Phê Bình Văn Học
NHỮNG SAI LẦM của Học giả
HOÀNG XUÂN HÃN
Trong bộ sách LÝ THƯỜNG KIỆT
Thái Quốc Mưu
Đôi dòng trước khi vào bài:
* Trong lãnh vực văn học, chúng ta đừng
vì học vị của những ông khoa bản mà “BỎ QUÊN” không phê bình những sai lầm
trong các tác phẩm của họ.
* Khi phê bình văn học, chúng ta phải ra
sức tìm tòi, tham khảo, tra cứu, lấy sự trung thực, lòng ngay thẳng và lương
thiện mà nhận định rồi chỉ rõ những chỗ sai lầm. Không nể nang, thiên vị bất cứ
kẻ nào! Nếu không làm được những điều đó, chẳng những chúng ta có tội với tiền
nhân mà còn có lỗi với những thế hệ mai sau - Thái Quốc Mưu
Tiểu sử Giáo sư, Học giả Hoàng
Xuân Hãn (nguồn, Bách Khoa Toàn Thư):
“Học giả Hoàng Xuân Hãn
cùng thời với những tên tuổi lớn như Nguyễn Văn Huyên, Đào Duy Anh…, cuộc đời
học giả Hoàng Xuân Hãn phủ gần trọn thế kỷ XX và sự nghiệp của ông cũng gần như
phủ bóng hầu hết các lĩnh vực khoa học của nước nhà, cả khoa học tự nhiên và xã
hội.
Ông sinh ngày 18/3/1908,
mất ngày 10/3/1996 làng Yên Phúc, thuộc tổng Yên Hồ, nay là xã Yên Hồ. Có sách
viết sanh tại Kẻ Trổ, thuộc làng Nhân Thọ, tổng Yên Hồ, huyện La Sơn, nay là xã Đức Nhân (Đức Thọ).
Ông là hậu duệ của dòng họ Hoàng Xuân nổi tiếng với Hoàng giáp Hoàng Trừng (đời
thứ 5, đậu Hoàng giáp năm 1499). Thuở nhỏ, ông học chữ Hán với cụ Tú Vạn, phụ
thân ông. Về sau học chữ quốc ngữ tại quê. Khi phong trào Cần vương tan rã, cha
mẹ ông lâm cảnh nghèo khó, ra Vinh nhận thầu nấu cơm cho trường Quốc Học để
nuôi con.
Năm 1926, Hoàng Xuân Hãn
đỗ bằng Thành Chung, ra Hà Nội thi vào Trường Bưởi, một năm sau thì ông chuyển
sang Khoa Toán, Trường Trung học Albert Sarraut. Năm 1928, sau khi đỗ Tú Tài
toàn phần, ông được nhận học bổng du học tại Pháp.
Lần lượt thi đỗ và theo
học tại các trường đại học danh tiếng như: Sư phạm, Bách khoa ở trường đại học
Sorbonne. Paris. Năm 1934, ông về nước với bằng kỹ sư cầu đường. Tiếp đó, ông
trở lại Pháp và đỗ bằng thạc sĩ Toán của trường Sorbonne năm 1935.” Học giả Hoàng
Xuân Hãn viết rất nhiều bộ sách. Đáng
chú ý và có lẽ nổi danh nhất là Bộ Lý Thường Kiệt, xuất bản năm 1949. (ngưng
trích).
Đáng tiếc, trong bộ Lý Thường Kiệt có rất
nhiều chỗ bị sai lầm cách oan uổng (có thể do không có bản chánh để tra cứu), làm
phí phạm công trình lớn lao của vị học giả đáng kính của chúng ta - Thái Quốc Mưu.
Xin trích một đoạn trong phần
Lý Thường Kiệt Đánh Tống, Hoàng Xuân Hãn, viết:
- Một nơi quan trọng thuộc trại Vĩnh
Bình. Sách Lãnh Ngoại Đại Đáp chép: “Trại Vĩnh Bình kề Giao-chỉ, chỉ cách bằng
một con sông mà thôi. Phía bắc sông có trạm Giao-chỉ (ở đất Tống). Phía nam
sông có đình Nghi-hòa. Đều là chỗ để buôn bán trao đổi, do chúa trại Vĩnh Bình
cai quản”.
Trong
khi “Lãnh Ngoại Đại Đáp” của Chư Khứ Phi, (hiện nay được Trung Quốc coi là
Chánh Sử) chép như sau:
- “Ung châu Hữu giang Vĩnh Bình Trại dữ Giao
Chỉ vi cảnh, cách nhất giản nhĩ! Kỳ Bắc hữu Giao Chỉ dịch, kỳ Nam hữu Tuyên Hòa
đình, tựu vi bác dịch trường”. (Dịch:
Trại Vĩnh Bình ở vùng sông Hữu giang, thuộc Ung châu, tiếp giới với Giao Chỉ,
cách một khe suối thôi! Phía Bắc khe suối có trạm (tên gọi là) Giao Chỉ, phía
Nam suối có đình Tuyên Hòa, là nơi buôn bán giao dịch).
(trích: Lãnh Ngoại Đại Đáp, Qu. V. Tài
Kế môn. Ung châu Vĩnh Bình Trại bác dịch trường)
Hoàng
Xuân Hãn đã sai lầm khi ghi rằng đường ranh giới giữa Giao Chỉ và Trại Vĩnh
Bình là “một con sông”, trong khi
“Lãnh Ngoại Đại Đáp” chép rõ là “một khe
suối” (Giản nhĩ). Sông và Khe Suối hoàn toàn khác nhau.
Ở
phần các địa danh, Hoàng Xuân Hãn viết và chấm sai, vì thế trong nguyên tác có
16 địa danh trở thành 18 địa danh:
16 địa danh trong nguyên tác:
- Thượng Điện / Hạ Lôi / Ôn / Nhuận / Anh / Dao / Vật Dương
/ Vật Ác / Kế / Thành / Cống / Lục / Tần / Nhiệm động / Cảnh Tư / Hà Kỷ.
Dưới đây là 18 địa danh do
Hoàng Xuân Hãn chấm và viết sai:
Thượng-
điện / Hạ-lôi / Ôn-nhuận / Anh / Dao
/ Vật-dương / Vật-ác / Kế-thành /
Cống / Lục / Tần / Nhậm / Động / Cảnh / Tư / Kỳ/ Kỷ / Huyện.
Sau
đây là những cái sai của Hoàng Xuân Hãn khi ngắt câu phân địa danh:
1).
Kế tức là Kế động.
Ông
Hoàng Xuân Hãn lại nhập chữ Kế với chữ Thành liền ở sau, để trở thành
“Kế-thành”. Sai!
2).
Nhiệm động. (Nhiệm cũng đọc âm Nhậm).
Hoàng
Xuân Hãn lại ngắt ra thành 2 Địa danh là “Nhậm” và“Động” mà không biết rằng chữ
“động” ở đây chỉ là cấp số hành chánh đi liền với chữ “Nhiệm” (hay “Nhậm”).
3).
Cảnh Tư.
Hoàng
Xuân Hãn cũng ngắt ra thành 2 địa danh “Cảnh”, “Tư”.
4)-
Địa danh “Kỳ” trong nguyên tác không có.
5).
Hà Kỷ huyện.
Hoàng
Xuân Hãn thiếu mất chữ “Hà”. Và, Chữ huyện đứng sau tên “Hà Kỷ” để chỉ cấp số
hành chánh, ông lại tách chữ Huyện ra và cho nó thành một địa danh khác.
Những
sơ suất trên đây người viết trích dẫn để chứng minh những sai lầm và, đó là một
trong vô vàn những sai lầm khác trong bộ Lý Thường Kiệt.
TRÍCH CHƯƠNG XII - BỘ LÝ
THƯỜNG KIỆT CỦA HOÀNG XUÂN HÃN
Trong
câu “tiền hậu bị thủ thổ nhân bạn khứ,
ủy thân qui minh”. Hoàng Xuân Hãn, dịch: “trước sau bị các tù trưởng làm loạn, rồi bỏ đi, mà đem vào quy thuận”.
Trong
khi “Từ điển Từ Nguyên” giảng 2 tiếng “THỦ THỔ” như sau:
- “Thủ thổ” là rút ngắn câu: “Thủ vệ cương thổ”. Trọn nghĩa là: “Giữ và bảo vệ lãnh thổ”.
Thư Thuấn Điển: “Tuế nhị nguyệt, Đông
tuần thủ”. Dịch: Kinh Thư, thiên Thuấn Điển: “Một năm 2 tháng, vua đi tuần tra ở
phương Đông”.
Truyện: “Chư hầu vi thiên tử thủ thổ, cố
xưng thủ”. Dịch: “Chư hầu là người giữ đất cho thiên tử, do đó gọi là thủ (thổ) =
giữ đất (nước)”.
Theo
học giả Minh Di: Phần Truyện kể trên là của Khổng An Quốc (? - ?) thời Tây Hán
(206 tr. Cn - 25 Cn).
Ở
phần đầu, Hoàng Xuân Hãn dịch câu “trước
sau bị các tù trưởng LÀM LOẠN, RỒI BỎ
ĐI, MÀ ĐEM THEO QUY THUẬN”. Đoạn sau (CHỮ IN ĐẬM) của câu trên đây
Hoàng Xuân Hãn dịch rất lủng củng, tối nghĩa!
Còn
chữ “BẠN” trong nguyên tác “tiền hậu bị thủ thổ nhân BẠN khứ, ủy thân qui
minh”. nghĩa là “PHẢN BỘI”, Hoàng Xuân Hãn dịch là làm “LÀM LOẠN”. Sai!
“LÀM
LOẠN” là tổ chức bộc phát quy tụ những kẻ cùng phe cánh, dấy lên gây rối trật
tự, an ninh, đốt phá nhà cửa, cướp giựt đất đai, tài sản đồng bào,...
Còn
PHẢN TẶC, hay PHẢN LOẠN là tổ chức quân sự hoặc hành chánh được chánh quyền
giao cho điều khiển (hay cai trị) rồi đem lực lượng đó đánh lại lực lượng của
chánh quyền (hay chủ cũ).
Những
kẻ được Lý triều giao cho cai quản 2 động: (động) Vật Dương và (động) Vật Ác
nổi dậy đánh Lý triều không thể gọi là LÀM LOẠN, mà là PHẢN TẶC, PHẢN LOẠN vì
đã bỏ vua / bỏ chủ cũ để chạy theo giặc Tàu (Tống triều).
“LÀM
loạn” hoàn toàn khác xa với “PHẢN loạn”.
Trong
câu: “Tuy thử đẳng đạn hoàn chi địa”. Hoàng
Xuân Hãn dịch là: “Tuy đất ấy là nhỏ
nhen”.
Tiếng
“ĐẠN HOÀN” trong nguyên tác, có nghĩa “viên đạn bắn ná”, dùng để ẩn dụ cái gì
nhỏ. (hàm ý, cục đạn do ná bắn không thể đi xa). Còn “đạn hoàn chi địa” nghĩa là “đất nhỏ hẹp”. Hoàng Xuân Hãn dịch: “Tuy đất ấy là nhỏ nhen”. Không chính
xác!
“Tần ký giải Hàn Đan vi nhi Triệu vương
nhập triều, sử Triệu Thích ước sự ư Tần, cát lục huyện nhi cấu.” Dịch: “Sau khi
Tần rút quân, không vây Thành Hàn Đan nữa, thì Triệu vương vào triều, liền sai
Triệu Thích giao ước việc thần phục Tần, cắt 6 huyện cho Tần để giảng hòa.”
Ngu Khanh vị Triệu vương viết:
- “Tần chi công vương dã quyện nhi qui
hồ? vương dĩ kỳ lực thượng năng tiến, ái vương nhi phất công hồ? Dịch: “Ngu
Khanh nói với Triệu vương: “Tần tới tấn công nhà vua có phải vì quân mệt mỏi mà
rút về chăng? Nhà vua có cho rằng lực của Tần còn có thể tiếp tục tấn công, thế
nhưng vì thương nhà vua mà không tấn công nữa hay không?”
Ngu Khanh viết: “Tần dĩ kỳ lực công kỳ
sở bất năng thủ, quyện nhi qui. Vương hựu dĩ kỳ lực chi sở bất năng thủ dĩ tống
chi, thị trợ Tần tự công dã! Lai niên Tần phục công vương, vương vô cứu hĩ!” Dịch: “Ngu
Khanh nói: “Tần thấy lực của mình đánh chiếm cái không thể chiếm được, bởi lẽ
đó, khi thấy quân mệt mỏi mà rút về, bây giờ nếu nhà vua nghĩ là quân lực của
Tần không thể đánh chiếm được Thành của Triệu mà lại cắt đất nhượng cho Tần thì
đây là nhà vua giúp Tần để tự đánh mình! Năm sau Tần lại tới tấn công nhà vua
thì chừng đó nhà vua không cứu được mình nữa!”.
Vương viết: Tần chi công ngã dã bất di
dư lực hĩ, tất dĩ quyện nhi qui dã! Dịch: Triệu vương nói: “Quân Tần đánh ta
không còn sức nữa, đây chắc chắn vì mệt mỏi mà rút về!”
Câu:
“Vương dĩ Ngu Khanh chi ngôn cáo Triệu
Thích.” Dịch: “Triệu vương đem lời
của Ngu Khanh nói với Triệu Thích.”
Triệu Thích viết: “Thử đạn hoàn chi địa
phất dữ, lệnh Tần lai niên phục công vương”. Dịch: Triệu Thích nói: “vùng đất
nhỏ này mà không cho thì năm sau Tần lại tới tấn công nhà vua nữa.” / Sử Ký.
Qu. LXXVI. Ngu Khanh truyện.
* Phụ chú: Về tiếng “đạn hoàn chi địa”, tham khảo thêm: “Chiến
Quốc Sách. Qu. XX. Triệu Sách 3. Tần công Triệu ư Trường Bình”.
Còn,
2 chữ “thử đẳng”. “Tuy THỬ ĐẲNG đạn hoàn chi địa”, để
chỉ địa danh của hai Động: (động) Vật
Dương và (động) Vật Ác, chỉ số nhiều, do đó phải dịch là: “Những (vùng) đất này”, hoặc:
“Các (vùng) đất này”. Nhưng, Hoàng Xuân Hãn dịch là “đất ấy” (số ít) thì không đúng! (trong
câu “Tuy ĐẤT ẤY là nhỏ nhen”, ở
trên).
Trong
tiếng Việt, hai tiếng “nhỏ nhen” hoặc “nhỏ nhoi”, là tính từ phi vật thể, thuộc
khái niệm trừu tượng, chỉ dùng để chỉ những gì thuộc về tinh thần mà thôi, như
nói “tâm địa nhỏ nhen (hay nhỏ nhoi)”, “tính tình nhỏ nhen (hay nhỏ nhoi)”,
“lòng dạ nhỏ nhen (hay nhỏ nhoi)”, “sự việc nhỏ nhen (hay nhỏ nhoi)”,... mà
không thể dùng để chỉ những gì thuộc vật chất, như đất đai, nhà cửa, vật
dụng...
Chúng
ta, không ai có thể nói “một căn nhà nhỏ nhen”, một “khu vườn nhỏ nhen”.
Nguyên
tác: “tru cầm tiếm nghịch”. Hoàng
Xuân Hãn dịch là “đánh dẹp những kẻ chiếm
lĩnh”.
Hai
chữ “TRU CẦM” trên đây, nghĩa là “Tru
= “giết”, Cầm = “bắt”.
Còn
“TIẾM” là “(vượt) quá phận, tức là vượt quá vai trò trong nhiệm vụ được giao,
tức là không chính đáng, không phải lẽ”. Còn chữ “nghịch” nghĩa là “phản loạn,
phản nghịch”, do đó, câu trên phải được dịch là: “Diệt trừ, bắt giữ những kẻ phản nghịch chiếm cứ (đất đai) không chính
đáng”. Nhưng, Hoàng Xuân Hãn lại dịch “những
kẻ chiếm lĩnh” thì không nói hết ý của nguyên tác, tức thiếu các ý “PHẢN
NGHỊCH” và “KHÔNG CHÁNH ĐÁNG”.
Câu
“Dự vào hàng thiên thần”. Trong
nguyên tác không câu nào có ý nghĩa như câu viết nầy của Hoàng Xuân Hãn.
Câu
“dự vào hàng thiên thần”, người viết không biết Hoàng Xuân Hãn lấy từ đâu?
Học
giả Minh Di đối chiếu từng câu một so với nguyên tác, thì có vẻ như Hoàng Xuân
Hãn đã dựa vào câu “khởi cảm bị số ư
phiên viên” mà dịch (hay viết) ra.
Nếu
dự đoán trên đúng, thì Hoàng Xuân Hãn đã dịch sai!
Tiếng
“bị số” (trong câu “khởi cảm BỊ SỐ ư phiên viên”) tức là
“sung số”.
Trong
từ điển Từ Nguyên giải nghĩa tiếng “SUNG SỐ” như sau:
- “Sung số”. Miễn cưỡng thấu số”.
- “Sung số”. Miễn cưỡng gom lại cho đủ số”.
Còn
“phiên viên” (trong câu “khởi cảm bị số ư PHIÊN VIÊN”) nghĩa là
“vùng đất ở ranh giới 2 nước”.
PHIÊN
là hàng rào, VIÊN là bờ tường thấp. Rào, tường đây chính là hàng rào hay bức
tường xây dựng dọc theo biên giới để làm ranh giới giữa hai nước – Trong bài,
là để chỉ lằn ranh giới giữa 2 nước.
Ngoài
ra, hai tiếng “phiên viên” còn dùng để chỉ quan chức trấn giữ biên cương bảo vệ
đất nước.
Trong
nguyên tác: “thâu sinh ư khoảnh khắc”. Hoàng
Xuân Hãn dịch là “sống trong chốc lát.” - tức đã dịch thiếu mất chữ “THÂU”.
THÂU có nghĩa là “trái đạo nghĩa”. Tiếng “thâu sinh” ở đây có nghĩa là “sống
trái với đạo nghĩa”.
Chữ
“THÂU” ở đây, còn có nghĩa là “trộm”, nên có người đã dịch là “sống trộm”. Sai!
***
DỊCH THIẾU.
So
với nguyên tác Hoàng Xuân Hãn đã dịch thiếu những câu sau đây:
1). Nguyên tác: “Thường bất li
mộng mị giả”. Học giả Minh Di đã dịch là: “thường chẳng lìa giấc mộng của
thần” (chữ thần ở đây rút ngắn ở hai chữ “hạ thần”, đó là cách nói hạ
mình của nhà vua ở nước nhược tiểu nói với bậc Thiên tử bề trên. Chớ không có
nghĩa là thần thánh - TQMưu) - ý nói là sự nghĩ nhớ về việc đòi lại 2 Động Vật
Dương và Vật Ác thường hằng canh cánh bên lòng của vua Lý Nhân tông (1072 -
1127; tại vị: 1072 - 1127) đến đỗi trong giấc ngủ sự nghĩ nhớ này vẫn thường
hiện trong giấc mộng của vua, tức Lý Nhân Tông vẫn thường chiêm bao về việc mất
2 Động Vật Dương, Vật Ác này.
Dưới đây là nguyên văn bài
Biểu trong nguyên tác:

Phiên âm Việt Nho:
THỈNH HOÀN VẬT DƯƠNG, VẬT ÁC
NHỊ ĐỘNG BIỂU.
Hạ ấp hữu Vật Dương, Vật
Ác nhị động bát huyện, dữ tỉnh nhưỡng tiêp liên. Tiền hậu bị thủ thổ nhân bạn
khứ, uỷ thân quy minh. Kỳ Vật Dương ư binh thìn niên mông thu nhập tỉnh; Vật Ác
ư Nhâm tuất niên mông thu thiết Thông Khang ải.
Tuy thử đẳng đại hoàn chi
địa, vưu công thống hoài, thường bất ly mông mị giả. Thành dĩ tiên tổ thần bình
tích tru cầm tiếm nghịch, xung gian mạo hiển, tất mệnh chi sở trí dã. Kim mạt
tháo bất năng tự thừa, khởi cảm bị số ư phiên viên, thâu sinh ư khoảnh khắc dã.
Giáp tý niên, Quảng Tây
kinh lược ti thường vị thân tấu. Tiên triều dĩ Túc, Tăng nhị động lục huyện tứ
thần chủ ĩnh. Tiếp Túc, Tang đẳng hiện thuộc hạ ấp, phi kim chi trần thỉnh chi
địa, bất cảm bái mệnh.
Phục ngộ bệ hạ nhất tân vũ
nội, cẩn cụ biểu dĩ văn.
Dưới đây là bản dịch ra âm
Việt của hai vị THANH BĂNG - HOÀNG LÊ
“Nước tôi có đất Vật
Dương, Vật Ác, gồm hai động và tám huyện, vẫn tiếp liền với phần đất tỉnh
(Quảng Tây). (Những đất ấy) trước sau đều bị bọn đầu mục thổ dân làm phản, bỏ
đi, đem theo về với Trung Quốc. Đất Vật Dương thì năm Bính thìn (1076) bị sát
nhập vầo đất quý tỉnh; đất Vật Ác thì năm Nhâm tuất (1082) cũng bị sát nhập và
đặt thành ải Thông Khang.
Mặc dầu đấy chỉ là mảnh
đất nhỏ nhưng vẫn khiến lòng tôi đau xót, luôn luôn nghĩ đến cả trong giấc
mộng. Quả thực tổ tiên tôi
xưa kia đã phải đánh dẹp phường tiếm nghịch, xông pha gian nguy, không tiếc tính
mạng mới có được đất ấy. Nay tôi phận con cháu, đã không kế tục được cơ nghiệp
được [cha ông] thì dám đâu dự vào hàng mộ nước phên dậu, cầu lấy cái sống tạm
bợ trong chốc lát.
Năm Giáp tý (1084), Ti
kinh lược Quảng Tây đã vì nước tôi mà tâu bày về triều. Tiên triều đã đem đất
Túc, Tang gồm hai động và sáu huyện trả lại cho tôi chủ lĩnh. Các đất Túc, Tang
ấy hiện thuộc nước tôi rồi, chẳng phải là đất mà tôi bày tỏ ở đây. (Bởi vậy),
tôi không dám vâng mệnh.
May gặp khi bệ hạ (lên
ngôi), khắp bờ cõi thảy đều đổi mới. Vậy
kính cẩn [nêu] đầy đủ trong tờ biểu này để quý quốc nghe biết. (Sử gia Tư Mã
Thiên (145 - 86 tr. Cn) chép trong bộ “Sử Ký”)
(So sánh: Những vị vua ngày xưa tuy thần phục nước Tàu, nhưng bằng
mọi cách vẫn cương quyết giữ đất đai của tiên tổ – dầu phải quỳ lụy xin xỏ,
nhưng quyết liệt khẳng định: “Tiên triều đã đem đất Túc, Tang gồm hai động và
sáu huyện trả lại cho tôi chủ lĩnh. Các đất Túc, Tang ấy hiện thuộc nước tôi
rồi, chẳng phải là đất mà tôi bày tỏ ở đây. (Bởi vậy), tôi không dám vâng
mệnh.” (Nghĩa là không thể giao đất của nước tôi cho (giặc) Tàu - Ngày nay thì
sao? Tôi “không biết!” – Thái Quốc Mưu).
Xin
mở ngoặc nói thêm: (Vào thời điểm gởi thư trên (1086) cho Tống triều, Lý Nhân
Tông mới có 14 tuổi - còn là một trẻ nít, thì không thể có một sự suy tư, nghĩ
ngợi, như viết trong thư. Dĩ nhiên thư là do văn thần triều Lý viết thay vua
nhỏ của mình. Còn phía bên kia, vua Tống triều, Tống Triết tông (1077 - 1100;
tại vị: 1085 - 1100), cũng là một đứa con nít, còn nhỏ hơn vua Lý. Đương thời
Tống Triết tông mới có 9 tuổi).
2). Nguyên tác: “Tất mệnh chi
sở trí dã”.
Từ
điển Từ Nguyên giải nghĩa 2 chữ “tất
mệnh” như sau:
a)- Tất mệnh: Tận lực thi hành theo mệnh lệnh.
b)- Tất mệnh: Tận sức (làm theo mệnh lệnh) dù phải bỏ cả mạng sống.
Tiếng
“tất mệnh” nghĩa cũng như “trí mệnh”, nghĩa là “giao mạng, bỏ
mạng”.
Các
tiếng này được dùng để chỉ sự dốc hết sức lực để làm một việc gì dầu có bỏ mạng
cũng đành! Nói môm na là “chơi tới cùng!”
Dịch Kinh, Quẻ Khốn (Đoài / Khảm), Đại
Tượng từ:
- “Tượng viết: Trạch vô thủy, Khốn, quân
tử dĩ trí mệnh toại chí”. Dịch: “Tượng viết: Đầm không có nước, là (Tượng =
hình ảnh) của Quẻ Khốn, bậc quân tử coi đó mà đến bỏ cả tính mạng để thực hiện
cho được chí hướng của mình”. Học giả
Minh Di đã dịch: “dốc hết sức mình, bất kể tính mạng mà cố (giữ thành, hay đất) cho
được!”.
3). Nguyên tác: “khởi cảm bị
số ư phiên viên?” nghĩa là “vùng đất ở ranh giới 2 nước”.
Trong
bộ Lý Thường Kiệt, Hoàng Xuân Hãn dịch thiếu 3 câu trên đây! Ba câu nầy chẳng
phải khó dịch, nhưng chẳng biết vì sao ông không dịch?
Sau
cùng, về vị trí của 2 Động Vật Dương và Vật Ác ông Hoàng Xuân Hãn viết: “Thường Kiệt lại mưu sự lấy lại những đất
tuy thuộc Quảng-nguyên, nhưng đã bị các tù-trưởng đem nộp Tống trước khi có
cuộc Tống Lý chiến tranh. Trong những đất ấy, có hai động lớn, là động
Vật-dương và động Vật-ác.”
Về
vị trí hai động Vật Dương và Vật Ác, học giả Minh Di ở Úc Châu, cho biết:
“Các
sử-sách Tống và Việt đều có chép hai tên đất ấy, nhưng không chỉ rõ ở vùng nào.
Nay góp-lặt và tham-khảo những tư liệu rời-rạc ta có thể nhận ra rằng hai động
ấy ở phía Tây-Bắc Cao-bằng ngày nay”
Thái
Quốc Mưu
_______________
*Tham khảo và trích từng phần, sách của
Học giả Minh Di:
- “Phê
bình cuốn Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn”
(sách chưa xuất bản)
-
Tự điển Hán Việt của Thiều Chửu
-
Bách Khoa Toàn Thư...

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét