TRẦN THỌ - TÁC GIẢ BỘ CHÁNH SỬ
TAM QUỐC CHÍ – Bài 1
Thái
Quốc Mưu
Tác giả Bộ Chánh Sử Tam Quốc Chí là Trần Thọ
(陈寿), tự Thừa Tộ, sanh
năm 233, mất năm 297, nguyên quán ở quận Ba Tây (nay thuộc đô thị Nam Sung,
tỉnh Tứ Xuyên), làm quan Nhà Thục Hán, khi Thục Hán diệt vong, ông làm quan Nhà
Tây Tấn. Trần Thọ thuở nhỏ hiếu học, bái Tiều Chu làm thầy, sau đó giữ chức Quan
Các Lệnh Sử triều đình Thục Hán.
Trần Thọ vốn người ngay thẳng, trung thực
được người đương thời tôn là bậc chính nhân quân tử, không theo phe phái nào,
nhất là bọn hoạn quan Hoàng Hạo.
Trong thời gian đó, Trần Thọ khi làm Trước
Trác Lang bắt đầu biên soạn Thục Tướng Gia Cát Lượng Tập dâng lên triều đình,
Nhờ đó được thăng chức Trung Chính ở quận Dương Bình. Từ đó, Trần Thọ dồn hết
tâm huyết để biên soạn tác phẩm Tam Quốc Chí, ghi chép lại lịch sử Trung Quốc
thời kỳ Tam Quốc, tổng cộng 65 thiên, trở
thành một trong 24 bộ chính sử lớn của Trung Quốc.
Dưới
đây là tên Nhị Thập Tứ Sử Trung Hoa, gồm có:
1. Sử ký, của Tư Mã Thiên, 130 cuốn.
2. Hán thư, của Ban Cố, 100 cuốn.
3. Hậu Hán thư, của Phạm Diệp, 120 cuốn.
4. Tam
quốc chí, của Trần Thọ, 65 cuốn.
5. Tấn thư, do Phòng Huyền Linh chủ biên, 130 cuốn.
6. Tống thư, của Thẩm Ước, 100 cuốn.
7. Nam Tề thư, của Tiêu Tử Hiển, 59 cuốn.
8. Lương thư, của Diêu Tư Liêm, 56 cuốn.
9. Trần thư, của Diêu Tư Liêm, 36 cuốn.
10. Ngụy thư, của Ngụy Thâu, 114 cuốn.
11. Bắc Tề thư, của Lý Bách Dược, 50 cuốn.
12. Chu thư, do Lệnh Hồ Đức Phân chủ biên, 50
cuốn.
13. Tùy thư, do Ngụy Trưng chủ biên, 85 cuốn.
14. Nam sử, của Lý Diên Thọ, 80 cuốn.
15. Bắc sử, của Lý Diên Thọ, 100 cuốn.
16. Cựu Đường thư, do Lưu Hú chủ biên, 200 cuốn.
17. Tân Đường thư, của Âu Dương Tu và Tống
Kỳ, 225 cuốn.
18. Cựu Ngũ Đại sử, do Tiết Cư Chính chủ
biên, 150 cuốn.
19. Tân Ngũ Đại sử, do Âu Dương Tu chủ biên,
74 cuốn.
20. Tống sử, do Thoát Thoát chủ biên, 496
cuốn.
21. Liêu sử, do Thoát Thoát chủ biên, 116
cuốn.
22. Kim sử do Thoát Thoát chủ biên, 135 cuốn.
23.Nguyên sử, do Tống Liêm chủ biên, 210
cuốn.
24. Minh sử, doTrương Đình Ngọc chủ biên, 332
cuốn.
Về sau
có thêm 2 bộ sử:
- Tân Nguyên sử, do Kha Thiệu Văn chủ biên,
257 cuốn.
- Thanh sử cảo, doTriệu Nhĩ Tốn chủ biên, 529
cuốn.
Khi viết Tam Quốc Chi, Trần Thọ đã căn cứ vào
nhiều sử liệu như: Ngụy Thư của
Vương Thẩm (?-266), Ngụy Lược của
Ngư Hoạn, Ngô Thư của Vi Chiêu. Thục Hán không có chính sử. Trần Thọ
phải tự thu thập tư liệu để viết.
Trong Tấn Thư chép, thì Tam Quốc Chí ra đời
được đánh giá rất cao, đương thời và cùng lúc với Hạ Hầu Trạm biên soạn cuốn
Ngụy Thư khi xem Tam Quốc Chí của Trần Thọ thấy không bằng được liền tự tiêu
hủy tác phẩm của mình.
Lưu Hiệp, người thời Lương (Nam-Bắc triều)
trong cuốn Văn Tâm Điêu Long, tại mục Sử Truyện chép rằng: "Duy Trần Thọ tam chí, văn chất biện hiệp, Tuân, Trương tỷ chi ư
Thiên, Cố, phi vọng dự dã" (Dịch: Tam quốc chí của Trần Thọ thấm
nhuần chất văn, như Tuân, Trương so sánh với Thiên, Cố, chẳng phải khen quá
lời).
Tam Quốc Chí của Trần Thọ không những chỉ
chép khái quát tình hình chính trị, kinh tế, quân sự thời Tam Quốc mà còn đề
cập đến nhiều nhân vật xuất sắc trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, kỹ
thuật..., đồng thời ghi chép về một số dân tộc thiểu số và các nước láng giềng
của Trung Quốc (như Nhật Bản, Triều Tiên, Ấn Độ, Việt Nam…)
Tính trung thực của Trần Thọ khi viết sử cũng
có nhiều ý kiến phê bình khác nhau. Theo Tấn Thư chép lại, thì Trần Thọ từng
nói với con của Đinh Nghi, Đinh Hạo - hai người có tiếng ở nước Ngụy - rằng: "Khả mịch thiên hộc mễ kiến dữ, đương
vị tôn công tác giai truyện" (Dịch:
Nếu tìm cho ta được nghìn hộc lương (khoảng 10 ngan kgs gạo), ta sẽ vì tôn phụ
mà viết truyện cho hay). Kết quả bị từ chối, Trần Thọ cũng không viết
truyện về người cha của hai người họ Đinh nữa.
Câu chuyện Trần Thọ đặt điều kiện với anh em
hoàn toàn sai sự thật, vì Đinh Nghi (丁仪), tự Chính Lễ, mất
năm 220, làm quan Ngụy Tào, trong khi Trần Thọ sanh năm 233, nghĩa là Đinh Nghi
chết trước khi Trần Thọ chào đời 13 năm. Còn Đinh Hạo, tuy trong sách sử không
nói rõ ràng, nhưng ta có thể hiểu Hạo cũng thuộc tầng lớp trước Trần Thọ thì
lấy ai để Trần Thọ đặt điều kiện như mô tả? Sự kiện trên có thể những kẻ cùng
thời với Trần Thọ do đố kỵ tài năng mà ngậm nọc độc phun vào tên tuổi Trần Thọ
chăng? Đời thời nào? Ở đâu mà chẳng có loại người bần tiện?
Ngoài ra cũng có ý kiến cho rằng do cha của
Trần Thọ bị Gia Cát Lượng (Khổng Minh
GIA Cát Lượng (chữ GIA Cát đọc là CHƯ Cát mới đúng. Trong bài nầy, khi đề cập
đến họ GIA Cát - tôi viết lại là CHƯ
Cát – để chính thức hóa cải sửa cho đúng với ngôn từ trong nguyên tác - xử
tội nên trong quyển 35 Tam Quốc Chí Chư Cát Lượng truyện Trần Thọ đánh giá Chư
Cát Lượng là “danh quá kỳ thực” (Dịch: tiếng tăm vượt quá sự thực) có
thể là dùng việc công để báo thù riêng.
Cha Trần Thọ là Trần Thức (陳式) là tướng của Hoàng
Trung, sau chiến dịch Hán Trung và trận Hào Đình được phong làm Đại Tướng Quân,
phục vụ dưới trướng Lưu Bị. Trần Thức (Cha
của Trần Thọ) làm Tham Quân cho Mã Tốc, Mã Tốc trái lệnh làm mất Nhai Đình
bị Gia Cát Lượng xử chém.
Mã Tắc (馬謖 – thường gọi Mã Tốc), tự là Ấu Thường (幼常), người Nghi Thành, Tương Dương, làm tướng
của Thục Hán, sinh 190, mất 228, ông có 5 anh em trai, người giỏi nhất là Mã
Lương, anh của Mã Tắc (Mã Lương đi theo
Lưu Bị khi Lưu Bị đang trấn giữ Kinh châu). Mã Tắc theo anh đến phục vụ Lưu
Bị. Ông được bổ nhiệm làm Tòng sự Kinh châu.
Năm 214, Lưu Bị đánh chiếm Tây Xuyên của Lưu
Chương, Mã Tắc được gọi vào Thục giữ chức Thành Đô lệnh, Thái thú quận Việt
Tuyển.
Mã Tắc là người có tài, thích bàn luận mưu
lược và chiến thuật, được Khổng Minh Chư Gia Cát Lượng rất trọng vọng. Nhưng,
Lưu Bị trước khi mất (223) lại khuyên Gia Cát Lượng không nên trọng dụng Mã Tắc
vì, theo Lưu Bĩ Mã Tắc là người hay cường ngôn (nói quá trớn).
Chư Cát Lượng bỏ ngoài tai lời Lưu Bị, thăng
Mã Tắc làm tham quân, và thường gọi ông đến thảo luận việc quân sự, thường bàn
luận rất lâu, tỏ ra trọng nể và rất hợp ý nhau.
Năm 225, Chư Cát Lượng xua quân đánh lực
lượng nổi dậy của Ung Khải tại Nam Trung (đã phản Thục theo Ngô). Mã Tắc ở lại
Thành Đô. Khi chia tay lên đường, Chư Cát Lượng hỏi kế sách, Mã Tắc khuyên Chư
Cát Lượng:
“Hôm
nay ngài dùng vũ lực dẹp họ thì mai có cơ hội họ lại làm phản. Muốn diệt sạch
chúng để trừ hậu họa thì kẻ nhân từ không nên làm thế, mà trong lúc vội vã càng
khó làm được. Đạo dùng binh nên công tâm là thượng sách, công thành là hạ sách;
tâm chiến là thượng sách, binh chiến là hạ sách, hy vọng ngài có thể khiến
chúng tâm phục, Nam Trung tự nhiên yên định.”
Ta có thể nghĩ, khi ấy Khổng Minh trố mắt
ngạc nhiên, trong lòng vô cùng thán phục, ngoài mặt vẫn điềm nhiên. Mưu sĩ mà!
Trong cuộc Bắc phạt lần thứ nhất, Mã Tắc là
người đã bày kế ly gián để Ngụy Đế Tào Duệ cách chức đại đô đốc của Tư Mã Ý
khiến quân Ngụy thua hết trận này đến trận khác. Điều này khiến Chư Cát Lượng
càng nể trọng và tin cậy Mã Tắc hơn.
Chính lời khuyên và kế ly gián của Mã Tắc
trên đây đã đưa ông đến cái chết.
Năm 228, Chư Cát Lượng mang quân đánh Ngụy
lần thứ nhất. Ngụy Minh Đế Tào Tuấn sai Tư Mã Ý và Trương Cáp mang quân ra
địch.
Để đối với danh tướng Trương Cáp, mọi người
đều cho rằng nên dùng mãnh tướng Ngụy Diên hoặc Ngô Ý đã dày dạn kinh nghiệm
trận mạc, nhưng Chư Cát Lượng lại quyết định chọn Mã Tắc làm tiên phong. Mã Tắc
được lệnh cùng Vương Bình cầm quân khẩn cấp trấn thủ Nhai Đình.
Đến Nhai Đình, Mã Tắc làm ngược lại với
phương án chỉ huy của Chư Cát Lượng. Mã Tắc không đóng quân ở nơi đường cái,
gần sông là chỗ có nước cho quân dùng, mang 2 vạn quân trấn giữ trên núi với
chiến thuật “Trên núi đánh xuống, thế như chẻ tre”. Vương Bình nhiều lần phản
đối, nhưng Mã Tắc không nghe. Cuối cùng, Vương Bình đành xin Mã Tắc cho 5000
người ngựa ra đóng trại dưới chân núi.
Trương Cáp theo sự chỉ đạo của Tư Mã Ý đã
mang quân vây trại của Mã Tắc trên núi, rồi cắt đứt đường nước. Quân Thục thiếu
nước, hoảng loạn. Trương Cáp dồn sức tấn công phá tan quân Mã Tắc. Cánh quân Mã
Tắc bỏ chạy tán loạn. Nhai Đình thất thủ. Đại quân Thục không thể tiến nữa,
buộc phải lui về Hán Trung.
Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, La Quan Trung
viết: “Để giữ nghiêm quân pháp, Chư Cát Lượng hạ lệnh giam Mã Tắc vào ngục đợi
ngày xử tử hình. Trước khi bị chém, Mã Tắc viết thư cho Gia Cát Lượng, xin hãy
nâng đỡ cho con mình. Tướng sĩ nước Thục đều thương xót ông. Khi bị chém, Mã
Tắc mới 39 tuổi. Sau này Chư Cát Lượng giữ lời hứa với Mã Tắc vẫn trợ cấp cho
gia đình Mã Tắc như lúc ông còn sống.”
Tưởng Uyển thắc mắc hỏi Chư Cát Lượng: “Lẽ ra
nên để Mã Tắc sống để có ngày lập công chuộc tội.” Chư Cát Lượng nói rằng, “Bản
thân ta cũng rất thương xót Mã Tắc nhưng vì giữ nghiêm mệnh lệnh nên phải thực
thi.”
Về việc Mã Tắc bị xử tử, sử gia Tập Tạc Xỉ
không đồng tình với Chư Cát Lượng. Ông dẫn trường hợp vua nước Tấn không giết
tướng Tuân Lâm Phủ bại trận nên sau này có ích cho nước, còn Sở Thành vương
không biết tài năng của Thành Đắc Thần cũng xử tử vì một trận thua nên sau nầy
thất bại. Sau đó Tập Tạc Xỉ phân tích thêm:
“Nước
Thục hẻo lãnh một phương, nhân tài vốn ít hơn nước khác mà lại giết kẻ tuấn
kiệt, coi minh pháp quan trọng hơn nhân tài... muốn thành đại nghiệp há chẳng
phải rất khó sao? Huống hồ Lưu Bị vốn đã nói rằng Mã Tắc không nên trọng dụng,
Chư Cát Lượng không nghe vẫn dùng ông, bản thân điều này đã cho thấy Mã Tắc là
nhân tài không thể xếp xó, không thể khinh sát.”
Đồng thời, Tập Tạc Xỉ phê phán: “Chư Cát Lượng là người điều khiển thiên hạ
mà không lượng tài tiết kiệm, trái lời răn của minh chủ, quyết đoán sai lầm,
đặt người sai vị trí, giết người hữu ích.”
Căn cứ theo lời của Khổng Minh khi trả lời
Tưởng Uyển (trên đây): “Bản thân ta cũng
rất thương xót Mã Tắc nhưng vì giữ nghiêm mệnh lệnh nên phải thực thi.” Thì
lời nói nầy hoàn toàn giả dối ẩn chứa lòng hiểm độc của kẻ sĩ. Đã thương tại
sao giết? Còn cho rằng giết để giữ nghiêm quân lệnh chỉ là cái cớ mà thôi!
Chúng ta đều biết, ngay chính bản thân Khổng
Minh Chư Cát Lượng, cũng đã trái lệnh Vua, khi Lưu Bị răn đe Khổng Minh không
nên dùng Mã Tắc trong câu: “Lưu Bị trước
khi mất (223) lại khuyên Gia Cát Lượng không nên trọng dụng Mã Tắc vì ông (Mã
Tắc) là người hay cường ngôn”.
Nhà vua (Lưu Bị) đã nói trước. Khổng Minh
trái lệnh, tự sử dụng Mã Tắc theo ý ông ta. Khổng Minh đã gián tiếp (qua tay Mã
Tắc) đã làm tan rã gần hai mươi vạn quân Thục bởi tay Trương Cáp. Tại sao Khổng
Minh không tự thấy cái lỗi nầy của y? Vì vậy, về cái chết của Mã Tắc, ta có thể
nghĩ, qua việc Nhà Sử Học Tập Tạc Xỉ phê phán và Tưởng Uyển đã “chất vấn” Khổng
Minh như trên, ta có thể hiểu Tạp Tạc Xỉ và Tưởng Uyển đã biết rất rõ lòng dạ
sâu hiểm của Khổng Minh trong việc ông ta giết Mã Tắc!
Khổng Minh e sợ Mã Tắc là kẻ tài ba lại trẻ
tuổi, tương lai sẽ xán lạn, dễ dàng thăng tiến trên đường danh vọng, trong
tương lai sẽ lấn át và làm giảm địa vị, danh vọng, uy quyền của Chư Cát Lượng ở
ngày sau, nên nhân dịp Mã Tắc thi hành sai quân lệnh bèn giết trước để giữ thế
đứng cho bản thân y.
Suy cho tường tận cái tội của Khổng Minh bất
chấp lời khuyên của vua (không nghe lời khuyên của Lưu Bị) còn nặng gấp trăm
ngàn lần hơn khi so với tội của Mã Tắc chỉ vi phạm quân lệnh của quân sư. Trong
khi về chiến thuật, thì tướng ngoài trận địa đôi khi cũng phải trái lệnh vua.
Trong đời sống của con người, đôi khi chúng
ta vẫn thấy có những kẻ bề ngoài cố tạo dáng đạo mạo, nói năng chừng mực,
nghiêm chỉnh, đôi khi còn một kính hai thưa, nhưng trong lòng khát khao danh
vọng, chất chứa gươm đao chẳng phải là ít!
Cái chết của Mã Tắc, cách hành xử của Khổng
Minh trong việc giết Mã Tắc cho ta chiêm nghiệm, hiểu biết thêm lòng dạ của con
người…
***
Hoàng Trung (黄忠) tự Hán Thăng (汉升), 145-220, quê ở
quận Nam Dương thuộc Kinh Châu. Ông là một vị tướng cuối thời Đông Hán đầu thời
Tam Quốc có sức mạnh muôn người là một trong ngũ hổ tướng của quân Thục gồm:
Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân (Triệu Tử Long), Hoàng Trung và Mã Siêu.
Ban đầu, Hoàng Trung theo Lưu Biểu, cùng với
Lưu Bàn (cháu Lưu Biểu) trấn thủ huyện Du thuộc quận Trường Sa. Về sau, Tào
Tháo đánh chiếm Kinh châu, cho ông làm chức Tỉ Tướng Quân, dưới trướng Hàn
Huyền, Thái Thú Trường Sa. Sau Lưu Bị lấy lại Kinh Châu, ông trở về với Thục
Hán.
Khi Khổng Minh đem quân đi Bắc chinh (đánh Ngụy Tào) Trần Thức đi theo. Khổng
Minh sai 4 tướng Ngụy Diên, Trần Thức, Trương Ngực, Đỗ Quỳnh điều binh qua cửa
hang Cơ Cốc. Bốn tướng đang chuẩn bị thì Đặng Chi mang lệnh Khổng Minh đến
truyền rằng, “Không nên khinh địch, coi chừng có quân mai phục.” Trần Thức
không nghe, tự dẫn 5 ngàn quân qua khỏi cửa hang Cơ Cốc mới vài dặm, liền bị
quân Tào phục kích, giết trên 4 ngàn quân. Trần Thức nhờ Ngụy Diên đến cứu kịp
mới thoát chết.
Khổng Minh CHƯ Cát Lượng được các nhà phê
bình văn học Tàu “phong” như sau: “là một
nhà ngoại giao cự phách và cũng là một nhà phát minh tài năng. Đóng góp lớn
nhất của Chư Cát Lượng chính là việc giúp hình thành thế chân vạc tam quốc,
liên minh Thục Ngô chống Tào. Ông được công nhận là một trong những chiến lược
gia vĩ đại và xuất sắc nhất trong thời đại của ông, và được so sánh với một
chiến lược gia tài ba khác của Trung Quốc là Tôn Tử”, trong khi Khổng Minh
chẳng để lại hậu thế bộ Binh Thư nào! Còn thế “Chân Vạc” là lẽ tất nhiên phải
có ở bất cứ quốc gia nào, nếu sự kiện xảy ra 3 chế độ quyền lực có thể chế
chính trị khác nhau, chứ Khổng Minh chẳng có công lào, mưu chước gì cả.
Nhà Sử Học Trần Thọ “phê” Khổng Minh, “Danh quá kỳ thực.” (tiếng tăm vượt quá tài năng) rất chính
xác.
Thực tế, tài cán Khổng Minh chỉ “thường
thường bậc trung” (Kiều), được cái dẽo miệng. khéo ăn, khéo nói.
Sau khi Khổng Minh qua đời, Tư Mã Viêm lên
ngôi hoàng đế. Viêm nghe tin trong số quan quân triều đình của ông có viên
tướng quân là hậu thế của Chư Cát Lượng, Viêm bèn nghĩ cách trừng trị người
này.
Một hôm, Tư Mã Viêm tìm cớ định tội chết cho
viên tướng mang họ Chư Cát. Trên Kim điện, Viêm cất lời hỏi: “Trước khi chết,
tổ phụ nhà ngươi đã nói những gì?”.
Kẻ “tội đồ họ Chư Cát” bèn thật thà thưa với
Tư Mã Viêm lời dặn dò của Gia Cát Lượng. Nghe xong, Tư Mã Viêm bèn truyền lệnh
cho quân lính dỡ nhà, lấy bọc giấy ra xem. Bên trong chỉ có một phong thư kín,
phía trên viết rằng: “Ngộ hoàng nhi khai” (nghĩa là đúng hoàng thượng mới mở ra
xem).
Đám binh sĩ bèn dâng thư lên vua. Trong thư
có mấy chữ: “Xin lùi ba bước”. Tư Mã Viêm lập tức làm theo. Vừa đứng vững đã
nghe thấy một tiếng “rầm”, chiếc xà rơi thẳng xuống chỗ vua ngồi, khiến bàn ghế
tan tành. Viêm trông thấy vậy mà sợ hãi lạnh người, rồi lại xem tiếp những dòng
ở cuối thư: “Ta cứu mạng ngươi, ngươi hãy giữ lại mạng sống của con cháu ta”.
La Quán Trung, vốn xuất thân vào hàng thế gia
vọng tộc, có thể tổ tiên được nhiều ân sũng của Hán triều, nên trả ơn bằng cách
“đưa” những nhân vật của Thục Hán trong Tam Quốc Diễn Nghĩa lên tận mây xanh.
Chẳng hạn, cho rằng Khổng Minh Chư Cát Lượng
là thần cơ diệu toán, mưu lược nghìn lần không sai một. Nhưng, từ năm 227, ông
ta xua quân ào ạt Bắc phạt, vượt Kì Sơn, giao chiến với quân đội Nhà Ngụy ở
phía Bắc nhưng không kết quả. Sau đó, Khổng Minh tiến hành Bắc chinh thêm 5 lần
nữa, cũng chẳng thu tóm được nước Ngụy. Năm 234, Chư Cát Lượng tiến hành cuộc
Bắc phạt lần thứ bảy, giữa đường thì lâm bệnh nặng chết. Thực tế, trong 6 lần đánh Ngụy Khổng Minh không trực tiếp đi cả 6 lần,
mà chỉ ra Kỳ Sơn có vài lần.
Nếu là “Thần cơ diệu toán”, thế tại sao trước
khi mở những cuộc Bắc chinh Khổng Minh không tiên đoán trước để tránh hậu quả
đi không về rồi? Đem quân đi xăm lược nước người, dù trực tiếp điều binh khiển
tướng hay chỉ gián tiếp ngồi nhà chỉ huy, khiến quân lính gian khổ, hao tốn
công quỹ mà không gặt hái được kết quả, đồng nghĩa với thua. Điều nầy, minh
chứng cho ta thấy cái nhìn của Khổng Minh đánh giá vào ngước Ngụy quá kém cỏi,
quá tồi tệ, không biết người chẳng biết ta, thì làm sao thắng địch? “Thần cơ
diệu toán” ở đâu mà để cho sáu lần hành quân xăm lăng nước người đều không
thành công. Đến lần thứ bảy, vì lo nghĩ nhiều, mất ăn mất ngủ bị bệnh rồi chết
trong quân trại. Thử hỏi, những kẻ cho Khổng Minh Chư Cát Lượng là “thần cơ
diệu toán” thì “thần cơ diệu toán” ở chỗ nào?
Như vậy, việc đọc di thư của Khổng Minh để
lại, cứu Tư Mã Viêm thoát chết do nạn trần nhà rơi xuống chỉ hoàn toàn do La
Quán Trung vì tinh thần hoài Hán mà mà bịa ra thôi!
Ngoài ra, khi viết về Khổng Minh Chư Cát
Lượng, La Quan Trung còn sai lầm ở các chỗ sau đây:
- Từ Thứ ra đi đã vòng lại để tiến cử Chử Cát
Lương / Thực ra, Từ Thứ và Chư Cát Lượng
cùng phục vụ Lưu Bị một thời gian trước đó. (Như vậy thì sao lại có chuyện
đi rồi vòng trở lại tiến cử Khổng Minh?)
- Chư Cát Lượng bày kế cho Lưu Bị hỏa thiêu
gò Bác Vọng / Thực tế, Lưu Bị tự đốt Bác
Vọng trước khi có Chư Cát Lượng.
- Chư Cát Lượng hỏa thiêu Tân Dã / Trận Tân Dã không có thật trong chánh sử.
- Chư Cát Lượng đối đáp với quần nho Đông Ngô
/ Thực ra, Chư Cát Lượng chỉ sang Đông
Ngô để đề nghị liên minh. Không có chuyện đối đáp.
- Chư Cát Lượng mượn bài phú Đài Đồng Tước
của Tào Thực để khích Chu Du đánh trận Xích Bích / Thực tế, sau trận Xích Bích, Tào Tháo mới xây đài, sau đó Tào Thực mới
làm bài phú.
- Chư Cát Lượng dùng "thuyền cỏ mượn
tên", thu hàng vạn mũi tên của Tào Tháo trong trận Xích Bích / Thực tế, Tôn Quyền mới là người dùng thuyền
cỏ hứng để lấy (mũi) tên của Tào Tháo trong trận Nhu Tu năm 213.
- Lỗ Túc theo lệnh Tôn Quyền và Chu Du đi
"đòi Kinh châu"; Lưu Bị và Chư Cát Lượng “trả ơn” xương máu của người
Giang Đông bằng cách chấp nhận ký giấy “mượn Kinh châu” / Trong khi chánh sử
chép đoạn nầy (trích): “Lưu Bị và
Gia Cát Lượng sang thỉnh cầu Tôn Quyền để được bàn giao Giang Lăng, hầu đánh
đổi nửa quận Giang Hạ của Lưu Kỳ mới mất.”
- Bàng Thống bị Trương Nhiệm bắn chết ở gò
Lạc Phượng, sau đó Chư Cát Lượng bắt Trương Nhiệm / Thực ra, Bàng Thống
chết ở Lạc Thành, Lưu Bị tự chiếm Lạc Thành và bắt Trương Nhiệm.
- Tôn Quyền bắt giam gia quyến Chư Cát Cẩn -
anh của Chư Cát Lượng, gây sức ép buộc Lưu Bị trả 3 quận Trường Sa, Linh Lăng
và Quế Dương / Chánh sử: “Tôn Quyền tập
kích phía nam Kinh châu, chiếm 3 quận Linh Lăng, Quế Dương, Trường Sa.”
- Chu Du chết vì bị Khổng Minh chọc tức 3
lần, trước khi chết còn uất ức than rằng: “Trời
đã sinh Du sao còn sinh Lượng! / Chánh
sử: “Chu Du vì đau ốm mà chết!” (không phải do Chư Cát Lượng chọc tức. Và.
sử sách không hề đề cập đến chuyện Chu Du than thở câu trên.)
- Kế không thành của Chư Cát Lượng / Không do sáng kiến của Khổng Minh, mà là ĂN
CẮP mưu lược của tướng Tống trong chiến tranh Lưu Tống - Bắc Ngụy thời Nam Bắc
triều, rồi bày KẾ KHÔNG THÀNH tưng tự như vậy.
- Chư Cát Lượng mắng chết Vương Lãng ngoài
mặt trận thời Tào Tuấn / Thực tế, hai
người chỉ thư từ qua lại thời Tào Phi. Không có chuyện Vương Lãng chết vì
chuyện đó.
- Khổng Minh thừa cơ chiếm cả Giang Lăng và
Tương Dương từ tay Tào Nhân, phỗng tay trên của Chu Du khiến Chu Du uất ức mà
thổ máu / Thực tế, Tào Nhân vẫn giữ
thành Tương Dương (thời Tam Quốc, Ngụy chưa từng mất nơi này), còn Chu Du chiếm được Giang Lăng năm 209.
- Khổng Minh tăng bếp lửa để lừa Tư Mã Ý / Đó là mưu lược của Ngu Hủ lừa quân Khương
trước sự việc đó 70 năm.
- Hỏa thiêu hang Thượng Phương / Hoàn toàn bịa đặt. Chánh sử không hề chép
chuyện nầy.
(Kính mời quý độc giả xem tiếp bài 2)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét