“HIẾP DÂM LỊCH SỬ”*:CA TỤNG MẠC ĐĂNG DUNG ,KẺ TỰ TRÓI MÌNH QUỲ LẠY QUAN TÀU
TÀI LIỆU LỊCH SỬ

BÁO KIẾN THỨC ĐIỆN TỬ

Độc chiêu “nhẫn nhục” cứu nước của Mạc Đăng Dung ??!!

Một họa phẩm được in trong cuốn An Nam lai uy đồ sách: Người đứng trong chính điện là sứ thầntriều Minh, người lạy chào là Thái thượng hoàngMạc Đăng Dung (dòng chữ: Ngụy vương Mạc Đăng Dung / 偽王莫登庸); địa điểm này là trấn Nam Quan, năm 1540.
TIN LIÊN QUAN
(Kiến Thức) – Để tránh chiến tranh, Mạc Đăng Dung phải tự trói mình để đến gặp sứ giặc. Đó chính là sách lược ngoại giao nhẫn nhục có 1-0-2 của nhà Mạc.
Nguy cơ một cuộc chiến tranh
Khi lật đổ nhà Lê để tiếm ngôi, Mạc Đăng Dung đã lo rồi sẽ bị nhà Minh ở phương Bắc làm khó dễ. Quả nhiên, không ngoài dự liệu. Nguyễn Kim tìm được người dòng dõi nhà Lê dựng lên làm vua, lập tức cho người theo đường biển lên phương Bắc tố cáo họ Mạc cướp ngôi, nhờ nhà Minh đem quân sang hỏi tội.
Được tin, Mạc Đăng Dung liền cử Phạm Chính Nghị mang thư sang Vân Nam biện bạch. Trong thư giải thích rõ con cháu nhà Lê đã không còn, Mạc Đăng Dung là người có công phò tá nhà Lê, nay tạm thay quyền; còn Lê Ninh là người không rõ lai lịch, được Nguyễn Kim đưa lên làm vua chỉ là giả trá. Kèm theo bức thư, Mạc Đăng Dung dùng rất nhiều vàng bạc đút lót, mua chuộc bọn quan lại Vân Nam để chúng tâu lên triều đình có lợi cho mình.
Chuyện tạm yên được chục năm, cho phép nhà Mạc có điều kiện ổn định đất nước. Song vua Thế Tông nhà Minh vẫn không từ bỏ dã tâm lấy đấy làm cớ, đem quân xâm chiếm nước ta. Sở dĩ ông còn chưa động thủ vì có rất nhiều quan lại dâng sớ can ngăn. Quan thị lang bộ Hộ nêu bảy điều không nên đánh An Nam, cho rằng các đời vua trước chưa bao giờ thắng lợi, kể từ thời Mã Viện đến đời Minh Thái Tông. Thị lang Phan Trần thì phân giải: “Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê cũng như Lê cướp ngôi Trần vậy. Nếu Đăng Dung chịu dâng biểu nộp cống thì coi như được”.
Sở dĩ có tâm lí này vì dư âm cuộc chiến thắng quân Minh của Lê Lợi thuở nào vẫn còn ám ảnh ở phương Bắc. Nhưng mộng xâm lăng cũng đâu dễ từ bỏ. Năm 1541, vua Minh cử Cừu Loan làm Tổng đốc quân vụ, Mao Bá Ôn làm Tham tán quân vụ lo việc tiến đánh nước ta. Các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây phải lập tức cung ứng lương thảo cho quân đội…
![]() |
Tranh minh họa.
|
Mạc Đăng Dung tự trói gặp sứ giặc
Viên tướng Trương Nhạc trấn giữ Châu Liêm truyền yêu sách đòi Mạc Đăng Dung phải đích thân tới cửa quan, nộp đất dựng mốc, từ bỏ đế hiệu, chịu tiến cống và tuân theo lịch “chính sóc” của Trung Hoa.
Bấy giờ Mạc Đăng Dung đã có tuổi, con là Đăng Doanh lên ngôi vừa mới mất, cháu hơn một tuổi được đặt lên ngai. Nếu chiến tranh nổ ra, không chỉ triều đại do ông lập ra bị sụp đổ, mà đất nước cũng sẽ mất, nhân dân lại trở về với kiếp nô lệ như thời nhà Hồ khi trước. Phải tìm mọi cách thoát được cuộc chiến tranh xâm lược này. Mạc Đăng Dung biết được rằng nhiều quan lại nhà Minh và ngay cả Mao Bá Ôn được lệnh đem quân đi đánh, nhưng vẫn có thái độ chùng chình. Cân nhắc kỹ từng yêu sách của chúng đưa ra, ông quyết định trước mắt phải chịu nhịn nhục đã.
Mạc Đăng Dung cùng một số cận thần lên đường đến trấn Nam Quan. Lúc này ông đã trạc lục tuần, gánh nặng quốc gia càng khiến ông trông già sọm. Song Mạc Đăng Dung đành nuốt nước mắt vào lòng, tự trói mình đến gặp sứ giặc. Ông lựa theo yêu cầu của chúng, không xưng đế nữa, nghĩ bụng cốt sao mình vẫn làm chủ đất nước và dân mình thì được yên. Chúng đòi trả mấy động mà Nùng Chí Cao đã chiếm của nhà Tống từ thời nhà Lý, ông thấy cũng chấp nhận được, miễn là chúng không đòi hỏi thêm đất đai của ta. Chuyện cống nạp thì trước nay vẫn vậy. Còn việc dùng lịch Tàu, các triều đại trước có thời cũng từng theo ngày Sóc, ngày Vọng do họ tính toán, nay cứ tạm coi như mượn dùng lại vậy. Mạc Đăng Dung tự nhủ thầm sau mỗi điều khoản sứ giặc đưa ra…
(còn nữa)
TIN BÀI LIÊN QUAN
- Điềm báo chết thảm của ông vua Mạc
- Bỗng dưng u mê vì “bất kính” với vua Mạc? (3)
- Kỳ bí chuyện vua Mạc “hiển linh” (2)
- Hé lộ “thần hộ mệnh” ba đời nhà Mạc
- Thanh đại long đao của vua Mạc lưu lạc 500 năm
TÀI LIỆU VỀ MẠC ĐĂNG DUNG
THÁI TỔ MẠC ĐĂNG DUNG !!??
TTheo “Bách Khoa Toàn Thu mở (Wikipedia)
(TÓM TẮT TIỂU SỬ)
Mạc Đăng Dung (莫登庸), sinh giờ ngọ, ngày 23 tháng 11 năm Quý Mão (1483). Ông là người làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương (nay là huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng). Mạc Thái Tổ (chữ Hán: 莫太祖 mất ngày 22/8 âm lịch năm 1541.

(Tượng Thái tổ Mạc Đăng Dung tại Từ đường Cổ Trai – Hải Phòng)
“Mạc Đăng Dung là cháu 7 đời của trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi thời Trần. Theo Toàn thư và Đại Việt thông sử, Mạc Đăng Dung là người xã Cao Đôi (Đông Cao theo Cương mục), huyện Bình Hà (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương), tổ tiên ông là Mạc Đĩnh Chi, trạng nguyên triều Trần. Đĩnh Chi sinh ra Cao (Dao theo Cương mục), Cao sinh ra Thúy (Túy theo Cương mục), Thúy sinh ra Tung, dời sang ở xã Lan Khê, huyện Thanh Hà, Hải Dương rồi sinh ra Bình, Bình lại dời sang xã Cổ Trai, huyện Nghi Dương rồi trú tại đó. Bình sinh ra Hịch, Mạc Hịch lấy con gái Đặng Xuân là Đặng Thị Hiếu người cùng làng Cổ Trai sinh được ba con trai, con trưởng là Đăng Dung, con thứ là Đăng Đốc (Đốc Tín), con út là Đăng Quyết”
Mạc Đăng Dung hồi nhỏ làm nghề đánh cá, lớn lên có sức khoẻ, đỗ lực sĩ xuất thân, được sung vào quân túc vệ của nhà Hậu Lê đời Lê Uy Mục.
Năm 1508, Đoan Khánh năm thứ 4, vua Lê Uy Mục giao cho ông làm Thiên vũ vệ đô chỉ huy sứ ty đô chỉ huy sứ. Năm 1511, Hồng Thuận năm thứ 3, vua Lê Tương Dực thăng ông làm Đô chỉ huy sứ tước Vũ Xuyên bá.
Triều Lê suy yếu, các tướng chia bè phái đánh lẫn nhau, bên ngoài nông dân nổi dậy khởi nghĩa, mạnh nhất là lực lượng Trần Cảo. Cảo đánh chiếm kinh thành Thăng Long, các tướng gác mâu thuẫn cùng đánh dẹp. Đến khi Trần Cảo rút đi, các tướng lại chia bè phái đánh nhau. Nguyễn Hoằng Dụ (con Nguyễn Văn Lang) đánh nhau với Trịnh Tuy. Tuy thua chạy về Tây Đô (Thanh Hoá). Trần Chân về phe với Tuy đánh đuổi Hoằng Dụ, nắm lấy quyền trong triều.
Mạc Đăng Dung thấy uy quyền của Chân lớn liền kêt thông gia với Chân, cho con gái Chân lấy con trai cả mình là Mạc Đăng Doanh.
Năm 1518, Lê Chiêu Tông nghe lời gièm pha, sợ quy quyền của Trần Chân nên sai người giết Chân. Thủ hạ của Chân là Nguyễn Kính nổi loạn. Bấy giờ Đăng Dung đang trấn thủ Hải Dương. Chiêu Tông bèn triệu Mạc Đăng Dung và Nguyễn Hoằng Dụ về cứu giá. Hoằng Dụ đánh bị thua chạy về Thanh Hóa rồi chết. Đăng Dung một mình nhân cầm quân dẹp loạn mà nắm hết quyền bính…
Năm 1521, Mạc Đăng Dung chiêu hàng được Nguyễn Kính, dẹp được Trần Cung (con Trần Cảo), quyền thế át cả Chiêu Tông. Chiêu Tông sợ chạy ra ngoài gọi quân Cần vương. Đăng Dung bèn lập em Chiêu Tông là Xuân lên ngôi, tức là Lê Cung Hoàng, tuyên bố phế truất Chiêu Tông…
Năm 1523, Mạc Đăng Dung nhân phe Chiêu Tông yếu thế, điều quân đánh Thanh Hoá. Năm 1524, Trịnh Tuy thua trận bỏ chạy rồi chết. Đăng Dung được phong làm Bình chương quân quốc trọng sự thái phó Nhân quốc công…
Năm 1527, ông được phong làm An Hưng Vương. Các đối thủ đều bị dẹp yên, không còn ai ngăn trở, tháng 6 năm 1527, Mạc Đăng Dung lên ngôi, lập ra nhà Mạc. Chiếu nhường ngôi của Lê Cung Hoàng cho Mạc Đăng Dung có đoạn viết: “Từ cuối đời Hồng Thuận gặp lúc Quốc gia nhiều nạn, Trịnh trung lập kẻ nghịch lên ngôi, lòng người lìa tan, trời cũng không giúp, lúc ấy thiên hạ đã không phải của nhà Lê vậy. Ta (Cung đế) bạc đức nối ngôi không thể gánh nổi, mệnh trời và lòng người hướng về người có đức. Vậy nay Thái Sư An Hưng Vương Mạc Đăng Dung là người trí đức, tư chất thông minh, đủ tài văn võ, bên ngoài đánh dẹp, bốn phương đều phục, bên trong trị nước thiên hạ yên vui, công đức rất lớn lao, trời người đều qui phục, nay theo lẽ phải nhường ngôi cho…”
Ông lên làm vua từ ngày 15 tháng 6 âm lịch năm 1527 đến hết năm 1529 với niên hiệu Minh Đức. Sau đó, học theo nhà Trần, nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh (tức Mạc Thái Tông) để lui về làm Thái thượng hoàng.
Năm 1540, Mạc Thái Tông mất, Mạc Đăng Dung lập cháu nội là Mạc Phúc Hải lên ngôi, tức là Mạc Hiến Tông.
Vợ của Hoàng đế Mạc Đăng Dung là Hoàng hậu Nguyễn Thị Ngọc Toàn.
“Các con của Ngài gồm có:
Hoàng Thái tử MẠC ĐĂNG DOANH
Hoàng tử MẠC CHÍNH TRUNG
Hoàng tử MẠC PHỤC SƠN
Hoàng tử MẠC NHÂN PHỦ
Hoàng tử MẠC QUANG KHẢI
Hoàng tử MẠC NHÂN QUẢNG
Hoàng tử MẠC ĐẠI ĐỘ
Công chúa NGỌC THỌ
Công chúa NGỌC CHÂU
Công chúa NGỌC QUANG
Công chúa NGỌC TƯ”.
(Theo Hợp biên Thế phả họ Mạc)
Năm 1541, Thái tổ Mạc Đăng Dung qua đời, ngày 22/8 âm lịch năm 1541, thọ 59 tuổi.
Trước khi mất Ngài có để lại di chúc không làm đàn chay cúng Phật và khuyên Mạc Phúc Hải phải nhanh chóng về kinh sư để trấn an nhân tâm và xã tắc là trọng.
(Mạc Văn Trang, tóm tắt
theo Wikipedia, ngày 12/9/2011
và Hợp biên Thế phả họ Mạc)
Mạc Thái Tổ
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Mạc Thái Tổ
![]() | |
Một họa phẩm được in trong cuốn An Nam lai uy đồ sách: Người đứng trong chính điện là sứ thần triều Minh, người lạy chào là Thái thượng hoàng Mạc Đăng Dung (dòng chữ: Ngụy vương Mạc Đăng Dung / 偽王莫登庸); địa điểm này là trấnNam Quan, năm 1540.
| |
Trị vì
| |
Tiền nhiệm
|
Sáng lập triều đại
|
Kế nhiệm
| |
Tại vị
| |
Thời kỳ
| |
Thông tin chung
| |
Thê thiếp
| |
Tên húy
|
Mạc Đăng Dung
|
Niên hiệu
|
Minh Đức
|
Thụy hiệu
|
Thái Tổ Nhân Minh Cao hoàng đế
|
Miếu hiệu
|
Thái Tổ
|
Triều đại
| |
Thân phụ
| |
Thân mẫu
| |
Sinh
|
23 tháng 11, 1483 (niên hiệu Hồng Đức thời Lê sơ)
|
Mất
|
22 tháng 8, 1541 (niên hiệu Quảng Hòa thời Mạc)
Dương Kinh, Đại Việt (nay thuộc xã Ngũ Đoan, huyệnKiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng)
|
An táng
|
An Lăng, Dương Kinh, Đại Việt
|
Nghề nghiệp
|
Thái thượng hoàng nhà Mạc(1530-1541)
|
Mạc Thái Tổ (chữ Hán: 莫太祖; 23 tháng 11 năm 1483 – 22 tháng 8, 1541), tên thật là Mạc Đăng Dung (莫登庸), là người sáng lập ra triều đại nhà Mạc trong lịch sử Việt Nam. Giai đoạn này người sau gọi là thời kỳ Lê-Mạc phân tranh hay thời kỳ Nam-Bắc triều của Đại Việt. Nhà Mạc do ông dựng lên không những chỉ phải lo khôi phục sơn hà xã tắc đã suy kiệt từ cuối thời kỳ Lê sơ mà còn phải chống chọi lại với phản ứng rất mãnh liệt của phần lớn các cựu thần nhà Hậu Lê với tư tưởng trung quân của Nho giáo, chẳng hạn như sáchCương mục có viết Đăng Dung sợ lòng người tưởng nhớ nhà Lê cũ, sinh ra biến cố, nên phàm việc đều noi theo chế độ triều Lê, do vậy các sửa đổi của ông về mọi quy chế trong nước là không nhiều.
Là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất của lịch sử Việt Nam trong thế kỷ 16 (đặc biệt về mặt chính trị và quân sự), một thế kỷ nhiều biến động mang tầm ảnh hưởng chưa từng có trước đó trong lịch sử dân tộc, mà ông vừa là một nhân chứng vừa là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên chúng. Mạc Đăng Dung là một viên tướng tài nhiều công trạng, đồng thời là một chính khách khôn ngoan, hành xử linh hoạt hiếm thấy ở vào một thời kỳ mà chính quyền và xã hội Đại Việt trên 20 năm cuối thời Lê sơ rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng cùng với 14 năm đầu tiên đầy thử thách của triều Mạc do ông sáng lập.
Dù hành trạng cuộc đời và sự nghiệp có những điểm tương đồng với người đã sáng lập lên nhà Hậu Lý là Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) nhưng việc lập lên nhà Mạc của Mạc Đăng Dung vào năm 1527 đã phải đối mặt với những sự chống đối lớn hơn rất nhiều so với khi nhà Lý ra đời năm 1009. Các nhà sử học hiện đại phần lớn thống nhất quan điểm ở một nguyên do cho sự khác biệt trên là bởi Phật giáo giữ vị thế độc tôn trong xã hộiĐại Việt từ đầu thế kỷ 11 nhưng đến thời nhà Hậu Lê thì đã bị mất hoàn toàn vị thế này vào tay Nho giáo (đặc biệt là Tống Nho). Chính những tư tưởng hà khắc, bảo thủ mạnh của Tống Nho đã bám rễ sâu vào ý thức của một bộ phận lớn Nho sĩ, trí thức Đại Việt cho tới đầu thế kỷ 16 là một nguyên nhân chính chống lại sự ra đời của nhà Mạc.
Mạc Đăng Dung chính thức bước vào đường quan lộ sau khi thi đậu Võ trạng nguyên trong cuộc thi tuyển võ sĩ tại Giảng Võ đường ở Thăng Long dưới triều Lê Uy Mục. Từ một võ quan cấp thấp, nhờ tài thao lược và mưu trí, Mạc Đăng Dung đã vươn tới tột bậc quyền lực vào năm 1527 khi được thăng tới chức Thái sư, tước An Hưng vương thời Lê Cung Hoàng. Xuất thân hàn vi, lập thân bằng đường binh nghiệp, Mạc Đăng Dung – gần giống như vai trò lịch sử của Đinh Tiên Hoàng ở thế kỷ 10 – là người có công đầu trong việc tạo lập lại thế ổn định và đà phát triển của xã hội cũng như chính trường Đại Việt sau hơn 20 năm hỗn loạn đầu thế kỷ 16.[2] Nhưng việc phế bỏ vai trò vương quyền của họ Lê, dòng họ đã để lại những dấu ấn sâu đậm đối với lịch sử dân tộc, đã khiến ông trở thành tâm điểm chỉ trích của giới nho sĩ – trí thức bảo thủ nhiều đời sau.[3][4]Nhiều nhà nghiên cứu trước đây cho rằng việc phế bỏ nhà Lê sơ để lập nên nhà Mạc chính là khởi nguồn cho tình trạng phân chia Nam-Bắc triều hay Lê-Mạc phân tranh (và một cách gián tiếp khởi đầu cho sự chia cắt Đàng Trong–Đàng Ngoài hơn hai thế kỷ) trong lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, những nghiên cứu toàn diện về lịch sử Việt Nam thế kỷ 16 trên nhiều lĩnh vực như sử học, an ninh – quốc phòng,[5][6] chính trị, kinh tế(như các hoạt động sản xuất, thương mại), văn hoá – tư tưởng,[7][8] văn học – nghệ thuật,[9][10][11][12] giáo dục,[13] tôn giáo – tín ngưỡng…, đặc biệt kể từ cuối thập niên 1980 tới nay, đã cho thấy sự ra đời của nhà Mạc và những động thái chính trị – quân sự của Mạc Thái Tổ (Mạc Đăng Dung) là phù hợp với những quy luật phát triển khách quan của tiến trình lịch sử dân tộc.[14][15][16]

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét