SỰ SAI BIỆT GIỮA BỘ TIỂU THUYẾT TAM QUỐC DIỄN NGHĨA
CỦA LA QUÁN TRUNG VỚI BỘ CHÁNH SỬ TAM QUỐC CHÍ CỦA SỬ GIA TRẦN THỌ.
Thái Quốc Mưu
Lời giới thiệu của Giáo sư,
Hiệu trưởng La Ngạc Thụy:
Tam Quốc bao quát cả một thời
kỳ lịch sử gần một thế kỷ (từ 184 đến 280 sau công nguyên), tại đó, ba nước
Ngụy, Thục, Ngô đã hình thành thế chân vạc trong quá trình đánh dẹp cuộc khởi
nghĩa nông dân và trong cuộc chiến tranh giữa các chư hầu với nhau. Bắt đầu từ
cuộc khởi nghĩa của ba anh em Trương Giốc mà lịch sử gọi là cuộc khởi nghĩa
Hoàng Cân (Khăn vàng) cho tới khi Tư Mã Viêm, cháu Tư Mã Ý, tướng Ngụy, thống
nhất được Trung Quốc để lập nên nhà Tấn và chấm dứt cục diện tam quốc phân
tranh.
Căn cứ vào bộ tiểu thuyết giả
sử Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung và bộ Chính sử Tam Quốc Chí của Trần
Thọ, nhà văn, nhà nghiên cứu Thái Quốc Mưu đã phân tích, lý giải với quan điểm
hoàn toàn mới để chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về những nhân vật chủ chốt
của bộ Tam Quốc Chí.
La Ngạc Thụy
(Giáo sư, Hiệu trưởng trường
trung học Tây Ninh
Chủ nhiệm trang nhà
datdung.com)
huy ba 6 Tháng Chín, 2016 at
6:46 chiều
Tơi mong cĩ nhiều bậc trí
nhân nghiên cứu về lịch su63 Việt Nam sâu như bài này. Học người một , học mình
mười.
***
Tác giả Bộ Chánh Sử Tam Quốc
Chí là Trần Thọ (陈寿), tự Thừa Tộ, sanh năm 233, mất năm 297, nguyên quán
ở quận Ba Tây (nay thuộc đô thị Nam Sung, tỉnh Tứ Xuyên), làm quan Nhà Thục
Hán, khi Thục Hán diệt vong, ông làm quan Nhà Tây Tấn. Trần Thọ thuở nhỏ hiếu
học, bái Tiều Chu làm thầy, sau đó giữ chức Quan Các Lệnh Sử triều đình Thục
Hán.
Trần Thọ vốn người ngay
thẳng, trung thực được người đương thời tôn là bậc chính nhân quân tử, không
theo phe phái nào, nhất là bọn hoạn quan Hoàng Hạo.
Trong thời gian đó, Trần Thọ
khi làm Trước Trác Lang bắt đầu biên soạn Thục Tướng Gia Cát Lượng Tập dâng lên
triều đình, nhờ đó được thăng chức Trung Chính ở quận Dương Bình. Từ đó, Trần
Thọ dồn hết tâm huyết để biên soạn tác phẩm Tam Quốc Chí, ghi chép lại lịch sử
Trung Quốc thời kỳ Tam Quốc, tổng cộng 65 thiên, trở thành một trong 24 bộ
chính sử lớn của Trung Quốc.
Dưới đây là danh sách Nhị
Thập Tứ Sử Trung Hoa, gồm có:
1. Sử ký, của Tư Mã Thiên,
130 cuốn.
2. Hán thư, của Ban Cố, 100
cuốn.
3. Hậu Hán thư, của Phạm
Diệp, 120 cuốn.
4. Tam quốc chí, của Trần
Thọ, 65 cuốn.
5. Tấn thư, do Phòng Huyền Linh chủ biên, 130 cuốn.
6. Tống thư, của Thẩm Ước,
100 cuốn.
7. Nam Tề thư, của Tiêu Tử
Hiển, 59 cuốn.
8. Lương thư, của Diêu Tư
Liêm, 56 cuốn.
9. Trần thư, của Diêu Tư
Liêm, 36 cuốn.
10. Ngụy thư, của Ngụy Thâu,
114 cuốn.
11. Bắc Tề thư, của Lý Bách
Dược, 50 cuốn.
12. Chu thư, do Lệnh Hồ Đức
Phân chủ biên, 50 cuốn.
13. Tùy thư, do Ngụy Trưng
chủ biên, 85 cuốn.
14. Nam sử, của Lý Diên Thọ,
80 cuốn.
15. Bắc sử, của Lý Diên Thọ,
100 cuốn.
16. Cựu Đường thư, do Lưu Hú
chủ biên, 200 cuốn.
17. Tân Đường thư, của Âu
Dương Tu và Tống Kỳ, 225 cuốn.
18. Cựu Ngũ Đại sử, do Tiết
Cư Chính chủ biên, 150 cuốn.
19. Tân Ngũ Đại sử, do Âu
Dương Tu chủ biên, 74 cuốn.
20. Tống sử, do Thoát Thoát
chủ biên, 496 cuốn.
21. Liêu sử, do Thoát Thoát
chủ biên, 116 cuốn.
22. Kim sử do Thoát Thoát chủ
biên, 135 cuốn.
23.Nguyên sử, do Tống Liêm
chủ biên, 210 cuốn.
24. Minh sử, doTrương Đình
Ngọc chủ biên, 332 cuốn.
Ngoài 24 bộ chánh sử nêu
trên, về sau còn có thêm 2 bộ sử nữa:
- Tân Nguyên sử, do Kha Thiệu
Văn chủ biên, 257 cuốn.
- Thanh sử cảo, doTriệu Nhĩ
Tốn chủ biên, 529 cuốn.
Trong Tấn Thư chép, khi Tam
Quốc Chí ra đời được đánh giá rất cao. Đương thời và cùng lúc với Hạ Hầu Trạm
biên soạn cuốn Ngụy Thư. Khi Hạ Hầu Trạm xem Tam Quốc Chí của Trần Thọ, Hạ Hầu
Trạm thấy mình viết không bằng Tam Quốc Chí của Thọ, liền tự tiêu hủy tác phẩm
của mình.
Lưu Hiệp, người thời Lương
(Nam, Bắc triều) trong cuốn Văn Tâm Điêu Long, tại mục Sử Truyện chép rằng:
“Duy Trần Thọ Tam Quốc Chí, văn chất biện hiệp, Tuân, Trương tỷ chi ư Thiên,
Cố, phi vọng dự dã” (Dịch: Tam quốc chí của Trần Thọ thấm nhuần chất văn, như
Tuân, Trương so sánh với Thiên, Cố, chẳng phải khen quá lời).
Tam Quốc Chí của Trần Thọ
không những chỉ chép khái quát tình hình chính trị, kinh tế, quân sự thời Tam
Quốc mà còn đề cập đến nhiều nhân vật xuất sắc trong các lĩnh vực văn học, nghệ
thuật, kỹ thuật..., đồng thời ghi chép về một số dân tộc thiểu số ở Trung Hoa
và viết thêm về các nước láng giềng của Trung Quốc (như Nhật Bản, Triều Tiên, Ấn
Độ, Việt Nam...)
Tính trung thực của Trần Thọ
khi viết bộ Tam Quốc Chí cũng có nhiều ý kiến phê bình khác nhau.
Theo Tấn Thư chép lại, thì
Trần Thọ từng nói với Đinh Nghi, tự Chính Lễ, Đinh Hạo, tự Đinh Dị, có sách
chép là Đinh Dự (con của Đinh Xung, bạn thân của Tào Tháo), cả hai người đều có
tiếng tăm ở nước Ngụy, rằng: "Khả mịch thiên hộc mễ kiến dữ, đương vị tôn
công tác giai truyện" (Dịch: Nếu tìm cho ta được nghìn hộc lương - khoảng
10 ngàn kgs gạo, ta sẽ vì tôn phụ mà viết truyện cho hay). Kết quả bị từ chối,
Trần Thọ cũng không viết truyện về người cha của hai anh em họ Đinh nữa.
Câu chuyện cho rằng Trần Thọ
ra điều kiện với anh em họ Đinh hoàn toàn bia đặt, sai sự thật, vì Đinh Nghi (丁仪), tự Chính Lễ, làm quan Ngụy Tào, mất năm 220, trong
khi Trần Thọ sanh năm 233, nghĩa là Đinh Nghi chết trước khi Trần Thọ chào đời
13 năm. Còn Đinh Hạo, tuy trong sách sử không nói rõ ràng, nhưng ta có thể hiểu
Hạo cũng thuộc tầng lớp trước Trần Thọ thì lấy ai để Trần Thọ đặt điều kiện như
trên mô tả? Điều nầy có thể bởi những kẻ cùng thời với Trần Thọ vì ganh ghét
nhân cách, đố kỵ tài năng mà ngậm nọc độc phun vào tên tuổi Trần Thọ? Thời nào,
ở đâu mà chẳng có loại người vô liêm sỉ?
Ngoài ra cũng có ý kiến cho
rằng, do cha của Trần Thọ bị Khổng Minh GIA Cát Lượng xử tội, nên trong quyển
35 Tam Quốc Chí phần viết về “GIA Cát Lượng Truyện”, Trần Thọ đánh giá Chư Cát
Lượng là “danh quá kỳ thực” (Dịch: tiếng tăm vượt quá sự thật) là Thọ dùng việc
công để báo thù riêng. (thực tế, Khổng Minh không phải họ GIA Cát mà là họ CHƯ
Cát. Từ đây, đến kết thúc bài nầy, khi đề cập đến họ GIA Cát – tôi viết lại là
CHƯ Cát – để chỉnh lại cho hoàn chỉnh và đúng với nguyên tác).
Để quý độc giả biết rõ vì sao
từ họ GIA Cát, tôi (TQMưu) chỉnh thành họ CHƯ Cát, người viết xin mạo muộâi nói
về nguồn gốc của họ “Chư Cát”. Có 2 thuyết:
(1). Trong cuốn "Phong
Tục Thông Nghĩa" của Ứng Thiệu đời Đông Hán (25-220), phần “Dật văn” nói
về các tên họ, như sau:
- Chư Cát thị: “Cát Anh vi
Trần Thiệp tướng quân, hữu công phi tội nhi tru, Hiếu Văn đế truy lục phong kỳ
tôn Chư huyện hầu, nhân tính thị yên.” Dịch: “Họ Chư Cát: Cát Anh là tướng của
Trần Thiệp, có công, không có tội mà bị giết, Hiếu Văn đế truy tìm những ghi
chép trong sách vở (về sự việc đó), rồi phong cháu nội của tướng Cát Anh cai trị
huyện CHƯ, nhân đó ghép tên huyện với tộc họ chính với địa danh CHƯ thành ra họ
CHƯ Cát.
(2). Trong phần chú thích
tiểu sử (GIA) CHƯ Cát Cẩn (bào huynh CHƯ Cát Lượng), trong bộ Chính Sử “Tam
Quốc Chí”. Sử gia Bùi Tùng Chi (372-451) ghi về nguồn gốc họ "CHƯ
Cát" ở chú thích như sau:
- Ngô Thư viết: “Kỳ tiên Cát
thị, bản Lang Nha CHƯ huyện nhân, hậu tỉ Dương Đô. Dương Đô tiên hữu tính CÁT
giả, thời nhân vị chi Chư Cát, nhân dĩ vi thị. / Tam Quốc Chí. Qu. LII - Ngô
Thư. Qu. VII.
Dịch: Ngô Thư nói: “Tiên tổ
của (GIA) CHƯ Cát Cẩn vốn là người huyện CHƯ, quận Lang Nha, về sau dời đến
(huyện) Dương Đô. Ở huyện Dương Đô, trước đó đã có họ CÁT, người thời đó gọi
tiên tổ của GIA Cát Cẩn là “CHƯ Cát”, nhân đó lấy địa danh CHƯ làm họ chính.
Để rõ hơn, người viết xin
giải thích một chút về câu “người thời đó gọi tiên tổ của CHƯ Cát Cẩn là “CHƯ
Cát” - tức câu “Thời nhân vị chi CHƯ Cát”.
Trước đó ở lãnh thổ huyện
Dương Đô đã có giòng họ CÁT, bây giờ tiên tổ của (GIA) Cát Cẩn cũng họ CÁT từ
huyện CHƯ dọn tới, để phân biệt gốc gác của hai nhánh họ CÁT người huyện Dương
Đô mới thêm tiếng CHƯ trước chữ CÁT của giòng họ (GIA) CÁT Cẩn là "CHƯ
CÁT", ý nói rằng giòng họ CÁT này từ huyện CHƯ dọn tới, chứ không phải là
giòng họ CÁT có gốc tại Dương Đô. Tóm lại, có đến 2 thuyết về họ CHƯ Cát của
CHƯ Cát Lượng như tôi đã dẫn ở trên.
Tuyệt nhiên không có nói gì
đến họ GIA. Vì sao từ họ CÁT của tướng CÁT ANH (Nội tổ của Khổng Minh) bỗng
nhiên có chữ “GIA” đứng trước chữ CÁT để tạo thành họ GIA CÁT? Phải chăng do
người dịch bộ Tam Quốc Diễn Nghĩa đầu tiên do nhận mặt chữ sai lầm? Tôi (TQMưu)
không lý giải được.
Thân phụ của Trần Thọ là Trần
Thức (陳式) làm tướng của
Hoàng Trung, sau chiến dịch Hán Trung và trận Hào Đình, Trần Thức được phong
làm Đại Tướng Quân, phục vụ dưới trướng Lưu Bị. Trần Thức (Cha của Trần Thọ)
làm Tham Quân cho Mã Tốc. Mã Tốc trái lệnh làm mất Nhai Đình bị Gia Cát Lượng
xử chém.
Sau khi Đinh Xung mất, Tào
Tháo nghe con của Xung là Đinh Nghi có tài, định gả con gái là Tào Thanh Hà
(sau là công chúa Thanh Hà) cho Nghi. Nhưng Tào Phi vin cớ, mắt phải của Đinh
Nghi bị dị tật, “tướng mạo bất giai” ngăn cản. Sau cùng, Tháo gả Thanh Hà cho
Hạ Hầu Mậu.
Để giữ tình nghĩa với Định
Xung, Tháo phong cho Đinh Nghi làm Tây Tào duyện.
Bởi hụt làm rể của Tào Tháo,
Đinh Nghi cùng em là Đinh Dị quyến định kết thân với người con thứ ba của Tào
Tháo là Tào Thực. Mỗi khi đối diện với Tào Tháo, anh em Đinh Nghi thường nói
tốt Tào Thực trước mặt Tào Tháo. Đồng thời dâng ý kiến lên Tháo nên chọn Tào
Thực làm thế tử. Còn Tào Phi lên làm Ngụy công. Do đó, khi Tào Tháo mất, Phi
lên làm Ngụy Vương, nhớ lại chuyện nầy bèn xử trảm hai anh em Đinh Nghi cùng
gia đình vợ con của anh em họ Đinh.
Phần Tào Thực, tự Tử Kiến,
thụy là Trần Tư Vương, sanh năm 192 mất 27 tháng 12, 232. Thọ 40 tuổi. Tào Thực
có tên trong Văn Học Kiến An là nền văn học bộc phát thời Hán Hiến Đế, nên dùng
niên hiệu Kiến An của Hán Hiến Đế. Đặt tên cho nền văn học nầy. Hán Hiến Đế là
vị vua cuối cùng của Hán trào.
Ban đầu nền Văn Học Kiến An
có bảy văn, thi nhân nổi danh, được xưng tụng là Kiến An Thất Tử, gồm có:

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét