TÂM THỨC PHẢN KHÁNG
CỦA HUỆ KHẢ
VÕ CÔNG LIÊM Nhớ mẹ. (1903-1987).
Trên đường đến Thiếu Lâm Tự ở Tung Sơn;
Thần Quang đại sư mang một tư duy vô sư.
Người đến trong
nỗi đau khổ tuyệt vọng, nỗi ưu tư khắc khoải cho một phản kháng nội tại của hành
giả. Thần Quang một thiền sư Trung Hoa ở tk. thứ sáu, người đã chối bỏ mọi hệ lụy
của Khổng và Lão giáo, từ khước sự uyên thâm về lẽ đạo mà ông đã dày công tu tập.
Thần Quang quyết ra đi và tìm đến đại sư người Thiên Trúc để tu học. Đó là đại
sư Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) vị tổ đầu thiên của Thiền tông. Một tư tưởng vĩ đại
làm chấn động cả lục điạ Trung Hoa từ triều thần đến bần dân. Thần Quang tìm đến
Bồ Đề Đạt Ma trong một tâm thức phản kháng để được giải thoát hoàn toàn cho một
tình huống bi thảm không có lối thoát, một thái độ đau khổ cùng cực là thái độ
của kẻ thoát ly khỏi trần tục để đi vào thế giới như nhiên. Thần Quang đến với
Bồ Đề Đạt Ma không phải vì hiếu tri, cũng chẳng phải cầu đạo mà tìm đến một tâm
như vô sư của một con người đau khổ, bức xúc trước một nội tại dằn xé cả tâm hồn
lẫn thể xác của một con người đang ngập trong bóng tối, đắm chìm trong một thế
giới huyễn hóa đầy hư ảo…
Khi nói đến tâm
thức tất cho ta một ý niệm về ngã thức, ngã thức ở đây là nhận thức (awareness)
cho một ý thức trong sáng (consciouness); cái đó gọi là ý thức chân tâm, một tâm-như-phật
để thấy được tâm với tâm, một biểu thị phản kháng nội tại của bản ngã, một thứ
ngã mạn/ego là bản chất nội tại tức lòng tư kỷ /selfishness là ngã thể hóa, là
ngã thể phân biệt, là ngã suy tư, là ngã phân biệt không còn thuộc về mình mà
thuộc về cõi khác/beyond/others; đứng ở cương vị này là lúc Thần Quang phủ nhận
ở chính mình và cho đó là phi ngã. Tìm đến là ‘trùng trùng duyên khởi /
paticca-samuppàda’. Phạn ngữ giải thích rằng: nó đến như nguyên nhân, bởi có liên
can giữa liên-quan-quả và quả-liên-quan-nhân; cùng nhau, giống nhau và đồng khởi
như nhau gọi chung là trùng trùng duyên khởi có nghĩa mọi hiện tượng dù hữu hình
hay vô hình, cụ thể hay trừu tượng, ngay cả siêu hình tượng đều có mối liên hệ
lẫn nhau. Thế thì Thần Quang và Tổ gặp nhau không còn là tự-thể mà nương vào
nhau để hiện hữu tồn lưu nhân thế, một hiện hữu của duyên sanh, duyên khởi là hòa hợp và tức thời thì gọi là duyên diệt. Thành thử duyên khởi trở thành
thuật ngữ nhà Phật còn gọi là nhân-duyên. Giữa Tổ và người tu học là một tổng
thể của 12 cái nhân duyên: vô minh, hành, thức, sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ,
hữu, sanh, lão, tử. Gọi chung là ‘thập nhị nhân duyên’ là ở chỗ đó. Bồ Đề Đạt
Ma nhận ra được điều nầy khi đối diện với Thần Quang dưới tuyết hồng (blood
snow) không còn ngạc nhiên ngay cả khi Thần Quang đưa lên cánh tay chặt đứt khỏi
xác như một thái độ phản kháng của kẻ cùng cực; một bày tỏ sáng thế của liễu
tri vô ngã tánh, một thức tỉnh giữa sự cầu xin để được giải thoát bởi đau khổ
(dukkha). Thái độ cùng cực của Thần Quang là soi rọi vào tư tưởng lớn của Ấn Độ
giữa ngã (atman) và vô-ngã (anatta) mà Phật đã trải nghiệm sáu (6) năm khổ hạnh
và Bồ Đề Đạt Ma với chín (9) năm diện bích. Thần Quang đem lại cho Bồ Đề Đạt Ma
một sự giác ngộ tự thân. Tổ nhận ra được Tri
kiến vô kiến, thể tánh tinh minh là phân biệt được Thức và phân biệt được
Trí. Đó là duyên hay nghiệp
giữa hữu thể và tha thể. Thần Quang và Bồ Đề Đạt Ma phải hóa giải trước tình huống
mà biểu thị cái toàn thể tính bất-khả-tri để có một quyết định dứt khoát của kẻ
tu và hành giả. Mà là tiếng ‘thốt/ spake’ để phá trừ kiến chấp thời mới tới ‘đáo-bỉ-ngạn’
của một tâm thức không phản kháng (non-révolté). Bồ Đề Đạt Ma thấy được chân tâm
của Thần Quang là phá chấp; cái sự đó chính là bát-nhã (prajnã) là nhận thức
trong sáng (transcendence conciousness). Cả hai vị đều hướng tới một tâm thức
siêu việt tứ-ngộ-nhân-tâm. Là; vị trí giữa hai đối tượng chủ thể và khách thể của:
tâm và an tâm. Khi đặc vấn đề cho một đòi hỏi. Bồ Đề Đạt Ma là bản ngã nhận
thức và Thần Quang là ngã vị nhận thức; xác nhận chính mình tức cá thể chính mình;
đồng thời cả hai có cái ngã phân biệt trong đó. Bồ Đề Đạt Ma là chủ thể linh động
có trách nhiệm và một bên là khách thể thụ động muốn dự cuộc (Thần Quang). Cả
hai coi như chủ thể gặp gỡ và thừa nhận, vì; cả hai đang rơi vào hoàn cảnh khốn
cùng, trắc ẩn và xót thương. Có phải đó là nội thức phản kháng của sự lý đi tới
quyết định và thi hành? -Đó là cái chính yếu cho cả hai trước một đối kháng hiện
hữu (being) và trống-không (nothingness) ấy là bước khởi đầu để đi tới mọi thể
thức thuộc về hư vô (nil). Vô ở đây là Rỗng –The ought-is it Nothingness, bởi tự
tại nó là vô-nghĩa –by no meaning. Bồ Đề Đạt Ma và Thần Quang đang đứng trước
hiện hữu và hư vô như tiếng nói trung thực giữa như-người và như-phật. Phật đã đi
vào hư vô, nói theo Nietzsche là ‘Thượng đế đã chết’ tức con người đứng trước sự
im lặng vô biên của hố thẳm là sự im lặng của Phật, nghĩa là không hiện hữu mà
chỉ có như-nhiên là hiện hữu, thời tất không thể đi tới tồn loạt hay tồn lui.
Sa đoạ của con người là vị ngã thúc dục, chìm đắm để rồi tư phản kháng lấy mình
–Can one live as a rebel (A. Camus). Thần Quang và Zarathustra là hiện trạng của tư duy, một phủ nhận bắt
nguồn từ tiếng ‘Thốt/Spake’ mà ra. Đó là tiếng nói khước từ của Bồ Đề Đạt Ma vừa
là tiếng nói phản kháng của Thần Quang. Bồ Đề Đạt Ma nhìn Thần Quang đến trước
cửa chùa là hư-vô-tính. Nhưng; Tổ không thể hoài nghi ở tiếng ‘thốt’ mà là tiếng
‘thét’ ở chính mình như một thức tỉnh. (trong: Metaphysical rebellion/The
Rebel/L’Homme Révolté) by Albert Camus). Chất chứa ở Thần Quang một nội tại phản
kháng không thể xóa trong ý thức, nó lịm trong một trạng thái khẩn trương và không
dứt để rồi chỉ còn tiếng vọng tha thiết của cầu khẩn, van xin; mà đã ‘thốt’ tất
thốt để đi vào hư vô. Vì rằng; giữa Tổ và đệ tử là đồng lõa trong một trạng huống
phản kháng nội tại. Cả hai chỉ là một không có hai giữa lúc này của chối bỏ và
phản kháng. Phản kháng của Thần Quang là nhu cầu gia nhập. Phản kháng của Tổ là
vị tha. Đó là lý do đưa tới phản kháng siêu hình hay gọi là phản kháng hư vô yếu
tính nằm trong chối từ hay cứu rỗi hay tế độ chúng sanh, một sự ban ơn do đó không
còn là tuyệt đối tồn lưu –La révolté veut tout, ou ne veut rien (A. Camus). Thần
Quang và Bồ Đề Đạt Ma trở nên vô-niệm tức tâm-không-phân-biệt. Tổ nhìn hiện thể
bi đát như chứng thực lời cầu đạo. Vì; niệm là vô thức trong tạng-thức. Họ phải
nghĩ ở chính họ: ‘Ta không phải là Ta và cái không phải là Ta tức là Ta’. Đó là
Chân-Không (Sunyata) của cái gọi là bất-diệt và hữu-diệt ‘la discrimination de
la non-discrimimination’ trong một tâm thức như-nhiên, trong bóng không vướng đục.
Cho nên chi giữa Tổ và kẻ cầu đạo đang nằm trong trạng huống thăm dò để đối trị
có tính chất hư vô và hủy diệt; đó là cốt cách của người tu thiền. Mà thiền là
thức để tỉnh của tâm và từ đó đi tới chân lý tánh không. Thần Quang đứng dưới
trời đông giá suốt đêm là một thách đố bản ngã. Bồ Đề Đạt Ma diện bích suốt chín
năm là một thách đố tự tại, một dằn co giữa thần và xác. Tâm trạng của hai kẻ
tu không thoát khỏi vòng cương tỏa của cái gọi là ‘bản lai diện mục’ mà phải
quay về với chính giác của tâm-vô-niệm, vì; tâm vô niệm là tâm-vô-thức để cả
hai cùng đồng khởi trong ý niệm siêu-việt-tính-không, nghĩa là không phân biệt để
đi tới giác ngộ là nương vào Ý-thức-Mạt-na (Manas Vijnãna) để diệt ngã cái đó là
‘diệt’ của A-Lại-Da-Thức (Alaya Vijnãna) thì mới mong toàn thiện.Theo Phật thuyết
chủ trương ở tự-tính, tự-ngã là điều vô minh, vọng niệm là việc đầu tiên nơi
con người. Ý thức về về bản tính của đau khổ và nguyên nhân sự cớ đưa tới đau
khổ, tuyệt vọng để được giải thoát và tự do là giác ngộ về quá trình diễn biến
của định luật nhân duyên (pratitỳasamutpada); cho nên Bồ Đề Đạt Ma trở nên vô
chấp ngã trước một con người chấp ngã như Thần Quang. Mà nhìn mọi hiện thể là hư
không vì do nhân duyên sinh của trùng duyên khởi mà ra. Nhưng; giác ngộ của kẻ đi
cầu tìm là phải khai tâm trước khi giác ngộ, chớ không phải đem cái niệm ra để
nói đến giác ngộ. Thần Quang hiểu thấu đáo thâm hậu đó khi đối diện với Tổ. Tổ
khai tâm cho Thần Quang là hiểu được ý cầu xin và nhận đó là đệ tử để phong phật
tánh là Huệ Khả. Hốt nhiên! Tổ đốn-ngộ giữa thức và vô thức, giữa ngã và phi-ngã
(moi et non-moi) là ở chỗ đó. Thực ra; câu chuyện giữa hai tu sĩ chưa hẳn đã là
thực, dù là chuyện kể đều xây dựng trên một lập trường phi lý nhưng trong phi lý
đã đưa vào đó một ý thức tánh-không của phép tu học. Một đằng chất chứa bản ngã
bất ổn, phiến động tâm tư, một phản kháng nội tại mong được giải thoát là nghịch
lý tính cho việc tu học mà quá trình là một chân tu, một đằng giao động trước tình
huống cũng là một phản kháng nội tại của vô-niệm. Đó là nhân tố để thành chuyện
trong việc hướng đến thiền tính là cứu cánh để đạt mục đích của ước thệ hiện
sinh, một yếu tố tâm lý học giữa chối từ và gia nhập. Bởi; cả hai là những con
người ‘khổ hạnh/ passion’. Khổ hạnh là một tự kỷ ám thị xa lià trần thế tìm đường
giải thoát cho một bản ngã tự tại. Cái sự đó hoàn toàn nghịch lý tính của thiền,
vì rằng yếu tính của thiền là tiêu diệt bản ngã để chỉ còn lại cái sứ mệnh thiêng
liêng là đối diện chân thực của bản ngã trong ngã thức mà thôi. Vậy cho nên Bồ Đề
Đạt Ma và Thần Quang đòi hỏi duy nhất một tâm thức Giác Ngộ để không còn thấy mình
trước vũ trụ bao la của tánh-không mà để nhận ra hiện hữu và phi hữu. Trước một
hiện thể vũ trụ và nhân sinh; Tổ phải thoát tục để nhập cuộc, nghĩa là không còn
lưỡng lự giữa thực tánh và vô thức tánh mà xóa tan bờ vọng ảo của nghi ngờ ‘être
ou ne pas être / to be or not to be’ giữa có và không mà đỏi hỏi một nhận thức
thấu triệt. Cuối cùng Bồ Đề Đạt Ma nhận ra rằng: Thần Quang vị đạo hơn vị mình,
một thách đố của Thần Quang chính là con đường đi tới giác ngộ viên mãn của Tổ.
Đấy cũng là lý do phân định được giữa chủ thể và khách thể vốn là duyên khởi. Tư
duy của Tổ là đi tới chánh quả, tư duy của đệ tử là trí tuệ để chinh phục bản ngã.
Ngộ được là thực nghiệm thức tỉnh về chân lý Bát Nhã.
Dựa theo triết
thuyết của Descartes: ‘Tôi suy tư do đó tôi hiện hữu’. Cái tôi ở đây là ngã, là
hiện hữu. Tâm thức phản kháng của Huệ Khả là hiện hữu là ý thức tuyệt đối cho tư
duy chớ không nằm trong hành động. Mỗi khi nói đến phản kháng tức vọng động, ngược
với tôn chỉ của thiền là tỉnh để nhận thức. Phản Kháng của Huệ Khả là được sống
lại từ đau khổ, tuyệt vọng để tìm đến chân lý tánh không. Con người phản kháng
là con người đứng trước một hiện thể tất yếu hoặc sau cái thiêng liêng mà ở đó
mọi lời đáp, yêu sách phải là của con người. Phản kháng là biện minh cho sự thật.
Vấn đề phản kháng mang tính chất hiện thực
cấp thiết của chối bỏ hay dự cuộc. Đó là quyết định tối hậu của Tổ
và hành giả. Cho nên Huệ Khả phản kháng là tại độ của chúng sinh cùng nhau duyên
khởi để được tồn linh, tồn lại, tồn lập trong cùng một phương hướng hiện sinh tính;
tư tưởng phản kháng là một trạng huống khẩn trương, là một tối hậu thư đưa tới
quyết định. Khởi từ khi cơn dấy động bừng dậy ở kẻ tu và người xin tu là nỗi thống
khổ tự tại trước một tình huống đau khổ, tuyệt vọng và bi thương. Một kẻ chịu đọa
đày thì toàn thể kẻ khác cũng bị đọa đày; để rồi cả hai buộc phải suy tư để hiện
hữu / cogito ergo sum. Nhưng; đó là cõi chung của nhân gian đưa tới phản kháng.
Như vậy; hiện diện của Huệ Khả là hiện hữu. Một hiện hữu đả thông với Tổ. Hai
nhận xét đó là phân tích hóa giải của trạng huống bi đát. Hẳn nhiên đưa tới lý
lẽ hoài nghi. Phật không hoài nghi chúng sanh. Bồ Đề Đạt Ma hoài nghi bởi tự tánh,
vì chúng sanh khuấy động do đó sanh ra phản kháng. Hoặc phản kháng do áp lực
hay đè nén. Cái sự hoài nghi của Tổ là lòng xót thương cho con người đang rơi vào
tuyệt vọng. Trong tinh thần phản kháng, con người tự vượt mình để đạt ý kẻ kia.
Huệ Khả đã đánh động đúng chỗ tinh thần Bát Nhã ở Tổ. Vậy thì tinh thần phản kháng
phải tự mình tìm đến, là một biểu lộ cụ thể với những lý do đưa ra, không tìm
thấy nó ở bên ngoài. Nó đành lòng chấp thuận, tự kiểm xét chính mình để tìm cách
đối xử giữa kẻ đưa đường – Il faut qu’elle consentle à s’examiner pour
apprendre à se conduire. Vấn đề là xem lại cái sự an tâm và cái sự bất an có trùng hợp nhau không hay chỉ là cái cớ để nói
lên tâm trạng của con người phản kháng để có thể đưa đến cái diệt dục của vọng động. Do đó; tinh thần
phản kháng không những chỉ (only-one) ở Huệ Khả mà ở mọi người (every-one), phản
kháng không sống dậy là nguồn cơn do bát nhã chế ngự trong ‘tế bào’ của tế độ.
Bồ Đề Đạt Ma đã vượt ra khỏi cõi ngoài / beyond / au-dela de của phản kháng để
thốt tiếng ‘không’ một chối bỏ để nhận ra tánh không của cái sự không khước từ,
hiểu rộng hơn là không từ nan mà phải
chấp nhận . Đó là cái mà người nói
‘không’ và người kia nói ‘dạ’ từ cửa miệng thốt ra là đánh dấu giữa hiện thể (BĐĐM)
và tha thể (HK); như vậy cả hai là những con người dự cuộc trước nghiệp của khổ/dukkha, cái này nó nằm trong 7 thức:
vô minh, ái, thủ thuộc lậu hoặc hành và hữu thuộc nghiệp của đau khổ và bất hạnh.Vì
rằng; theo Phạn phân tích: Cái này có – cái kia có. Cái này không – cái kia không
(Imasmim asati idam na hoti).Cái này sanh – cái kia sanh (Imassuppàdà idam
uppajjati). Cái này diệt – cái kia diệt (Imassa nirodhà idam nirujjhati) (trích
từ Viện nghiên cứu Phật học Việtnam . 1992). Rộng nghĩa: ‘không tức thị không’
là chỗ đó!
Nói rút lại; tiếng
‘Không’ là xác định cho một hiện hữu tồn lưu; cùng ý niệm đó cho ta nhận thấy cảm
xúc cùng cực của kẻ phản kháng; phản kháng nội tại chính là đánh động vào cái sự
phản kháng ngoại tại của Tổ. Cái ngộ đạo nửa thực, nửa giả, đùa cợt, dám làm, dám
chịu của Huệ Khả là một thách đố buộc phải hành động giữa đối tượng cần hòa giải,
hoà hợp để không còn thấy ở đó là hố thẳm tội lỗi hay tuyệt vọng. Vậy là cả hai
‘đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu’ và; giữa hai bên không còn nhận ra mình
tuyệt vọng / désespoir /despair . Tuyệt vọng nghĩa là xa rời mọi nguyện vọng trên
bình diện thiết tha cầu xin mà ở đó là tiếng nói khuất phục. Cho nên chi con người
phản kháng mang nặng tư duy vừa dự cuộc vừa đồng hóa để biến mình là ‘toàn không’
là hư vô để đi vào vĩnh viễn tồn lưu mà mỗi khi đi vào hư vô thì không còn vướng
tục, không còn sợ chi là tồn loạt, tồn lui, tồn lủi, tồn lùi bởi những thứ đó
khống chế trong một tri thức của con người. Phản kháng là thế đó! là chối bỏ để
đi vào chân không. Đấy là tia lửa chặt đứt mọi vọng niệm. Từ đó nhận ra rằng tâm
thức phản kháng của Huệ Khả là để được thoát tục, còn Tổ phản kháng là để giải
thoát cái đau khổ cùng cực, cái sanh ra bi thảm (The Birth of Tragedy (Nietzsche).
Ở hoàn cảnh này Huệ Khả và Tổ dự cuộc chơi với đời bằng một nỗ lực ở chỗ tự phê
tự giác, giác tha (Attempt at a Self-Criticism) là yếu tố cần có giữa chủ thể và
tha thể. Trái lại; tinh thần phản kháng có từ trong nguyên lý của nó chỉ đòi hỏi
một sự thán phục nào đó để đi tới ‘duyên sanh / duyên khởi’. Tinh thần phản kháng
là cái sự dám làm để chịu đựng đau khổ về phiá mình. Phản kháng ý thức là chấp
nhận thương đau, nghĩa là ta và tha nhân cùng đồng hóa để đi tới chân không của
hoài vọng. Luận ra ở đây là bao hàm một tổng thể của phản kháng siêu hình. Sao
gọi là phản kháng siêu hình? –Vì nó bác bỏ mọi cứu cánh của con người và tạo vật.
Phản kháng siêu hình là nhập định (meditation) để thấy mình thấy ta, trăm trận
trăm thắng. Như vậy; trong trường hợp này cho chúng ta một nhận xét phán đoán về
‘giá trị tuyệt đối’ và mặc khải phủ nhận không chịu đón nhận tức thì, vì theo kẻ
phản kháng siêu hình là đứng lên tước quyền cho sự phán xét. Từ khước phán xét
của con người mà chỉ có cái tâm phán xét và giải tội. Huệ Khả muốn xác nhận hiện
hữu của mình là bi thảm gây nên để làm sao lời thốt đó đi vào chân không. Trong
cái tâm sa đọa và an tâm cho cái sự sa đọa là một hiện thể quyết định để thức tỉnh
chớ không an tâm để lột xác. Phản kháng siêu hình là thách thức đối tượng nhiều
hơn là chối bỏ . Cơ hồ phân định được kẻ hiện diện với Phật ai là chân tâm? -cái
đó không phải là công-án, không phải là ‘thốt’ cũng chẳng phải là ‘hốt nhiên’ mà
một cuộc đối thoại đầy bi-trí-dũng. Phản kháng siêu hình là dấy động một nội tại
đang đương đầu, đưa đối tượng vào ngõ cụt. Nhưng Huệ Khả đã bắn nhầm hơn bỏ sót.
Chín năm diện bích chưa đủ thấy nhân gian? Và; cũng trong chín năm đây là lần đầu
Tổ thách đố để quyết định sứ mạng. Và; sau ngày đó Tổ không còn diện bích mà chờ
ngày trao y áo cho Huệ Khả. Cuộc dấy động cuồng lưu, phong tỏa là đánh động
tinh thần phản kháng của con người dự cuộc trước cuộc đời, là chấp nhận cho mọi
thương đau của kẻ khác.
Vậy thì Bồ Đề Đạt
Ma đã khai ngộ cho Huệ Khả trước khi truyền tâm ấn và y bát? -Trong kinh Viên
Giác có đoạn ghi như sau: “Nhất thiết tu đa đa giáo như tiêu nguyệt chỉ”. Nghĩa
là đừng nhầm lẫn giữa ngón tay và trăng mà nhìn vào đó như đã khai ngộ cho kẻ
khác. Đó là tánh không; phép mầu tu tập của Thiền đạo ./.
VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Mar 2017)
ĐỌC THÊM: ‘Tâm thức Bồ Đề Đạt Ma và Huệ Khả’ 2014 và ‘Hư
vô Phản kháng’ 2012 của võcôngliêm. Hiện có trên một số báo mạng và giấy trong
và ngoài nước hoặc email theo điạ chỉ đã ghi.
TRANH VẼ: ‘Tượng Bán thân Đàn bà / Bust of a Woman’ Khổ
12” X 16” Trên giấy cứng. Acrylics+House-paint. Vcl# 1232017.
TƯỢNG BÁN THÂN ĐÀN BÀ

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét