Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2017

Tiếng Việt thời LM de Rhodes 
- Bảng Từ Vựng và ghi chú thêm
Nguyễn Cung Thông



Đích xác là không đúng, không hợp, vô lý ...
Diểu quanh là đi chung quanh, diểu đi diểu lại là di chuyển/đi quanh (vòng đi vòng lại), xem thêm mục vần và xây (vần đi vần lại/xây đi xây lại).
Dồ là khoảng chừng, độ chừng (độ  ~ đo > dồ, tương quan phụ âm đầu d-đ, nguyên âm o-ô bình thanh) : "ba mươi tuổi dồ … đã ba trăm năm dồ" PGTN trang 73, 103.
Đỗ là ở: "Chẳng đỗ lâu" là chẳng ở lâu tương ứng với đậu[1] HV , "mà bay cho tao áo mặc cùng cho đỗ nhà" ĐCGS quyển chi cửu/chi thập trang 140. Đỗ là một dạng âm cổ của đậucòn bảo lưu trong tiếng Việt từ thời VBL cho đến ngày nay - xem thêm chi tiết trong mục đỗ/đậu trạng nguyên - các cách đọc khác nhau cũng đóng góp vào đặc tính phương ngữ, như trường hợp đỗ thường gặp ở Bắc Bộ hơn (Đàng Ngoài).
Một điểm đáng chú ý là cách dùng động từ đậu hay đỗ (ở yên một chỗ, dừng lại - TVGT ghi là 止也 chỉ dã, NT ghi là 住也 trụ dã) để chỉ thi đậu hàm ý đã vượt qua các tiêu chuẩn thử thách của một kỳ thi. Ca dao VN đã ghi dấu ấn của cách dùng đỗ như "Học chẳng hay thi may thì đỗ" hay "Học trò đèn sách hôm mai, Ngày sau thi đỗ nên trai mới hào" ...v.v... Tư duy tổng hợp và cụ thể của người Việt đã phản ánh quá trình học hỏi ngày đêm để dẫn đến đích là đậu các kỳ thi hương, hội hay đình: dừng ở đó tức là đã đạt được mục tiêu rồi. Ngược lại với đậu là rớt, động từ này ghi lại hình ảnh rất thực quá trình không đạt tới đích mà mình mong ước, hay không ở (đậu) được trên cao nên phải rơi xuống phía dưới (rớt). Đây cũng là dấu ấn của không gian cụ thể (trên cao/dưới thấp) trong một hoạt động mang tính chất văn hóa trừu tượng. So sánh với cách nói (thi) đậu trong tiếng Trung Hoa là cập cách 及格 (hợp thức, đạt đến tiêu chuẩn) hay thông qua 通過; hay tiếng Anh là pass an exam (thi đậu) ~ passer un examen (tiếng Pháp); các ngôn ngữ này đều dùng động từ đi qua/thông qua so với dừng lại như tiếng Việt. Chúng ta có thể nhìn rộng ra hơn để thấy diễn tiến từ lúc học hành ôn luyện cực khổ cho đến khi thi (giai đoạn cuối và có tính cách quyết định), như một mũi tên bắn ra sẽ không ngừng di chuyển cho khi đến khi dừng lại vì đã đụng mục tiêu (đậu/đỗ ngay tại mục tiêu). Nếu mũi tên không chạm được mục tiêu, hay đến đích không đúng góc độ thì mũi tên sẽ rớt xuống (đất).Tư duy tổng hợp (nhìn rộng ra) như vậy còn thể hiện trong ngôn ngữ qua cách dùng trên trời, xuống thuyền, lên đất ... Các cách nói như vậy đã làm LM de Rhodes (với tư duy phân tích của Tây phương) ngạc nhiên không ít và phải chú thích thêm trong các mục liên hệ trong VBL.
Đoạn là xong, hoàn tất (finio/L): thôi đoạn là sau khi hoàn tất/xong, "khi đã sống lại, đã đoạn việc cứu người ta" PGTN trang 247.
Đọc đàng (in itinere/L) là trên con đường đi (dọc đường), VBL cũng ghi dạng dĕọc đàng (in via/L - cùng nghĩa) ở mục dĕọc hay dọc. Điều này cho thấy phụ âm đầu lưỡi d và đ đọc giống nhau vào thời VBL, xem thêm các mục da/đa, dãn ~ đẵn, đừng ~ dừng (đình) ...


[1] Chữ đậu  (thanh mẫu trừng  hay định , vận mẫu ngu  hay hầu  khứ thanh, hợp khẩu tam/nhất đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết:田候切 điền hậu thiết (TVGT, QV) - TVGT ghi 止也。从辵豆聲 chỉ dã, tùng sước đậu thanh, 大透切,音豆 đại thấu thiết, âm đậu (TV, LT, VH, CV, TVi), 徒候切 đồ hậu thiết (TV, LT), 徒闘切 đồ đấu thiết (NT, TTTH), 音豆 âm đậu (LKTG, TNTTĐTA 精嚴新集大藏音), 持遇切 trì ngộ thiết (QV), 廚遇切音住 trù ngộ thiết, âm trụ (TV), 他候切音透 - 義同 tha hậu thiết, âm thấu - nghĩa đồng (TV/LT, KH), 去智切,音跂 khứ trí thiết, âm khí (TV, LT)
TNAV ghi vận bộ 尤侯 vưu hầu (khứ thanh)
CV ghi cùng vần/khứ thanh           (đậu *du đậu/độc *đầu)
大候切,音豆 đại hậu thiết, âm đậu (CTT), 音住 âm trụ (CTT) ...v.v... Giọng BK bây giờ là dòu tóu zhù qì tòu qí so với giọng Quảng Đông dau6 và các giọng Mân Nam 客家话:[陆丰腔] teu5 teu6 [宝安腔] tiu5 | [县腔] teu5 [客英字典] teu5 [陆丰腔] teu5 [东莞腔] teu3 [台湾四县腔] teu5 teu5 [语拼音字汇] teu4 潮州话:dau1, giọng Mân Nam/Đài Loan tou7, tiếng Nhật tou zu và tiếng Hàn twu. Tương quan giữa phụ âm đầu đ - tr đã hiện từ lâu đời như Điền Hoàn   (trong ‘Luận Ngữ’) – Trần Hoàn   (trong ‘Xuân Thu’), đoàn ~ tròn,  trọc  ~ đục, Đổng  – Trọng  – Gióng/thánh Dóng/Gióng là Phù Đổng thiên vương – một trong Tứ Bất Tử. So sánh với chủng  – giống, giồng – trồng cũng có thanh phù trọng . Chữ Nôm dỏng (giỏng) còn dùng bộ khẩu  hợp với chữ Đổng : theo Truyền Kỳ Mạn Lục ‘dỏng môi mà rao lời gièm chê’, trì  ~ đìa, đồng  ~ tròng, đồ  ~ trò, đồ  ~ trà/chà/chè, Đồng  – Tráng  ... Các dữ kiện trên cho ta cơ sở liên hệ đậu/đỗ với trọ (ở trọ ~ ở đậu), Tập Vận và Chính Tự Thông ghi rõ là đậu (đỗ) từng đọc là trụ . Thời VBL cho đến thời Béhaine, Taberd không thấy ghi từ "trọ" - có tác giả đề nghị trọ liên hệ đến trú (trụ HV ).



On Friday, 8 September 2017, 10:27:38 pm AEST, Liem Vocong <lvocong@hotmail.com> wrote:


Kính gởi qúy anh chị và thân hữu.
Kính chào sức khoẻ. Tưởng trở ngại vi tính là 'dẹp tiệm' như đã tin thư tuần trước. Nhưng may cứu kịp. Hư hại vật chất còn chửa được, hư hại tâm trí coi như hết thuốc chửa.. ĐTHT/VCL ngày 1/9 gồm văn thơ họa là tác phẩm cuối cùng 'đình bàn' nghỉ chơi luôn. Và; sau đó nhận được một số email thân hữu chia sẻ và gợi ý. Rất cảm động và có lời cám ơn chung. Nay khoẻ trở lại ra sức gõ bài này cho kịp mùa chay. Bài khá dài so với khổ 'giấy' vi tính. Nhưng đã gọt giũa nhiều lắm. Mong được qúy vị đón nhận và góp ý xây dựng. 
Thành thực cảm ơn. Trân trọng. vcl
*ĐTHT/VCL vẫn chia 2 lần gởi số thân hữu có thêm. Đôi khi gởi email một lúc hai, ba lần gởi. Mong thông cảm. Nay thư.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét