Thơ Tình Vương Đức Lệ
GIANG HỮU TUYÊN

Nhà thơ Vương Đức Lệ
(1937-2008)
Thi sĩ và cũng là "tu sĩ" Phạm Thiên Thư trong những ngày đi theo chân Hoàng Thị Ngọ có một đoạn thơ tình như sau:
"Em tan trường vềĐường mưa nho nhỏChim non giấu mỏDưới cội hoa vàng
....Mười năm rồi NgọTình cờ qua đâyCây xưa vẫn gầyPhơi nghiêng dáng đỏÁo em ngày nọPhai nhạt mấy màu"
Vào giữa thập niên 60, Tô Thùy Yên:
"Giữa mùa hạ khô tôi bốc cháyĐời vốn ngăn chia tôi bốc cháy một mìnhBằng tiếng thất thanh cuống cuồng bay tan tán loạnCánh chạm vào tường trong suốt của cô đơnNhưng em đến kịp thời khỏa thân xin cứu lửaTôi vốc đầy tay đôi vú áp lên môiEm xõa mái tóc rừng trầm hương mê trùm em lấp kín"
Cùng là thơ tình, nhưng thơ tình của Phạm Thiên Thư và Tô Thùy Yên đã vô cùng khác biệt với thơ tình Vương Đức Lệ.
Vương Đức Lệ dứt khoát không có cái vụ "mười năm theo Ngọ". Vương Đức Lệ cũng dứt khoát không có "vốc đầy đôi vú áp lên môi." Với Phạm Thiên Thư, như vậy quá chay tịnh không? Với Tô Thùy Yên, như vậy quá táo tợn chăng?
"Đất lệch, trời nghiêng bỗng nhớ vềTình Em lãng đãng nhập hồn mêBao giờ sông biếc khô dòng lệĐể tiếng thơ sầu bớt ủ ê?"(Nhập Hồn Mê, trang 35)
Bao giờ sông biếc khô dòng lệ? Thơ tình hay có thể nói một cách khác, những mối tình thơ Vương Đức Lệ có lẽ chỉ là cái cớ, cái cơ duyên để từ đấy hoặc đẩy lên một cung bậc, hoặc phóng mình chìm xuống một thang âm là cả một vực sâu lìa cách, là cả muôn trượng cao xa thẳm của một tâm hồn bạt ngàn, bão lửa, phong ba...
"Em đi rồi hồn tôi dông bão nổiCuối Hạ buồn, trời đất đã sang Thu....Xin tặng Em một đóa hồng đỏ thắmMai xa rồi còn biết gặp nhau không?Ôm một nỗi nhớ trùng dương biển mặnTình xanh xưa nghe muối xát trong lòng.Bài 'Trương Chi' đêm nào tôi đã hátNghe tình trần còn chút vọng âm xaKhúc 'Biệt Ly' lênh đênh từ nốt nhạcEm đi rồi, hồn bỗng nổi phong ba!"(Dông Bão Hồn Tôi, trang 34)
Thơ tình Vương Đức Lệ có lẽ chỉ là khối tình tưởng như rất nhẹ.
Còn có đêm nào phơi ánh nguyệtTựa hồn nhau đợi giác chiêm bao?Chiều nay chợt có cơn buồn lạTrời đất vô can cũng nhuốm sầu!"(Trời Đất Vô Can, trang 35)
Nhưng đã khiến "trời đất vô can cũng nhuốm sầu." Tôi có lẽ là cũng rất "vô can" với những mối tình thơ của Vương Đức Lệ. Và tôi có lẽ cũng đã rất "nhuốm sầu" khi đọc:
"Nắng xế, chiều nghiêng, bóng đổ dàiRừng thu hiu hắt lá thu phaiChân mòn lối cũ, đâu người cũTa một phương trời thương nhớ ai?(Cuối Thu)
Hình như một giòng thơ là mỗi một giòng lệ chậm lăn trên má...
"Ta ngồi vớt mảnh hồn tanSông quê còn đỏ màu loang máu đàoEm ngồi rửa bát cầu aoTóc mây còn phả hương ngâu tưởng chừng."(Sinh Tiền, trang 51)
Người đọc Vương Đức Lệ gần như không tìm thấy nơi thơ ông một sự xốc nổi quá đáng, một cách tân xa lạ, kiêu kỳ hay sự bùng nổ, phá vỡ, xóa tan ngôn ngữ, hình tượng nào.
"Tóc Em nghìn sợi sắc khôngXuân xanh gió biếc, Ha bồng bềnh mâyTrời chiều mỏng lá Thu bayChia anh từng sợi cuối ngày tuyết Đông"(Sợi Tóc, trang 52)

Mà gần như trái lại, bốn mùa thi ca, bốn mùa thơ Vương Đức Lệ chan chứa những cảm xúc chín muồi, sâu lắng, mênh mang của tài thơ chìm đắm, say sưa với muôn sắc màu, góc cạnh của cuộc sống.
"Cây nghiêng nắng xế lưng đồi
Vàng thu lá muộn chiều phơi bóng tà..."
(Bóng Xế, trang 44)
Hình ảnh trong thơ: có gì đâu. Chl là những hình ảnh cũ, thường nhật. Chl là cây nghiêng, chì là bóng xế, lưng đồi. Chỉ là ngày thu, chiếc lá rơi muộn trong buổi chiều. Vậy mà chỉ với hai chữ: "chiều phơi," toàn bộ cảnh tượng trở nên có linh hồn. Thơ tràn đầy sinh lực. Hình ảnh cũ trở nên mới. Chiều mà làm sao phơi được bóng. Hay bóng mà làm sao phơi được chiều. Vậy mà chỉ cần trao cho danh từ trừu tượng và động từ cụ thể hai nhiệm vụ bất ngờ, họ Vương đã dựng lên sừng sững một "bóng xế" tráng lệ, lấp lánh giữa thi ca.
"Về qua thăm chiến trường xưaOan khiên chứng giám, hận thù dửng dưngSông xưa, nước cũ tanh lòngRừng xơ xác lá bụi hồng bay theo.Xe qua dừng lại xóm nghèoDấu chân ta sững, bóng chiều lạnh tê!Mưa xa lớp lớp mưa vềMáu đào còn nhỏ cõi mê thuở nàoNgười chân mây, kẻ giang đầuCùng nhau chung một giấc sầu chia hai.Lối về từng hạt mưa nayXe qua phố thị còn ngây mắt nhìn"(Về qua Sông Bé, trang 123)
Thơ Vương Đức Lệ không phẫn nộ, không vồ vập, không loạn cuồng, không gào thét, không rên đau mà là những trăn trở của hình sông, vách núi, của những thầm lặng, tưởng tiếc, nhớ nhung giữa hữu hạn và vô cùng.
"Ngày hữu hạn cứ dần dần ngắn lạiĐêm vô cùng thăm thẳm cứ dài thêm!"(Hữu Hạn Và Vô Cùng, trang 32)"Ta tiêu gần hết quỹ thời gianMộng mới chưa xanh, mộng cũ tànSầu chín đong đưa chưa kịp háiNgậm ngùi ngồi chuốc mảnh hồn tan"(Cạn Quỹ Thời Gian, trang 25)
Ngậm ngùi chuốc mảnh hồn tan. Có thế ví thơ Vương Đức Lệ là những làn khói mỏng vươn lên giữa khung trời hiu hắt. Nhưng đối với tôi, những làn khói mỏng vươn lên giữa khung trời hiu hắt kia chính là sự báo hiệu nơi có sự sống của con người, nơi có nhịp đập của trái tim, nơi có hữu ngạn, tả ngạn và luôn cả trầm tích của giòng sông nhân sinh hùng vĩ.
Nổi bật trong 220 trang thơ Vương Đức Lệ là những bài thất ngôn tứ tuyệt. Những bài bảy chữ, bốn câu đã làm rắn rỏi lại, quánh đặc lại không gian nhàn nhạt u buồn, dạt dào bất tận như gió đuổi trên ngàn lau.
"Một chút tro tàn vữa đủ nhớMột bình sắc sắc đựng không khôngMấy tầng tháp cổ sau chùa đóAi nhớ ai thơm khói vẽ vòng?"(Bài Ở Tháp Tro Chùa Vĩnh Nghiêm, trang 129)"Vương quốc ta nghìn vẻ tốt tươiEm là hoàng hậu chẳng về ngôi!Cố cung xa quá, hành cung lạnhMột mảnh trăng non, ngủ giữa trời!"(Vương Quốc Hoang Vu, trang 133)
Tác giả "Chuyến Tàu Trên Sông Hồng", nhà văn Mai Thảo, một ngòi bút cột trụ của nhóm "Sáng Tạo" vào năm 1989 đã xuất bản tập thơ có nhan đề là "Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền" (nhà xuất bản Văn Khoa, California). Nếu ở bộ môn văn Mai Thảo đã làm say mê người đọc ông bằng lối tùy bút diễm lệ, thì ở bộ môn thơ, Mai Thảo đã khiến người ta kinh ngạc không ít với những bài thất ngôn tứ tuyệt:
"Tả ngạn đòi ta một nhánh hoaBên kia hữu ngạn vẫn thơm vàHương bay thần chú qua lìa dứtMỗi buổi bên này mỗi lệ sa."(Tả Ngạn)
Thất ngón tứ tuyệt của Mai Thảo cô đọng đến chừng như không còn cô đọng được nữa. Ngữ pháp và tứ thơ không đứng dừng lại ở mỗi câu tứ của bài thơ, mà như còn luôn rộng mở, chập chùng đi hoài, đi mãi... Ngõ ngách nào, triền dốc nào cũng bát ngát, cũng điệp trùng dư vị.
Còn thất ngôn tứ tuyệt của Vương Đức Lệ thì sao?
"Lã chã canh khua giọt vắn dàiThương trời đất cũ nhớ riêng aiSao sa mấy cánh ngoài vô tậnThao thức đêm trường mộng đã phai."(Canh Khuya, trang 21)"Cuốn sách mở, từng trang chữ cổNgười ngàn xưa chép sử ngàn sauLần theo từ ngữ tìm chân lýChỉ thấy mây mù đáy vực sâu!"(Vực Sâu)"Hệ mặt trời mai tắt lửa rồiHành tinh trái đất sẽ im hơiQuy trình, sinh, diệt ai vờn vẽBóng tối trùm lên chút phận người."(Tắt Lửa, trang 133)
Sau câu tứ của Vương Đức Lệ, không hẳn chỉ là dư vị mà còn là ám ảnh xót đau, trăn trở giữa hai bờ khổ đau và hạnh phúc.
Hình như tứ tuyệt của Mai Thảo, thơ của Mai Thảo là thơ đến từ khối óc. Hình như tứ tuyệt của Vương Đức Lệ, thơ của Vương Đức Lệ là thơ đến từ trái tim. Tứ tuyệt Mai Thảo như là một cô gái thị thành ngổ ngáo, điểm xuyết thêm một chút phấn son lãng mạn. Tứ tuyệt Vương Đức Lệ như là một thôn nữ dịu dàng, e ấp, mặn mà ẩn hiện một nụ cười duyên dáng. Tứ tuyệt Mai Thảo có thể như là một thước phim màu được gạn lọc, được dàn dựng công phu. Tứ tuyệt Vương Đức Lệ là một khúc phim tài liệu đen trắng, chân phương.
Hai tài thơ, hai phong cách. Phong cách nào cũng đáng yêu. Phong cách nào cũng vượt.
Vậy mà trong lần nói chuyện về thơ với cá nhân tôi hôm đầu Xuân Quý Mùi. Vương Đức Lệ chỉ khiêm nhường tâm sự, ông "chỉ là một người làm thơ và chỉ thích làm thơ, kể cả thơ vè (?) để ghi lại cảm xúc của mình trong mọi tình huống và chắt chiu như kỷ niệm trong đời."
Cũng trong lần nói chuyện đó, ông đã nhắc nhở một bài thơ mà ông tự gọi "còn hôi mùi sữa" được sáng tác vào năm 1952 tại Hà Nội. Đó là một bài bảy chữ, nhưng sau đó trở thành thất ngôn tứ tuyệt có nhan đề là "Tường Đông":
"Qua cửa nhà Em chiều lại chiềuTường đông ong bướm cũng về theoNhà Em kín cổng cao tường quáAnh muốn làm dây hoa tim leo"
Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, kể từ năm 1952, đã biết bao thăng trầm, đổi thay, hưng phế, vậy mà Vương Đức Lệ đã vẫn chì thủy chung "chắt chiu" mãi với mối tình thơ dại...
Thơ vì thế còn là kỷ niệm. Kỷ niệm có khi rất đẹp. Có khi cũng rất buồn. Cái đẹp cái buồn trong thơ Vương Đức Lệ không hắn chỉ là cái đẹp và cái buồn "ý tại ngôn ngoại" của Hồ Dzếnh:
"Tô Châu lớp lớp phù kiều
Trăng đêm Dương Tử, mây chiểu Giang Nam"
Mà ở Vương Đức Lệ, với tôi, cái đẹp và cái buồn đó đã trùm lấp hết tất cả chân trời, góc núi, khe sông, lòng biển luôn cả nhân gian khiến cho "cát trong sỏi đá" cũng đã phải "giật mình ngẩn ngơ."
"Hồn về tám nẻo u minhCát trong sỏi đá giật mình ngẩn ngơMai về một bóng ta ư?Nối kim cổ lại, lạnh bờ nhân gian."(Cõi Sầu Nhân Gian, trang 216)
Nối kim cổ lại, lạnh bờ nhân gian. Vâng, tôi đã dường như lờ mờ dọc thấy được trong giòng thơ Vương Đức Lệ ánh mắt rưng rưng của người thi sĩ có dáng dong dỏng cao ở cuối một con đường cô tịch, một mình một bóng lặng lẻ âm thầm đi nối lại cổ kim. Không phải bờ nhân gian đang lành lạnh, mà chính lòng tôi cùng những người đang đọc thơ ông, cũng đang lạnh buốt...
Giang Hữu Tuyên
(đăng lại từ: hocxa.com)
-----------
* Tủ sách TIẾNG QUÊ HƯƠNG xuất bản -
Virgina 2003 - ĐC liên lạc:
P.O.Box 4653 - Falls Church, VA 22044
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét