Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2016

BÙI HỮU NGHĨA -
RỒNG VÀNG ĐỒNG NAI

Nguyễn Thanh
Image result for bùi hữu nghĩa
bùi hữu nghĩa


Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872), hay Thủ khoa Nghĩa, hiệu Nghi Chi, người Bình Thủy, tỉnh Cần Thơ. Ông trước làm quan nhà Nguyễn, là nhà thơ, soạn tuồng và là bạn cùng chí hướng với một số sĩ phu và nhà thơ yêu nước như : Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), Phan Văn Trị (1830-1910), Huỳnh Mẫn Đạt (1807-1882)…và có chân trong nhóm Bạch Mai thi xã của danh sĩ Tôn Thọ Tường (1825-1887) ở Gia Định. Ngoài vở tuồng Kim Thạch kỳ duyên, Thủ khoa Nghĩa còn để lại vài chục bài thơ làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật về đề tài tức cảnh, vịnh vật và ba bài văn tế : vợ, Nguyễn Thị Tồn, con gái cùng một số câu đối qua các giai thoại.
               
Sau hòa ước Giáp Thân (1884) còn gọi là hòa ước Patenôtre, ký với triều đình nhà Nguyễn, sáu tỉnh Nam kỳ đã hoàn toàn bị mất về tay thực dân, Pháp bắt đầu ổn định dần guồng máy cai trị trên đất nước Việt Nam. Trước thời điểm đó, nhiều cuộc khởi nghĩa giải phóng đất nước của những nhà yêu nước địa phương lục tục nổ ra khắp nơi. Với thủ đoạn tinh vi, Pháp muốn có người Việt trong bộ máy cai trị chính quyền thực dân, đã tìm cách mời sĩ phu, nhân tài bản xứ ra tợp tác với bọn chúng. Sau khi nhà thơ Nguyễn Đình Chiều khảng khái từ chối lời mời hợp tác của viên tỉnh trưởng người Pháp ở Bến Tre : Michel Ponchon, nhiều văn nghệ sĩ yêu nước khác ở miền Nam trong đó có Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, Bùi Hữu Nghĩa.với lập trường đứng hẵn về phía dân tộc. Riêng Thủ khoa Nghĩa lúc đầu có làm làm quan trong triều đình nhà Nguyễn và sau khi từ quan về dạy học, cũng đã thể hiện rõ ràng thái độ không ưa bọn ngoại xâm đang thống trị đất nước ta.
 
Bùi Hữu Nghĩa, trước có tên là Bùi Quang Nghĩa, hiệu Nghi Chi. Ông sinh năm Đinh Mão (1807) tại làng Long Tuyền, tổng Định Thới, huyện Vĩnh Định, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh (nay thuộc phường An Thới, quận Bình Thủy, thành phố, Cần Thơ). Ông xuất thân từ một gia đình lao động lam lũ. Cha là Bùi Hữu Vị làm nghề chài lưới. Thông minh và chăm chỉ, nhưng nhà nghèo, nên Bùi Hữu Nghĩa đi học chữ Hán chỉ được vài năm. Vì thương ông hiền lành và chăm học, một người giàu có cùng xóm họ Ngô, giúp Bùi Hữu Nghĩa lên Biên Hòa, ở đậu tại nhà ông Nguyễn Văn Lý - về sau được ông Lý gả con gái đầu lòng cho -  đề theo học với thầy Đỗ Hoành. Bùi Hữu Nghĩa vẫn học giỏi, kết quả vượt trội, được thầy khen, bạn mến, Đến khoa thi Hương năm Ất Vị (1835) tại Gia Định, Bùi Hữu Nghĩa ra thi và đỗ thủ khoa, nên ông được gọi là Thủ khoa Nghĩa. Sau khi đăng khoa, Bùi Hữu Nghĩ được triều đình cho tập sự ở bộ Lễ rồi sau đó bổ làm Tri huyện Phước Chính, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa (nay là tỉnh Đồng Nai). Nơi đây, ông làm việc với tính khảng khái, bộc trực lại thanh
ưa, nên bị đổi xuống làm Tri huyện Trà Vang (tức Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long) dưới quyền của Tổng đốc Trương Văn Uyển và Bố chánh Truyện. Tại Trà Vinh, cũng với bản tính thẳng thắn, cương trực, tri huyện Bùi Hữu Nghĩa từng cho đánh đòn trị tội xấc láo người em vợ của bố chánh Truyện, cho nên cấp trên đã có sẵn thành kiến, tư thù với họ Bùi. Nhân vụ Láng Thé, Bùi Hữu Nghĩa bị họ khép ông vào tội chết.
 
Nguyên ngày trước Trà Vinh là một địa bàn cộng cư của các dân tộc người Kinh, Hoa và đa phần là ngườ Khmer. Vào năm 1783, trong lúc sa cơ thất thế, chúa Nguyễn Ánh (sau này là vua Gia Long) bị quân Tây Sơn truy đuổi phải về đây ẩn náu, được người Khmer hết lòng che chở đùm bọc, sẻ chia lương thực và còn tình nguyện theo phò tá. Do vậy, sau khi thống nhất giang sơn lên ngôi, vua Gia Long đã xuống chiếu vĩnh viễn miễn thuế cho tất cả người Khmer đến khai thác nguồn lợi thủy sản ở rạch Láng Thé thuộc huyện Trà Vinh. Biết được nguồn lợi lớn dễ kiếm ăn, một số địa chủ người Hoa đã đem tiền đút lót cho Tổng đốc Uyển và Bố chánh Truyện để giành độc quyền khai thác cá tôm ở con rạch trên. Uất ức, tháng 10 năm Mậu Thân (1848), một số người Khmer, do ông Trưởng Sóc Nhê-srok dẫn đầu, đã kéo đến gặp Tri huyện Bùi Hữu Nghĩa để khiếu kiện. Biết được hành động có tính bao che của quan trên và việc cậy thế như được thế lực mạnh bảo kê của nhóm người Hoa, và đẩy dân nghèo Khmer vào cảnh khó khăn, Tri huyện Bùi Hữu Nghĩa phân xử : “Việc tha thuế thủy lợi là ơn huệ của vua Thế Tổ (vua Gia Long) đã ban cho dân Thổ (Khmer), nay ai nhỏ hơn vua Thế Tổ mà dám đứng ra bán rạch ấy, thì có chém đầu nó cũng không sao ! ” Nghe vậy, những người dân Khmer kéo nhau đến nhà những người Hoa tranh cãi, rồi kéo ra rạch, bửa đập, phá rọ. Hai bên dẫn đến xô xát nhau, làm phía người Hoa chết 8 người. Nhân cơ hội này, Tổng đốc Uyển và Bố chánh Truyện ra lệnh bắt người Khmer có liên can đến chuyện đổ máu, đồng thời bắt luôn Bùi Hữu Nghĩa giam ở Vĩnh Long rồi giải về Gia Định. Khi bị giam ở Vĩnh Long, Thủ khoa Nghĩa có làm bài thơ Đường luật, vần Từ Thứ hiểm hóc, hàm ý mỉa mai bọn ỷ quyền cậy thế, để nói lên tâm sự của mình: Nhượng chăng là nhượng kẻ cầy (cậy)voi/ Lục đục thường tài cũng một nòi/ Mờ mịt bởi mây che bóng nguyệt/ Âm thầm vì trống lấp hơi còi/ Kìa câu ích kỷ kinh còn tạc/ Nọ kẻ thi nhân thánh hỡi roi/ Lẩn thẩn hết suy rối đến thới/ Ngày qua tháng lại, bước đường thoi. Hai quan trên Uyển và Truyện đệ sớ lên triều đình, đề nghị án tử hình, buộc tội Bùi Hữu Nghĩa đã kích động dân Khmer làm loạn và lạm phép giết người.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét