VÀI DÒNG VỀ
M A N G V I Ê N
L O N G
Sinh
ngày 04 tháng 6 năm 1944 (giấy CMND ghi 1946), tại Thôn Hưng Định, Nhơn Hưng,
An Nhơn - Bình Định (nay là Phường Bình
Định - Thị xã An Nhơn).
Học
tiểu học: Trường tiểu học thôn Hưng Đinh – Nhơn Hưng – An Nhơn .
Học
trung học: Trung học Đễ Qui Nhơn (1957 – 1964).
Học
Sư Phạm: Trường QGSP Qui Nhơn (khóa 3)
Sinh
viên trường Luật & Văn Khoa Saigon từ năm 1965.
Dạy
học tại Phú Yên – nhiệm sở cuối : Trường trung học Tổng hợp Nguyễn Huệ - Tx Tuy
Hòa (1971 - 1978)
Thường
Trú : 294 - Ngô Gia Tự, Ph. Bình Định- Tx An Nhơn - BĐ
Điện
thoại : DD : 01266623513 )
E
Mail : mangvienlong1944@gmail.com.
Blogs
cá nhân : mangvienlong.vnweblogs.com
Đã cộng tác với các Tuần Báo - Tạp Chi:
Văn - Vấn Đề - Bách Khoa - Trình Bầy - Khởi Hành - Phổ Thông -Ý Thức - Nghiên
Cứu Văn Học, Khai Phá - Tuổi Ngọc – Thời Tập - Hiện Diện… ( trước 1975) Tuổi
Trẻ CN - Thanh Niên - Giác Ngộ - Văn Hóa PG - Văn Nghệ TP-HCM - Văn Nghệ Hội NV
- Hồn Việt - Thời Văn - Quán Văn - Văn Hiến - Mực Tím - Tuổi Ngọc - Văn Tuyển -
Vô Ưu - Hương Từ Bi - Suối Nguồn - Hoa Từ - Pháp Luân, Kiến Thức Ngày Nay…
Tác phẫm đã xuất bản:
1 - Trên Đỉnh Sa Mù ( Tập Truyện - 1969)
2 - Mùa Thu Trống Trải (Tập Truyện - 1970 )
3- Phố Người ( Tập Truyện - 1971)
4-
Có Những Mùa Trăng ( Tập Truyện -1972)
5-
Đóa Hồng Cho Người Yêu (Tùy Bút-1972)
6-
Biển Của Hai Người (Tập Truyện - 2003)
7-
Hỏi Lại Chính Mình (Tập Truyện - 2006)
8-
Trái Tim Còn Lại (Tập Truyện - 2007 )
9-
Ông Già Và Con Chim Hoàng Ly
(Tập
Truyện - 2008)
10-
Điều Bất Ngờ Đã Đến (Tập Truyện-2008)
11
- Người Giữ Cầu Bến Sông
(Tập Truyện -2009)
12
- Người Lưu Giữ Bản Thảo
(Tập Truyện - 2010)
13-
Một Thời Để Thương Yêu
(Tập Truyện - 2011)
14-
Mùa Xuân Ở Trên Cao
(Tập Truyện -2012)
15-
Như Những Giọt Sương
(
Tiểu Luận & Tạp Bút /tập 1 - 2012)
16
-Như Những Giọt Sương (Tập 2 - 2013)
17-
Quán Café Tulip (Tập Truyện - 2013)
18-
Dì Lucia (Tập Truyện - 1013)
19-
Cảm Ơn Nhau (Tập Truyện - 2014)
20-
Như Những Giọt Sương ( Tập 3 - 2014)
21- Tôi Đến Với Phật
(Tiểu Luận & Tạp Bút - 2014)
22- Như Áng Mây Trôi (Hồi Ký – 2015)
23 – Cũng Chỉ Là Giấc Mơ (Tập Truyện –
2015)
24-Xin Hãy Lắng Nghe…(Tạp Bút – 2015)
25-
Tuyển Tập Truyện Ngắn (Tập I – 9.2015)
26
-Tuyển Tập Truyện Ngắn (Tập II -12.2015)
27 – Tuyển Tập Truyện Ngắn (Tập III –
4.2016)
TUỔI THƠ LẶNG LẼ
Mẹ
tôi mất vào lúc hai giờ sáng ngày 27 tháng 10 âm lịch, mùa Đông năm 1952 vào
một đêm mưa dầm, cơn lụt lớn đang chảy tràn qua các ngả đường phố chợ thị trấn.
Đang nằm ngủ trong bồ lúa với chị, nghe tiếng gọi giật thảng thốt của bà Tám –
người giúp việc, hai chị em tôi đã mở choàng mắt ngơ ngác trong bóng tối đen
kịt, lạnh buốt; cả hai lật đật leo ra khỏi miệng chiếc bồ lúa cao. Anh Nguyên –
người anh cả của tôi, đã thắp sáng chiếc đèn chai dầu dừa cầm nơi tay, mở toang
hai cánh cửa, tay khoác vội tấm áo tơi lá, chuẩn bị chạy theo bà Tám xuống căn
nhà thuê tạm dưới phố dọc quốc lộ làm nơi ở cho mẹ tôi nằm riêng, từ hơn một
năm qua để tránh nguồn bệnh.
Gió
thốc vào ào ào mang theo cái lạnh của mưa, của nước lũ, của bóng đêm dày đặc
bên ngoài, càng khiến hai chị em tôi thêm hoang mang, lo sợ.
Dù
không biết rõ chuyện gì đang xảy ra cho mẹ, chị Thục – chị tôi, cũng khóc thét
lên. Tôi khóc theo chị. Chị Thục đòi theo, nhưng anh Nguyên dỗ dành, không cho
đi theo: “Má chết rồi, mày ở nhà ngủ với
em!” Anh tôi nói xong là vù chạy ra ngõ.
Mưa ào ào. Gió như bão. Chị Thục nắm tay tôi, kéo chạy theo, khóc ấm ức.
Tôi không còn khóc nữa, nhưng cảm thấy sợ hãi hơn vì trời tối mịt, mưa dữ, và
gió thổi thốc rầm rập từng cơn. Trên nền trời tối đen mênh mông, thỉnh thoảng
những tia chớp lóe lên, rồi rền vang tiếng sấm kéo dài như muốn xé tung bầu
trời dày đặc nước mưa…
Ra
đến con đường dẫn xuống phố thì mực nước đã lên cao trên đầu gối. Nước chảy
xiết. Nơi con mương nhỏ dẫn ra sông, nước xoáy ầm ầm, hung tợn. Chị Thục cầm
chặt tay tôi, dò dẫm từng bước. Nước sâu dần. Có đoạn lên đến bắp vế, đến bụng.
Hai chị em tôi nhiều lần suýt bị nước xô ngã vì trợt chân lên các mô đá. Cả hai
ướt rũ, nhưng chẳng thấy lạnh.
Khi
chị Thục và tôi đến được căn nhà của mẹ, thì đã có vài người trong xóm đang
thắp hai ngọn đuốc bằng rẻo vỏ ruột xe cao su, làm dép còn thừa, xin được ở các
tiệm làm dép trước hiên nhà. Anh Nguyên đang ở trong phòng với mẹ. Chị Thục và
tôi kéo nhau ào vào cánh cửa còn khép hờ, nhưng đã bị vài người ngăn lại. Tiếng
ông Bá – người chồng sau của mẹ tôi, cằn nhằn: “Mẹ mày đã chết rồi, vào làm gì cho lây bệnh! Không nên…”
Anh
Nguyên cũng vừa đẩy cửa bước ra, nói như ra lệnh với chị Thục: “Mày dẫn thằng
Long sang nhà bà Sáu, hai đứa ngủ nhờ ở đó đi!”
Vừa
lạnh và mệt – hai chị em tôi không còn biết làm gì, đã dắt nhau sang nhà bên
cạnh, rồi ôm nhau ngủ vùi trên chiếc phảng không chiếu chăn. Sáng sớm, khi hai
chị em tôi thức dậy chạy ra hiên nhà, mọi người đã tản mát đâu hết. Căn nhà của
mẹ đã sống cũng đóng cửa im ỉm. Nước của con sông bên chiếc cầu nhỏ gần nhà
chảy ầm ầm. Trời đã tạnh mưa. Nhưng hơi nước tràn đầy. Ánh sáng vàng vọt. Con
phố dọc quốc lộ im vằng, trơ vơ, và lạnh lẽo. Cái lạnh giá trống không, hiu
hắt, như chưa hề xảy ra chuyện gì khác thường; chị Thục vẫn giữ chặt bàn tay
tôi, nhưng không biết dẫn tôi đi đâu…
Đêm
kinh hoàng trong đời hai chị em tôi như chưa hề xảy ra. Không còn dấu vết của
tang thương, thay đổi nhỏ nào hiện lên trong đôi mắt thơ ngây tìm kiếm. Thằng
Tỷ – con ông Di Sanh, nhà ở bên kia đường nhìn thấy chị em tôi đứng co ro ở
hiên, vội chạy sang, giọng tự hào: “Tao đã theo quan tài của mẹ mày đến nơi
chôn trên khu gò Quảng Nghiệp. Nước còn ngập trong huyệt…”
Nghe
nó nói, hai chị em tôi ngơ ngẩn, và cảm thấy hối tiếc vì đã ngủ say. Sao mình
lại không được đưa mẹ ra đi như vậy nhỉ? Tôi bỗng cầm bàn tay thằng Tỷ: “Bây
giờ mày dắt tao đi thăm mẹ tao được không?” – “Được, nhưng để hôm nào trời nắng
ráo đã… Bây giờ đi nữa, Tía tao biết được chắc không tha…”
Tôi chỉ
sống bên cạnh mẹ, được bà chăm sóc, nuông chìu từ năm lên một, đến năm lên sáu.
Sau đó, bà phải nằm liệt giường vì căn bệnh ho ra máu và nỗi buồn phiền, cô
độc, vì biết đã bị lường gạt tình và tiền bởi người chồng sau ở cùng dãy phố.
Gã đã mò sang nhỏ to tán tỉnh, quyến dụ, trong lúc anh tôi lại đi học xa ở Hòa
Bình, còn chị em tôi còn quá nhỏ! Trong cô độc và phiền muộn, lại là người đàn
bà “nhẹ dạ” dễ tin, bà đã âm thầm đến với người đàn ông lẻo mép đã có vợ hai
con nầy và có một đứa con với gã. Trước gã, khi ba tôi mất được ba năm, cô tôi
đã làm mối cho mẹ tôi với một người bác sĩ đang làm việc tại nhà thương Song
Thanh, vợ mất, rất yêu quý mẹ tôi, nhưng bà không nghe.
Cha
tôi chết vào năm 33 tuổi (1944). khi tôi chỉ là một bào thai 6 tháng trong bụng mẹ, để lại một sản nghiệp
lớn: một cửa hàng đại lý thuốc cao đơn hoàn tán các nhà thuốc danh tiếng, một
cửa hàng vải, và một gian hàng đại lý rượu Sica, với căn nhà lầu một mê duy
nhất trong thị trấn vừa mới xây dựng xong, và dãy phố liền bốn gian ngay trước
chợ Bình Định. Tài sản lớn của ba tôi và sắc đẹp của mẹ tôi đã giết chết ông
trong một “chén thuốc uống lầm” của
gã lang vườn bị mua chuộc, và sau nầy, đã giết chết mẹ tôi bởi gã bất lương ở
cạnh khi tuổi chưa được bốn mươi!
Khoảng
năm 1950-1952 cuộc chiến tranh với Pháp đang đến lúc dữ dội hơn. Hằng ngày vẫn
nghe tiếng máy bay đi oanh tạc, vang dội tiếng bom nổ, đạn réo, người chết.
Hằng đêm vẫn nghe rõ tiếng đại bác ì ầm đây đó được bắn lên từ cửa biển Qui
Nhơn. Nhà nào cũng có đào sẵn hầm trú ẩn tập thể cho gia đình, hay nhiều hầm cá
nhân quanh nhà, trong khu vườn, hay ngoài lộ. Nhà tôi cũng có một căn hầm rất
kiên cố ngay sau nhà, bên gốc cây trứng cá, có thể chứa thêm bà con láng giềng
sang ẩn núp nếu có tiếng bom nổ của máy bay đang oạnh tạc ngay trong thị trấn.
Hằng
ngày mẹ tôi quảy gánh hàng xén xuống ngã tư phố, bày bán các món lặt vặt, như
chai dầu khuynh diệp, kim chỉ nút áo, xà phòng giặt, giấy quyến quấn thuốc, bút
mực, giấy manh hẫm, cân xách tay, thuốc cao đơn hoàn tán trị ban nóng sốt; tóm
lại, gian hàng xén của mẹ là những món góp nhặt từ trước còn sót lại, hay những
vật dụng gia đình được sản xuất ngay trong thị trấn, trong huyện. Các gian hàng
lúc ba tôi để lại, đã được tính thuế, đủ giao nộp cho chính quyền, và người
chồng sau của mẹ đã lén lút khiêng về cho gia đình ông ta ở gần nhà tôi mấy căn
phố, khi ba anh em ông ta là những người hăng hái nhất đến đập phá căn nhà lầu
của ba tôi, vì dựa vào lệnh “tiêu thổ kháng chiến”, không thể để cho Pháp đến
chiếm lấy làm nơi trú ẩn chống lại quân ta! Thời điểm ấy, cũng có vài căn nhà
gọi là kiên cố trong thị trấn, cũng bị ông ta dẫn toán người lạ đến đập phá…
Trong
cảnh đói khổ và hiểm nguy vì bom đạn, sinh hoạt hằng ngày của bà con là lo
“tăng gia sản xuất” cho có hạt lúa, củ khoai, trái bí, vồng rau mà cải thiện
trong bữa ăn thiếu hụt, mì độn nhiều hơn gạo, rau rác nhiều hơn cá mắm. Hai chị
em tôi phải ra đồng bắt cua, hái rau má, rau dền cho bữa ăn hàng ngày luôn luôn
thiếu cơm. Tôi thường trèo lên cây trứng cá ở trước sân nhà để tìm những trái
chín ăn cho đỡ đói, hay cầm sào đi dọc các dãy nhà dưới phố, khoèo từng trái
tra chín. Tìm những trái nhầu mọc hoang, những xoài rụng bên kia sông – ăn
thêm.
Buổi chiều, chị Thục thường rủ tôi lên cổng
thành Đông, leo lên đỉnh thành, tìm hái trái chim chim, vú dẻ, ổ tàu chín, hay
lấy trứng chim về hấp cơm. Tôi rất thèm ăn, nhất là món ăn ngọt, nhưng chưa bao
giờ anh Nguyên cho chúng tôi ăn cả! Tôi phải lén đi lượm mót đọt mía, trốn đâu
đó mà ăn. Nhưng vì “có tiếng” từ trước, gia đình tôi bị xếp vào thành phần
“tiểu tư sản”, suýt nữa là bị xếp vào “tư sản”. Những gia đình được liệt vào
danh sách “địa chủ, phú nông” thì không đêm nào là không được mời đi học tập về
chính sách “cải cách ruộng đất”…
Một
buổi tối có trăng, chị em tôi đang nằm chơi ở bãi cỏ trước nhà, bỗng thấy toán
người với đuốc cháy rực cầm tay, chạy ào ào dọc quốc lộ ra phía cầu Ông Sao
Mai… Chị Thục dắt tôi chạy xuống ngã tư, theo chân toán người quần đùi, áo
ngắn, đang dừng lại ngay bên kia cầu Thạch Tĩnh. Khi chúng tôi đến nơi thì họ
đã vào sân nhà ông Hương Nhâm, kéo ông ra giữa sân. Ông Hương thuộc loại “địa
chủ cường hào” vì có mấy mẫu ruộng và cái chức “Hương” gì đó mua từ “Bình Định
đốc bộ đường”, để được có “vai vế” trong làng xã, được “ăn trên ngồi trước” lúc
làng xã có hội hè đình đám; chỉ là cái danh hảo của những cậu ấm con nhà giàu
vậy thôi – nhưng nay, cũng “được” xếp đứng đầu danh sách! Lúa làm ra không dám
ăn, mà không đủ nộp thuế nông nghiệp. Họ bắt ông quỳ trên tảng đá ong, kể tội
của ông với người nhận làm ruộng cho ông từ thời nào. Vài ba tá điền trong toán
cũng soi đuốc vào mặt ông, trách mắng ông, rất hung hãn. Giữa cảnh tượng lạ
lùng ấy, chợt có tiếng người nào trong đám đông đang bu quanh trước hàng rào
nhà ông Hương, kêu lên: “Trời ơi! Ông ấy già rồi, tội ông ấy dữ vậy?” Tức thì
người trưởng toán hét to: “Ai? Ai vừa nói? Anh em chạy ra bắt nó vào đây…” Đám
đông vội bỏ chạy không kịp ngoái lại nhìn. Chúng tôi cũng sợ hãi chạy theo về
đến ngã tư… Đêm ấy với tôi thật kinh hãi, ám ảnh, khó quên…
Chiến
tranh ngày càng tiến gần đến thị trấn với những trận oanh tạc, thả bom xăng,
ngày và đêm.
Tôi
luôn nhớ lời dặn của mẹ nên không dám chạy đi chơi xa nhà. Nếu lỡ đi xa, khi
nghe tiếng máy bay, tôi thường tìm hầm cá nhân dọc đường, hay bất cứ hầm của
nhà ai, nhảy xuống trốn ngay. Bà còn cẩn thận dặn tôi, khi nằm dưới hầm, hãy nhớ
đọc câu: “Nam mô cứu khổ cứu nạn Quan thế
âm bồ tát” mà bà và các bà hàng xóm thường lâm râm đọc khi họ chạy sang núp
chung với gia đình tôi mỗi khi nghe tiếng bom nổ, hay tiếng máy bay ầm ầm rền
rít sát trên đầu.
Những
lúc ấy, tiếng niệm Phật càng to hơn, khẩn thiết hơn, trong khi tiềng nổ gầm
vang ngay trong thị trấn, trên cùng đường phố của mình. Sau bao lần máy bay
oanh tạc bằng đại bác và bom xăng khu phố, chợ búa, nhưng căn hầm trú ẩn của chúng tôi vẫn được
an toàn.
Tôi
đã từng đọc theo mẹ như vậy bao lần khi chui vào hầm trú ẩn lúc bà còn sống.
Đây là câu niệm Phật đầu đời đã đến với tôi từ năm lên sáu, lên bảy, và đã theo
tôi trong suốt cuộc đời lao đao sau này…
(Trích chương I trong “Như Ánh
Mây Trôi” Hồi ký – Xb Hội Nhà Văn – 2015)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét