Nhớ tới Bác Mộng
Tuyết
LÂM BÍCH THỦY
Thỉnh thoảng tôi có thoáng nghe đến tên Mộng
Tuyết - Đông Hồ nhưng không nhớ ở đâu và hai cái tên ấy cũng không để lại cho tôi
một chút gì vương vấn. Thế rồi do đọc lá thư 18/12/1979 của bác Tuyết gửi cho
ba, tôi mới thấy tình của những người văn xưa thật đặc biệt. Xa nhau mấy chục
năm, gặp lại, dù chỉ qua trang giấy, tình người vẫn chan chứa nồng nàn thể hiện
trách nhiệm với nhau. Thư bác viết:
Anh Yến Lan thân!
Nhận
được thư dài đọc thật vui. Biết được gia đình nhà thơ êm ấm, con cái nên người
thật là quí. Nhưng mong có dịp nào anh chị cùng vào Sài Gòn thì mới thật sự vui
hơn. Tuổi trời đã quá bảy mươi, ngoảnh lại tự bằng lòng hoàn cảnh thì cũng đáng
mừng. Nhớ ngày xưa Yến Lan và Lê Tràng Kiều vào Hà Tiên …tôi kể với cháu Thủy
thì cháu cười vì có biết đó là thời nào đâu! Việc anh, Bính và Vũ Trọng Can ở
Huế, tôi tưởng anh Yến Lan nên viết hồi ký, nếu không viết nhiều thì cũng nên
viết một đoạn tự sự lúc cùng ở chung, cùng tính việc viết “Bóng giai nhân” để
có dịp mà đính chánh, chỉ kể chuyện một cách tự nhiên về quá trình diễn biến
khi nghĩ ra vở kịch thì cũng thú vị. Báo Sông Hương ở Huế chắc cũng thích đăng
những việc cũ của Huế và cũng nhắc luôn việc Bính làm những bài Xóm Ngự Viên..
Khi về Hà Nội lúc diễn kịch “Bóng giai nhân”
Bính có gửi cho tôi một thiệp mời danh dự, rất đẹp hiện còn giữ được nét vẽ đan
thanh của Nguyễn Đức Vượng bóng người giai nhân bên cầu lơ thơ liễu rũ thật
duyên dáng. Tôi chụp sao lại gửi Yến Lan coi chơi.
Bài
thơ “Nụ cười son” thật cảm động. Thương cháu Hạnh bạc phước một phần vì chị
Kiều mẹ nó không thương nó bằng những đứa em. Có cái gì ngang trái giữa mẹ và
con! cho nên nó tủi thân. Anh chị Kiều có tất cả sáu con, Hạnh , thằng Tùng,
con Dung, thằng Đại, con Diễm, Út, Hạnh thì bất Hạnh, Đại cũng chết vì chứng
hoại huyết, bây giờ còn ba đứa đều ở Mỹ. Anh Kiều chết rồi tụi con rải rác mới
đi, chị Kiều cũng đi cách đây vài năm, đã xin.. với con
Chúc anh chị mạnh khỏe và có dịp vào Thành
phố
Bài
thơ mà bác Mộng Tuyết nhắc là viết về cô Hạnh, con gái ký giả Lê Tràng Kiều:
(Theo tin báo Sài Gòn: Cô Hạnh 17 tuổi , con
của ký giả Lê Tràng Kiều vì không giật được mảnh bằng tú tài đã đến nhà một bạn
gái thở than, khóc lóc, lo sợ cho tương lai, rồi nhảy từ tầng gác thứ bảy xuống
đường.)
Nụ cười son
Hạnh ơi, thế là thôi,
Muốn gặp, không gặp rồi!
Mười tám năm về trước
Cháu còn nằm trong nôi,
Mẹ mừng chú bát nước,
Bố chào tràng thở dài
Bế cháu thơm vài lượt,
Cháu đãi chú nụ cười.
Chú đi mang cả màu môi đỏ,
Mong gặp sau này mãi thắm tươi,
Hôm nay giữa Hà Nội
Đọc tin báo Sài-Gòn:
Có bao người mẹ đói,
Có bao người mẹ buồn!
Nhưng không ngờ đến nỗi
Hạnh ơi, nụ cười son
Chú còn mong gặp lại
Đã rụng xuống vệ đường
Từ gác lầu thứ bảy.
Cả nụ cười chiu chắt giữa đau thương
Cũng tan tác trong đời sống Mỹ.
Sau
giải phóng, việc đi lại rất khó khăn. Ba tôi muốn vào Sài Gòn để thăm bạn bè cũ
mãi mà chưa được . Tình cờ đọc Báo Sài Gòn Giải Phóng có bài viết là nhà thơ
Yến Lan mong được một chuyến đi Sàì Gòn thăm bè bạn… Tôi biết khi lên báo không
có nghĩa là ông trách chúng tôi không tạo điều
kiện cho ông… Nhưng thấy vậy vợ chồng tôi đành mua vé tàu
hỏa để ông đi. Khi đó, vợ chồng tôi và một số cán bộ mới vào, cơ quan mướn khách
sạn Hoàn Vũ (Mondian) đường Phạm Ngũ Lão cho ở tạm. Thấy có khó khăn cho con
nên ba tôi yêu cầu - “Mấy chục năm rồi ba không gặp lại bạn bè, không biết ai
còn ai mất, các con cố giúp ba tìm lại theo địa chỉ này”. Ông vừa nói vừa rút ở
túi ngực ra tờ giấy đã nhàu đưa tôi xem. Tờ giấy ghi khoảng 15 địa chỉ và tên người.
Xem xong tôi ngán ngẫm nói: Sao nhiều vậy ba, chắc mất cả tháng mới tìm ra các
ông, bà bạn của ba!
Nói vậy thôi chứ việc này là việc cần làm mà. Tất nhiên sau đó ông
xã tôi làm xe dân biểu để nhà thơ biểu đi đâu thì đi. Mỗi đia chỉ chúng tôi phải
tìm là một câu chuyện vui. Nhưng tôi chỉ nói đến hai địa chỉ cuối cùng trong
danh sách cần tìm của ba tôi thôi.
Hôm ấy là ngày chủ nhật, trời nắng nóng,
không khí như loãng ra; những tưởng sau khi tìm gần mười địa chỉ, có bạn cũ, có
bạn mới, có người còn sống, có người đã vượt biên v.v…thì ông già tha cho ông xã
nghĩ xã hơi dưỡng sức. Nhưng không, ông
nhìn trời nói: Nắng Sài Gòn gay gắt nhỉ; hôm nay con giúp ba tìm thăm
bác Mộng Tuyết.
Thế là ông xã chở ông và có tôi theo tháp
tùng đi tìm nhà bác Mộng Tuyết. Khó khăn lắm mới tìm ra được nhà bác. Bác Tuyết
ở phố Nguyễn Trọng Tuyển. Đứng trước nhà, thoạt nhìn qua hàng rào; tôi thấy có
hai người đàn bà đã ở tuổi xưa nay hiếm; một béo bệu, xanh mướt, yếu ớt, lưng
hơi còng là bác Mộng Tuyết; một gầy nhom giống tôi là cô em, tên Lan. Hai cụ
già sức như đã cạn kiệt, đập muỗi chưa chắc chết mà ở cả khu nhà rộng, nhiều
cây ăn trái, như xoài, mít, mãng cầu v.v… thật đáng sợ! Chả là vì lúc mới giải phóng, nhiều người nói
với tôi: “Người Miền Nam dữ lắm, lôi thôi mất gáo (đầu) như chơi.” Tôi sợ bị
mất gáo, ông xã năn nỉ mãi, tôi mới chịu theo anh vào Sài Gòn làm việc đấy chứ.
Ai đã từng gặp lại người thân đi xa lâu ngày
mới cảm nhận được sự trùng phùng của ba tôi và bác Mộng Tuyết. Cô Lan ra mở
cổng. Ba tôi bước vào và nói “chào chị Mộng Tuyết”. Còn bác thì nheo nheo đôi
mắt đã sụp mí, hồi lâu mới “À! Yến Lan, đấy phải không?”.
Cô
Lan đưa ba tôi vào phòng khách. Ba tôi và bác Mộng Tuyết cười nói, hỏi chuyện về
nhau rất sôi nổi. Giá trị tình thơ lần lượt tuôn trào. Khi hai người xưa nói
chuyện thì tôi đi dạo vườn cây nhà bác nhưng vẫn để ý nghe xem hai người thơ nói
gì. Tôi nghe bác Tuyết hỏi ba tôi về các nhà thơ: Tô Hoài, Xuân Diệu, Khương
Hữu Dụng, Tế Hanh, Anh Thơ, Chế Lan Viên v.v... Mấy chục năm ấy, ở Miền Bắc đã
sống và sáng tác ra sao? Còn ba tôi thì quan tâm đến cuộc sống của vợ chồng bác
(Đông Hồ - Mộng Tuyết) và vợ chồng nhà thơ Lê Tràng Kiều v.v…
Sau buổi gặp nhau đó ba có bài:
Nhớ Đông Hồ
Qua cầu Rạch Giá
khuất tầm trông
Đành gửi sau xe mấy
đoạn lòng
Từ bấy quê hương liền
xứ bạn
Mỗi câu non nước gợn
Hồ Đông

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét