Thứ Ba, 19 tháng 7, 2016

Chân Dung và Tiểu Sử Tác Giả PHẠM ĐỨC NHĨ



  • Bài 3ÔNG ĐỒ VÀ ĐẰNG VƯƠNG CÁC TỰ
    Phạm Đức Nhĩ
    Nhắc đến “tuyệt chiêu” thi hóa thân thành họa của Ông Đồ tôi lại nhớ đến hai câu thơ chữ Hán mà thời còn ở trung học, một vị giáo sư của tôi đã cho là hai câu thơ tả cảnh tuyệt vời của văn chương Trung Hoa:
                            Lạc hà dữ cô vụ tề phi
                            Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc
    Trần Trọng San dịch:
                            Ráng chiều rơi xuống, với cánh cò đơn chiếc cùng bay
                            Làn nước sông thu với bầu trời kéo dài một sắc.

    Sau này đi tù, có dịp gần gũi với nhiều bậc thức giả, kiến văn rộng, tôi lại nhiều lần được nghe họ trầm trồ khen ngợi hai câu thơ “độc nhất, vô nhị” đó nữa. Chính tôi, vừa đọc, vừa thả hồn vào cái cảnh trời mà hai câu thơ ấy vẽ nên, cũng thấy đẹp và hay thật; chữ nghĩa đã hoàn toàn tan biến, hóa thân thành một bức tranh thơ tuyệt tác. Và sau đây là hoàn cảnh ra đời của hai câu thơ ấy.

    Con vua Đường Cao Tổ là Nguyên Anh được phong là Đằng Vương, khi nhậm chức thứ sử tại Tô Châu đã sai đô đốc Hồng Châu xây cất một ngôi gác để làm chỗ ở. Ngôi gác tọa lạc tại quận Nam Xương, bên sông Tầm Dương, được đặt tên là Đằng Vương các. Năm Hàm Thuần thứ hai, sau khi hoàn tất công việc trùng tu Đằng Vương các, đô đốc Hồng Châu lúc ấy là Diêm Bá Tự mở đại yến mời tao nhân mặc khách đến sáng tác thơ văn để ghi nhớ.



Vương Bột bấy giờ 19 tuổi, nổi tiếng là văn hay, thơ phú giỏi, đã giong thuyền trên 100 dặm để đến dự bữa đại yến này. Khi được đưa giấy bút mời trổ tài thơ, chàng trai họ Vương khẳng khái đón nhận và ngay tại buổi tiệc đã sáng tác trọn vẹn bài Đằng Vương Các Tự.
Bài tự khá dài (hơn 760 chữ) có thể chia làm 5 phần:
  • Địa lý và con người ở quận Nam Xương, nơi xây Đằng Vương các.
  • Ngợi ca chủ và khách tham dự bữa tiệc.
  • Tả phong cảnh xung quanh (từ Đằng Vương các nhìn ra).
  • Cảm tưởng của riêng tác giả.
  • Đoạn kết là bài thơ thất ngôn bát cú cổ phong tuyệt bút.
    Hai câu thơ được đời sau nhắc đến và ca tụng hết lời, nằm ở phần tả phong cảnh xung quanh.

Tôi hơi dài dòng về nguồn cội, xuất xứ của hai câu thơ là để có thể đưa ra mấy lời nhận xét như sau:

     1/ Không còn nghi ngờ gì nữa, Đằng Vương Các Tự là một bài tự hay, một áng văn đẹp, được viết bởi một chàng trai trẻ tuổi, ngay từ thuở thiếu nhi đã nổi tiếng có tài văn thơ. Lời văn trong bài tự rất văn hoa, bóng bẩy, đẹp một cách hào nhoáng, lộng lẫy, được viết bằng lối văn biền ngẫu nên đọc lên nghe rất cân đối, nhịp nhàng, trơn tuột như một bài thơ.
      2/ Vương Bột lặn lội đường xa đến dự yến với mục đích biểu diễn, phô trương kiến thức uyên bác, văn tài điêu luyện của mình nên bài tự chữ dùng nhiều chỗ cầu kỳ, nhiều điển cố khó hiểu.
      3/ Ông viết bài tự để tặng người chủ bữa tiệc nên nhiều chỗ chữ nghĩa không thật sự phát xuất từ lòng mình, từ tấm chân tình của mình, nhiều câu có tính đãi bôi, đầy cung cách xã giao, nghe rất sáo.
       4/ Trong đám rừng hoa chữ nghĩa ấy nổi bật lên một cụm hoa thật đẹp, thật tươi thắm, đứng lẻ loi như một bức tranh thơ riêng biệt, có ma lực hớp hồn những người thưởng ngoạn. Đó chính là hai câu:
Lạc hà dữ cô vụ tề phi
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc.
       5/ Nhưng cây hoa ấy, bức tranh thơ tuyệt đẹp ấy, lại được đặt ở rất xa, mãi tận góc vườn, lẫn lộn với nhiều đồ vật trang trí khác, góp một phần rất khiêm tốn, điểm tô cho Đằng Vương các.

       Trong khi đó, Ông Đồ của Vũ Đình Liên, ngôn ngữ bình dị hơn, là cả một bộ truyện bằng tranh thơ sinh động. Người đọc không phải “đãi cát tìm vàng” như khi đọc Đằng Vương Các Tự, mà, với Ông Đồ, họ có thể thấy ngay trước mắt mình cả một hàng những thỏi vàng óng ánh.

Tham Khảo


Bài 4: SÔNG LẤP: MÔT BÀI THƠ TOÀN BÍCH

            Sau buổi nhậu cuối tuần, mấy thằng bạn ngồi uống trà, cà phê bù khú chuyện văn chương. Được một lúc, câu chuyện lan man đến thơ: làm thơ nên làm thơ dài hay thơ ngắn? Một ông bạn, sau khi nói một câu ba phải để vừa an toàn (khỏi sợ sai) vừa hợp lòng mọi người: “Thơ dài hay ngắn hoàn toàn tùy sở thích của thi sĩ”, rồi có lẽ do thúc đẩy của hơi men, bỗng nổi hứng tuyên bố thẳng thừng:
“Nhưng những bài thơ ngắn quá (4 câu hoặc ít hơn) không đủ để tác giả bày tỏ lòng mình; nó giống như mấy thằng cha mắc chứng sậu tinh, chưa nhập cuộc đã khóc ngoài quan ải, chưa đi đến chợ đã hết tiền, để người bạn tình nằm tô hô, thất vọng trên giường.”

            Vâng! Tôi nhiều khi đọc thơ, cũng có cái cảm giác thất vọng như cô gái “nằm tô hô trên giường.” Một bài thơ ngắn quá, chỉ giống như một màn đá phạt trong bóng đá, một pha phối hợp nhỏ của 2, 3 cầu thủ phe mình để vượt qua một cầu thủ đối phương. Ở đây kỹ thuật cá nhân được tận dụng tối đa; cầu thủ có thể phô diễn tài đi bóng, che bóng, lừa bóng, hoặc sút bóng bay theo đường vòng cung vào lưới. Nhưng người ta không thấy được sự lên xuống nhịp nhàng của cả 11 cầu thủ trên sân, không có cơ hội để thấy được tài của huấn luyện viên trong việc tổ chức, phối hợp đấu pháp toàn đội.

Trong một bài thơ ngắn thi sĩ phải chắt lọc từng chữ, từng câu để tự nó tạo được âm vang, hình ảnh đặc biệt, hầu lưu lại một chút dấu ấn trong lòng người đọc, bởi, với số chữ giới hạn, ông không có chỗ, không đủ thời gian đào con mương, trút cảm xúc trong lòng mình xuống để nó cuồn cuộn chảy thành dòng, sóng sau dồn sóng trước như thác đổ, khuấy động tâm hồn người đọc. Trong một bài thơ quá ngắn người đọc không có dịp để thấy cái bề thế của trận địa chữ nghĩa. Nó chỉ như một cuộc phục kích, đột kích cấp tiểu đội, trong đó người chỉ huy không có dịp để nghe tiếng rít xé trời của phản lực, tiếng gầm của hải pháo và pháo binh diện địa, tiếng ầm ì của thiết giáp, và đặc biệt, không có dịp để thấy từng đoàn quân, từng đoàn quân, hàng hàng lớp lớp tiến lên chiếm lĩnh mục tiêu.

            Với Sông Lấp của Tú Xương, một bài thơ rất ngắn, chỉ có 4 câu lục bát 28 chữ, người ta phải xem nó là một ngoại lệ rất hiếm hoi.
Trước khi quay lại cái giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 để tìm hiểu bối cảnh văn hóa, xã hội của Việt Nam lúc tác giả viết Sông Lấp rồi phân tích để tìm cái hay của bài thơ, tôi xin kể một kinh nghiệm đã trải qua để làm thí dụ so sánh.

            Có một dạo tôi bị nhốt xà lim ở A20, Xuân Phước. Chế độ ăn uống ở xà lim cực kỳ hà khắc. Mỗi ngày 2 bữa. Mỗi bữa chỉ có 2 muỗng cơm và 2 muỗng nước. Đến ngày thứ 20 trở đi, vì không có chất bổ dưỡng và mất nước, các tế bào nằm chết xếp lớp trên người tôi, tạo thành những lớp da cứ bong ra như vẩy cá. Tôi ngồi bóc hết lớp da này đến lớp da khác và nhìn thân người mình cứ teo tóp đi một cách rõ ràng. Đến ngày thứ 40 thì mông và bắp đùi đã gần như không còn thịt nữa….Đến ngày thứ 50 thì toàn thân chỉ còn một lớp da mỏng bọc xương, ngực thì có thể nhìn thấu từng mảnh xương sườn, đầu thì như một cái sọ dừa khô. Lúc ấy, thỉnh thoảng mê thiếp đi, tôi đã thấy thần chết, tay cầm lưỡi hái, từng bước đến gần bệ nằm của mình mà chân thì bị cùm, cửa xà lim thì đóng kín, khóa chặt, không làm sao chạy thoát được. Cái cảm giác ấy thật đáng sợ đến rùng mình. 

            Với Tú Xương thì lại khác. Nỗi sợ đến độ ám ảnh của tôi là sự suy kiệt thể xác. Với ông, là sự mất mát tinh thần. Ông không có cái vinh dự đỗ đầu cả 3 kỳ thi như Tam Nguyên Yên Đỗ, hoặc khiêm nhường hơn, đỗ Giải Nguyên (đầu thi Hương) như Nguyễn Công Trứ để được bổ quan, đem tài sức của mình phục vụ quê hương, đất nước. Ông chỉ đỗ Tú Tài (Tú rốt bảng trong năm Giáp Ngọ), không được vua ban áo mão, vinh quy bái tổ, sau đó được bổ quan cửu phẩm, như những ông Nghè, ông Cống. Nhưng ở làng Vị Xuyên quê ông, ông cũng được tiếp rước long trọng, nở mày, nở mặt với bà con, thôn xóm. Trong những buổi hội họp, tiệc tùng, đình đám, ông lại còn được vinh dự ngồi chiếu tiên chỉ (1). Hơn nữa, với sự tự tin vào văn tài của mình, với một tinh thần minh mẫn trong một thân thể khỏe mạnh của tuổi trung niên, đường thi cử của ông vẫn còn rộng mở. Ông có lý do để hy vọng. Hy vọng một ngày nào đó đỗ đạt cho bõ công đèn sách, đền đáp công lao của bà vợ đảm đang, đem tài sức phục vụ đất nước.

Nhưng thời thế không đứng về phía ông. Những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, nước Việt Nam đã bị người Pháp hầu như nắm toàn quyền cai trị. Triều đình bù nhìn nhà Nguyễn chỉ có quyền bổ nhiệm một số chức quan “hữu danh vô thực”, còn những chức vụ có thực quyền lèo lái guồng máy hành chánh của đất nước, đại đa số đều do người Pháp chỉ định. Ở miền trung và miền bắc, thi Hương chưa bị chính thức bãi bỏ nhưng số người học chữ Nho đã thưa giảm rất nhiều. Chính Tú Xương đã phải lên tiếng xác nhận:
Cái học nhà Nho đã hỏng rồi
Mười người đi học chín người thôi.
(Cái Học Nhà Nho)
 Ngay cả việc thi cử cũng không còn cái vẻ nghiêm trang, long trọng như ngày xưa
Lọng cắm rợp trời, quan Sứ đến,
Váy lê quét đất, mụ đầm ra.
(Vịnh Khoa Thi Hương)
Mà dù có đỗ đạt đi nữa cũng đâu còn cái vinh dự, cái niềm tự hào như thời đất nước còn độc lập, tự chủ
Một đàn thằng hỏng đứng mà trông
Nó đỗ khoa này có sướng không
Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt,
Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng !
  (Giễu Người Thi Đỗ)
Thêm vào đó, người Pháp cũng đã mở trường huấn luyện và một số kỳ thi riêng của họ để chọn người làm việc. Và cũng chính Tú Xương đã phải cay đắng than thở:
                        Nào có ra gì cái chữ Nho
                        Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co
                        Chi bằng đi học làm thầy Phán
                        Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò.
                                    (Chữ Nho)
Từng ngày, từng tháng trôi đi. Khung cảnh chính trị, văn hóa, xã hội không ngừng đổi thay trước mắt theo chiều hương xấu. Kho kiến thức sau bao năm đèn sách của ông – như đồng tiền trong một nền kinh tế lạm phát phi mã – ngày càng giảm giá trị. Con người sinh học của Tú Xương vẫn còn lây lất sống, nhưng trong tâm hồn ông, niềm hy vọng, niềm tin vào tương lai, đang đi dần đến cõi chết, không còn phương cứu vãn. Bài thơ Sông Lấp đã được viết trong hoàn cảnh đó.

SÔNG  LẤP
                        Sông xưa rày đã nên đồng
                        Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
                        Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
                        Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.

Tứ : Nghe tiếng ếch vọng lại từ khu nhà, vườn tược được xây dựng ngay trên lòng sông Vị Hoàng (nay đã bị lấp), tác giả giật mình tưởng tiếng gọi đò vọng lại và nhớ đến bến đò cũ, con sông xưa.
Ý: Tác giả nhớ thương, tiếc nuối cái thời Nho học - mà tác giả là một sĩ tử - còn được coi trọng.


Năm 1832, sau khi tr

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét