng ngày, nắng ngoài trời chói chang, cũng là lúc con thuyền
vừa cập bến. Như có sự báo trước, trên bờ có hành trăm người đứng chờ sẵn, xem
trong những chiếc thuyền nầy có ai là thân nhân của mình không. Thật như lời dự
đoán, người khác thì không biết, nhưng riêng vợ chồng chúng tôi có hai cô cháu
vợ ra đón. Vì hai cô nầy đã đi trước chúng tôi hơn sáu tháng và hiện còn nằm trên
Đảo chờ ngày đi định cư sang Pháp theo diện đoàn tụ gia đình. Cuộc hội ngộ không
hẹn mà đến, ba Dì cháu ôm nhau khóc ùa như cách xa nhau hàng mấy chục năm, có lẽ.
Vừa mừng, vừa nghe Loa Cao ủy phải trật tự, điểm danh mất khoảng một giờ . Bỗng
dưng cơn mưa rào từ đâu đổ ầm xuống như chào đón. Ai cũng bảo đây là điềm hên,
rồi mọi người hè nhau chạy nhanh vào căn nhà không vách gần bên để trú mưa.
Sau cơn
mưa, tất cả trở lại bình thường và trình tự được xe Cao ủy chở vể khu nhà ở. Và
chúng tôi được đưa đến Barak 182 trên ngọn đồi cao vút. Từ ngọn đồi nầy muốn xuống
tới khu chợ phải mất gần nửa tiếng đồng hồ, đường đi rất cong queo và vất vả. Hơn
nữa thời gian ấy lại là mùa mưa như ở Việt nam nên đường đồi rất là trơn trợt.
Trong Barak người ta đã chuẩn bị sẵn sàng đâu những ngày trước đó gần hai trăm
cái giường để san sát nhau và chia đều cho mỗi hộ. Chúng tôi ổn định xong trong
chiều đó và ngủ một giấc rất ngon lành cho đến sáng, vì cả ngày nay đi đường quá
mệt mỏi.
Trong
lúc ngủ tôi nghe dăng dẳng bên tai tiếng một phụ nữ nói liên tục, không ngớt miệng.
Nào Úc, nào Mỹ, nào Canada. Tôi bực bội muốn đứng dậy bảo sao không nói nào Việt
nam. Nhưng thôi, có lẽ vì họ đang mơ mộng quá. Và thầm nghĩ, cuộc hành trình
gian khó đã đến đây là may mắn lắm rồi. Tương lai, ngày mai từ từ sẽ rõ.
Sáng
hôm sau hai vợ chồng bàn nhau, thôi mình đi tìm cái ăn cho đả thèm. Đi qua, đi
lại chúng tôi nhìn thấy một cái quán cóc ghi mấy hàng chữ „ Tại đây có bán Mì ăn
liền nấu sẵn„ Nên ghé vào và gọi hai tô Mì. Ông Chủ quán nấu xong, bưng ra tiếp
khách rất tử tế. Vừa ăn, vừa khen ngon vô tình để lộ sự thèm khát, nên ông đoán
chắc là chúng tôi những người vừa mới đến. Ăn xong, chúng tôi định gọi thêm hai
tô nữa ăn cho đả miệng, thì ông xách cái ghế khác xề đến gần bên hỏi han? Chúng
tôi chẳng có gì giấu giếm và trả lời một cách chân thật. Ông hỏi?
Hai
anh chị có muốn sang quán chúng tôi Không? Tôi trả lời, mới đến chân ướt, chân
ráo mà biết gì sang quán, hơn nữa đâu biết mình ở đây bao lâu mà sang. Mà dẫu
muốn sang lấy tiền đâu mà sang bây giờ. Ông bảo chỉ có một chỉ vàng thôi, còn
thời gian ở thì chắc lâu lắm. Tôi hỏi? Ông ở đây lâu chưa. Ông Ta bảo, hơn một
năm rồi. Tôi ngồi trầm ngâm một hồi và suy nghĩ, có lẽ mình cũng như thế. Cuối
cùng mọi chuyện chẳng đâu vào đâu, chúng tôi ăn xong, trả tiền rồi từ giã ra về.
Ở Đảo
gần hai tuần, ăn rồi ngủ, ngủ rồi ăn, cảnh an nhàn bắt đầu sanh chán.Tôi nói vợ
tôi ở nhà, còn tôi đi tìm việc gì làm vừa kiếm tiền, vừa thoải mái tinh thần. Tôi
đi vòng quanh hỏi ra thì người ta có mướn làm công tại trại Galang 2, công việc
dọn dẹp những vật liệu xây dựng cho gọn gàng với mức lương 1500 Rupiah tiền
Indo một ngày, hồi ấy tương đương với năm Đô la Mỹ. Mừng quá, về bảo vợ là ngày
mai anh đi làm, em chuẩn bị cho anh chút ít gì để mai mang đi.
Sáng đến
tụ điểm để xe chở vào nơi làm việc, tôi thấy người ta đông chật, họ cũng đi làm
như tôi. Khi xe vừa thắng cái két, bao thiên hạ phóng ào ào lên, vì lịch sự tôi
nhường và định lên sau. Ai ngờ ! Xe chỉ dừng một phút rồi chạy mất, thế thì đành
xách gào mên cơm đem về.
Về đến
nhà vợ tôi hỏi? Sao anh lại về, người ta không nhận làm à. Tôi bảo nhẩy lên xe
không kịp. Vợ tôi cười, nguy hiểm quá thôi ở nhà cho rồi. Tôi nói, đâu có đơn
giản thế em, thua keo nầy ta gầy keo khác. Sáng hôm sau tôi nói vợ tôi nấu gào
mên cơm khác và đi tiếp.
Cũng
ngay điểm hẹn, tôi đứng sát lề đường, xe vừa thắng cái két là tôi nhẩy nhanh lên
ngay và từ từ những người khác cùng lên. Ngồi trên xe một quãng đường khá xa, lòng
tôi miên man không biết chặn tới sẽ như thế nào. Đúng như dự tính, cuộc đối chọi
kỳ hai bắt đầu. Những Ca trưởng không phải là người Indo mà là những thanh niên
Việt nam ở lâu năm trên Đảo làm đầu gấu. Chúng điểm danh những người thân, quen
chúng trước nếu còn thiếu chỗ hoặc nơi nào nặng nhọc thì chúng mới giao cho mình. Trước khi ra hiện trường
chúng tập hợp những thứ gì mang theo lại một chỗ và đi làm tay không, đến trưa
giờ giải lao mới tụ lại ăn chung. Ngày đầu chúng đưa tôi đến nên sình lầy làm
việc và khi trưa về thì gào mên cơm của tôi trống rổng. Tôi đành nhịn đói và nhìn
chúng ăn một cách ngon lành.
Chiều
về đến nhà tôi mệt lã vì cả ngày không ăn, không uống. Vợ tôi hỏi? Ăn cơm có ngon
không. Tôi nói, có ăn đâu mà ngon. Tôi bảo vợ tôi ngày mai làm thức ăn khô bỏ vào
bọc mũ và một gào mên trống không mang theo.
Cũng
như mọi ngày, vừa xuống xe tôi quăng bịch đồ ăn vào gốc cây Chuối và nạp gào mên
cơm vào đống thức ăn tập thể, khi trưa trên đường giải lao về tôi ghé lại gốc Chuối
lấy bịch cơm cho vào túi áo và tìm nơi khác ngồi ăn. Ròng rã gần một tháng làm
việc, người mới , người mới tiến vào và dần dần quen mặt, chúng cho tôi làm những
công việc nhẹ và khô ráo hơn. Nơi đây tôi đã nhìn rõ những bộ mặt thật và giả,
nhưng chẳng dám hé môi.
Kiếm
trong tay được ít tiền, nhìn cảnh đời hai mặt, ngày đi có lẽ cận kề, nên tôi
quyết định nghỉ và ở nhà tìm công việc khác. Thú thật đến giờ nầy tôi không sao
hiểu nổi sự tài tình của con người. Đảo Galang là một Đảo hoang, kể từ năm 1976
khi có làn sóng người đi đăng ký, bán đăng ký, vượt biên đến. Không biết họ làm
cách nào mà mấy năm sau sự sinh hoạt y như một Thị trấn nhỏ không hơn, không kém.
Thí dụ: Rạp chiếu bóng, tiệm Vàng, tiệm Vãi, tiệm May, tiệm Đồng hồ, chợ Cá tươi,
Gà, Vịt, quán Cà-phê, Phòng trà, Hủ tiếu hay nói cách khác có đủ hết không thiếu
món chi. Hay thật là hay.( Xin nói thêm một điều là trên Đảo Galang hồi ấy tất
cả các Chủ quán, tiệm đều là của người Việt nam, chỉ riêng Giám đốc Bệnh viện và
Trạm Cảnh sát bảo vệ là người Indo mà thôi).
Một
đêm tháng 10 năm 1980 chúng tôi đi xem phim Hồng kông „ Mãnh Long hóa giang „ Vào
cửa mỗi người 150 Rupiah tiền Indo một vé, rạp hát được bao quanh bằng những tấm
Tôn lộp nhà, không nóc. Nếu trời nắng thì xem được trọn phim, còn mưa xem như
tiền tặng ông Chủ rạp. Không may, đêm tôi đi xem chiếu bóng bị mưa hai phần ba
nên phải đành ra về. Vừa mất tiền, vừa lặn lội lên đồi về Barak mất gần nửa giờ
đồng hồ thật là thê thảm.
Mỗi
người một số, không biết mình như thế nào sao cứ loanh quanh đi tìm cái vất vả,
trong khi mọi người khác nằm nhà, hể đúng thứ ba là đi lãnh đồ Cao ủy về ăn, rồi
ngủ có sướng hơn không?
Thời
gian rảnh rỗi, ngày nào cũng đi dạo ngang qua tiệm Mì, nếu ông Chủ không thấy
thì thôi, còn thấy là gọi vào cho bằng được. Rồi cuối cùng cũng bị ông dụ và
sang một cái quán với giá một chỉ vàng. Khi sang quán xong, tu sửa lại chút đỉnh
và bán tiếp. Quán bây giờ sinh động hơn xưa, nhờ có mấy đứa cháu vợ đến phụ giúp
và ở luôn tại đó nên rất là vui. Kẻ ra người vào y như ở quê nhà, lắm lúc quên rằng
mình đang đi tỵ nạn và đang sống nơi xứ người xa lạ.
Ngày
ông Chủ cũ lên đường đi định cư tại Hoa kỳ có đến từ giã gia đình tôi. Tình cờ
trong lúc hàng vắng khách, ông thấy tôi ngồi làm thơ, ông xin đọc và tôi đã tặng
ông bài thơ ấy.
Quán nhỏ bên lề (Bài thơ cũ)
Ông đi,
tôi thế
Một Chỉ
đi, về
Tôi đi,
người kế
Cứ thế
rủ rê
Quán
nhỏ bên lề
Trải
qua hàng Chủ
Người
mới, người cũ
Thay
nhau liên tục
Đến ngày
chấm dứt
Không còn
tỵ nạn
Quán trả
cho làng
Chỉ vàng
bay mất.
Tháng 11, năm 1980 tại Poulo Galang –
Indonesia
Trần
văn Màu
Tưởng rằng sẽ ở Đảo lâu
hơn, nên mới sang cái quán bán cho vui trong những ngày tỵ nạn. Ai ngờ ! Vừa bán
được gần một tháng, thì Cao ủy gọi khám sức khỏe chờ ngày đi định cư. Nên tôi vội
tìm cách sang cái quán cho người khác. Tôi không làm như ông Dược sỹ là gạn hỏi
từng người, mà tôi treo một tấm bảng thật lớn „ Cần sang quán gấp „ Rất may, đúng
hai ngày sau có người đến hỏi mua. Tôi nói giá, họ ưng ngay không vòng vo, mặc
cả gì hết.
Ba
tuần lễ sau khi khám sức khỏe xong, gia đình tôi và những người đồng hành thuộc
tàu Cap Anamur 12 được vớt phải sang Thủ đô Jakarta rồi đến toà Đại sứ Đức làm
Hộ chiếu và đúng ngày 16 tháng 12 năm 1980 lúc 6 giờ 30 sáng là chúng tôi đã có
măt tại phi trường Frankfurt cho đến hôm nay.
CHLB
Đức tháng 12, năm 2015 (Kỷ niệm 35 năm xa quê)
Thủy Điền

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét