Thứ Sáu, 9 tháng 2, 2018

                                          
                                                  TRIẾT LÝ Của NGHỆ THUẬT
VÕ CÔNG LIÊM



    Hay nói ngược lại nghệ thuật là triết lý –the Philosophy of Art . Đôi khi nhìn triết học ở một góc cạnh khác trong văn chương, nó không dính dáng đến nghệ thuật, nhưng; thực chất của nghệ thuật là triết học –Art is the philosophy. Nếu nghĩ thế; triết học đưa dẫn đến nghệ thuật qua từng bộ môn khác nhau mà mỗi thứ nó chứa một thứ triết học riêng biệt; đấy là cứu cánh mang lại một giá trị đặc thù. Triết học chỉ là phương tiện cho mục đích của nghệ thuật. Vậy nghĩa của nghệ thuật là gì? -Một bày tỏ thích nghi cho chủ đề muốn nói đến, dựng ra một thứ triết lý rất là chi li, tỉ mỉ với một chất liệu chứa đựng trong đó, nhưng; trong cái sự chi li tạp-pí-lù là một bày tỏ chính xác đối với mỹ thuật tạo hình (fine Arts).
Bởi; coi đây là một dự cảm sáng tỏ không ngăn trở hay loại ra cái đẹp tự nhiên. Trong đời thường chúng ta có thói quen khi nói tới cái đẹp thiên nhiên: của màu sắc, bầu trời, con sông, rặng núi, cánh đồng, súc vật, bờ bụi và cái đẹp hiện hữu của con người. Nhưng hoàn toàn cách riêng từ những vấn đề đưa ra là vì những gì chúng ta không muốn nói ở đây, thời làm sao biết cái đẹp để có thể căn cứ vào mà xác quyết đúng với chủ đề nêu ra hoặc làm sao cái đẹp tự nhiên có thể đứng bên nhau để xác quyết một cách cụ thể cho cái đẹp với cái đẹp thât sự tinh vi, kỹ xảo (artistic beauty). Chúng ta phải khởi sự duy trì cái đẹp tinh vi, kỹ xảo là đỉnh cao hơn cả đẹp tự nhiên –we must begin by maintaining that artistic beauty is higher than the beauty of nature. Cái đẹp của nghệ thuật là đẹp sinh ra (born) và sinh ra một lần nữa của tinh thần –and born again of the spirit. Đúng ra đẹp tinh thần và đẹp tuyệt xảo đứng cao hơn cái đẹp tự nhiên -cái nết đánh chết cái đẹp- Kỳ thật nói ‘đỉnh cao’ là đề cao cái đẹp cho đúng nhân cách hóa hay tượng trưng chớ lý đó nghe ra có vẻ mập mờ chưa sáng tỏ cho một diễn tả chính xác; mà là định lượng và nói tới cái vỏ bề ngoài. Chỉ có tinh thần là sự thật cần thiết và quan trọng chứa ở đó cả vũ trụ thẩm mỹ tuyệt đẹp; thời gọi đó là đẹp thực sự. Trong cảm thức về cái đẹp tự nhiên như phản ảnh qua cái nhìn tinh thần: đôi khi cái đẹp chưa được trọn ý, trọn tình và một biểu lộ chưa được vẹn toàn của bản chất thuộc về tinh thần. Mà đó chỉ là cái đẹp ngoại vi mà thôi. Hiển nhiên; nghệ thuật và sắc đẹp lan tỏa và thừa nhận nó như một khả năng ‘thiên tài’; tất cả sắc tố đó là nhìn vào cuộc đời đang sống, một khoái cảm của loài người; những thứ đó tích tụ bên trong và bên ngoài của cái đẹp: có thể đạt tới cái không xác thực để định nghĩa cụ thể qua cái đẹp, cũng có thể đưa tới ý nghĩa xấu chứa trong văn học nghệ thuật kể cả nghệ thuật của văn chương (The Art of literature như đã nói trong bài:‘Đích Thực cho một Tác Phẩm’).
Với tất cả những gì đã nói, người ta vin vào ý tưởng đã xác quyết là thừa nhận phục vụ cho cả hai bề mặt: đẹp trong bóng và sáng tỏa; đạt được kết quả đó có nghĩa chứa một cái gì như không thực hoặc đỏm dáng cho ra vẻ. Nhưng nhớ cho điểm này; nghệ thuật không phải là thứ nghệ thuật đích thực mãi cho tới khi thực quả có một tư tưởng phóng khoáng ở chính nó –Art is not genuine art until it has thus liberated itself. Nhất là nghệ thuật hội họa nó chứng tỏ cái sìêu lý đạt tới khi đã thành phẩm. Xuất thần chỉ đến một lần trong cuộc gặp gỡ của tác giả và sáng tác chớ không đơn thuần cho đó là tác phẩm nghệ thuật thật sự, ngay cả định nghĩa đẹp của thẩm mỹ cũng dưới cái nhìn đạt tới của cái đẹp. Thành ra nói về thẩm mỹ nghệ thuật là một tác động cao độ của chính nó, trong khi nó chỉ dung thông trong lãnh vực tôn giáo và triết học có nghĩa là mang lại một mô thức vừa ý thức vừa bày tỏ cho một ý nghĩ tuyệt vời hay thần thánh hóa là những gì hay ho, lợi ích sâu đậm nhất của nhân loại ngày nay; chứa ở đó vừa vật chất và tinh thần của một vũ-trụ-sự-thật thì mới làm nên cho một tác phẩm giữa người và vật. Sự đó chỉ là phạm trù của ngữ ngôn mà thôi; chớ nghệ thuật là đặc thù, lập dị, lạ đời là cái của nghệ thuật –Art’s peculiar feature. Tuy nhiên; những gì đều bao gồm trong cái có thể của nó để giới thiệu đến trong cụm từ nghệ thuật; đó là: thể thức sắc dục/sensuous form  mới tạo nên cảm hứng thích thú; còn nếu như (as if) tránh nó, sợ nó, ghét nó thì không ai gọi là triết lý của nghệ thuật; trong sạch quá hóa ra giả dối đưa tác phẩm vào cái không thật giữa đời này, bởi; trong lẽ sống mọi thứ, mọi điều đã ẩn chứa một thứ triết học chính đáng và mang lại cho chúng ta những gì gần gũi nhất cho một cá tính riêng biệt gọi là hiện tượng tự nhiên (natural phenomena) của cảm xúc và cảm nhận. Triết học đòi hỏi như thế mới có nghệ thuật; nghĩa là trong mỗi tác phẩm bất luận thể loại nào đều chứa ở đó một thứ triết lý riêng tư của nó.

                                                                 HÀI LÒNG Và LÝ TƯỞNG Của NGHỆ THUẬT
Nội dung của nghệ thuật là tinh thần và thể thức của nó là sắc dục/sensuous; bề mặt nghệ thuật là phải hóa giải trong mọi thứ hợp nhứt. Việc thứ nhất được yêu cầu là trong đó chứa đựng đầy đủ ý và lời mà nghệ thuật là mô tả những gì được nói đến; phải xứng đáng của những gì thuộc mỹ thuật bằng không chúng ta chỉ giành lấy độc nhất một ý xấu mà thôi, thể thức đó hoàn toàn khác biệt đưa tới phản đề một cách cố hữu mà không thoát khỏi vòng cương tỏa của lý luận, để rồi trở nên bí tỉ, ức khí cho vấn đề sáng tác. Việc thứ hai đòi hỏi nội dung bên trong của nghệ thuật không đi quá xa hình ảnh trừu tượng mà bằng những gì tượng trưng vững chắc, trong đó phản ảnh một sự thật chân chính, một tư tưởng hiện thực đó là phạm vi tự nhiên (domain of nature), là vững chắc cho dù chi đi nữa vẫn là đặc chất chủ thể cho nét đặc thù chứa đựng ở đó. Một kết tụ của tự nhiên (the nature of concreteness) tùy thuộc vào cả hai cho một bố cục nội dung và miêu tả của nghệ thuật là mục đích chính xác cho cả hai có thể xem như xẩy ra cùng lúc với tư duy và tương xứng cho mỗi thứ đưa ra. Và đây là lý do tại sao kết cấu vào trong một chủ thể vững chắc khi đặc vấn đề sắc dục mà trong đó cưu mang một bày tỏ thiết yếu chứa trong sự hài lòng của nội dung tinh thần, phát biểu khéo léo ở chính nó để đạt tới bên trong cách nhìn –And this is the reason why a sensuous concrete object, which bears the impress of essentially spiritual content; addresses itself to the inner eye. Và; hình ảnh có thể là cứu cánh cho một hiện hữu mà nó chỉ đọng lại trong tâm trí của chúng ta mà thôi –And; imaginable aims at an existence only in our heart and mind. Nói chung tác phẩm của nghệ thuật không phải là thứ vô thức mà là một chìm lắng ở tự nó, đấy là vấn đề thiết yếu xuất ra như một bày tỏ của tâm hồn và trí tuệ. Từ những dẫn chứng cụ thể (concreteness) đưa tới cho chúng ta một xác quyết hợp lý bên trong của nghệ thuật là tiềm tàng một  triết học siêu lý mà từ lâu chỉ nhìn dưới lăng kính thuần chất của nó ‘nghệ thuật là nghệ thuật’ nhận định chủ quan như thế tất chưa đào sâu nguồn mạch của nghệ thuật: thơ, văn, họa luôn chứa một sự thỏa lòng và lý tưởng của cái gọi lả thể thức sắc dục dưới bất luận dạng thức nào của ngữ ngôn; chính vì vậy mà tạo nên một cảnh giới xa lạ giữa tác giả và tác phẩm; không tìm thấy, bởi; trong đó vừa đánh động vừa thức tỉnh là hai phạm trù của triết lý nghệ thuật; thành ra đứng trên lãnh điạ cố hữu luôn luôn cho đó là ‘dâm dục’ hay là dục tính. Cái khó của nghệ thuật là nhận thức và tìm thấy cái sự ẩn tàng trong đó. Nhưng trong nhiệm vụ của nghệ thuật là mô tả ý tưởng của tinh thần đi thẳng vào trong sự trầm ngâm về thể thức sắc dục, nhưng; nhớ cho điểm này nó không phải thể thức của tư tưởng hoặc của tính chất tinh thần duy linh mà sắc dục thuộc về cảm thức. Hai thỉnh nguyện trên là đòi hỏi sự tuân phục của những gì thuộc tư duy tinh thần (conformity of spiritual idea) và tư duy thể thức sắc dục (sensuous form idea). Nhưng; chưa hẳn coi đây là lý do đặc nó trong một yêu sách dành cho thẩm mỹ sắc đẹp mà nó nằm trong tư duy cảm thức (idea sense). Trong môi giới này chúng ta có thể thấy được sự phản biện của tác phẩm nghệ thuật, nghĩa là không có cái nhìn tầm xa của nghệ thuật, vì rằng; thể thức cũng là nguồn gốc yếm thế đưa tới phản bội tư tưởng. Giờ đây chúng ta chú ý tới sự tương quan của tư duy thuộc về tinh thần để mô tả về sắc dục đúng nghĩa mà không vi phạm.Tất chúng ta không phân biệt nghệ thuật và triết học mà hòa nhập.

                                                                                 BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT
Nghệ thuật bắt đầu từ khi có một tư duy mơ hồ, cạn cợt chưa sáng tỏ bởi một nhận thức khiếm nhược là những thứ tích lũy vào trong thể cách của nghệ thuật thẩm mỹ mà đưa tới cái đẹp không thực và tự nhiên. Thể thức đầu tiên của nghệ thuật, đúng ra chỉ là bước đầu tìm kiếm sau cái thông tục giả hiệu (plasticity) hơn là khả năng giới thiệu đến sự thật. Đây là thể thức chúng ta gọi chung là ‘Biểu tượng nghệ thuật / Symbolic Art’ kỳ thực đó là thể cách tượng trưng của nghệ thuật, nhưng; vẫn còn bận tâm trong một nỗ lực và đấu tranh không ngừng để đạt tới những gì biểu dương trong đó, thứ biểu trưng trong một định ngữ của thể thức trừu tượng cho một ý tưởng được sắp xếp hình ảnh sắc dục tự nhiên, nhưng; hình ảnh sắc dục tự nhiên nó nằm trong biểu tượng nghệ thuật là một thông điệp trọn vẹn không thể cho đó là cái này, cái nọ, cái kia mà là biểu tượng cho chủ thể tạo ra hình tượng trong nghệ thuật, dẫu cho đó là thứ ảo ảnh đi nữa. Trong biểu tượng nghệ thuật là minh định một sản phẩm trừu tượng (abstract quality).Thí dụ: sư tử tượng trưng hùng mạnh, cương quyết. Venus tượng trưng dục xác hấp dẫn và thẩm mỹ qua đường nét thiên nhiên. Một ám thị tư tưởng về biểu tượng; hình ảnh trừu tượng mang lại một ý thức khách thể của tư duy thuộc về tinh thần đến hiện tượng dung thông giữa người và vật; không một thể hiện nào hơn mà đó là bày tỏ bản chất của nó, tìm kiếm ở chính nó trong cái sự băng khoăng và mất thăng bằng, mà không tìm thấy ở chính nó về mặt tâm lý không thích nghi. Lạ thay; hai yếu tố nêu trên mỗi thứ tạo một tương quan của tư duy thuộc về tinh thần đó là hiện thực chủ thể của một sự chối từ bởi không tương xứng. Giá trị tinh tinh thần như thể là một tổng thể chứa đựng bên trong và coi như thực chất vũ trụ của mọi thứ, có nghĩa là không tỏ ra một sự hài lòng với những gì của cái vỏ bề ngoài và trong biểu tượng nghệ thuật như ngầm nói lên một sự cực kỳ tuyệt diệu / sublimity.
Vậy thì; nghĩa lý không bao giờ đạt được ý mà hoàn toàn rục vữa trong một bày tỏ và dù cho có chi đi nữa tất cả là một sự hụt hơi không âm vọng; lạ kỳ giữa tư duy thuộc về tinh thần và thể thức sắc dục không thể nào vượt qua hay khắc phục được. Trước sau thể thức của nghệ thuật; biểu tượng nghệ thuật với những gì truy tầm triết học không bao giờ dứt điểm, trong một cố gắng đấu tranh của nó, trong một cái gì giống huyền thoại cổ xưa (sphinxlike) và một cái gì thuộc siêu đẳng của nó. Tựu chung thể thức thuộc triết học của nghệ thuật là hình ảnh của biến thể dẫu có lý giải cạn cùng đi nữa, bởi; nghệ thuật là một thứ lý lẽ bao la vi diệu. Đó là chân lý triết học muốn đề cập tới bằng một cảm thức nhận biết.

                                                                              NGHỆ THUẬT THUỘC CỔ ĐIỂN
Trong thể thức thứ hai của nghệ thuật; chúng ta muốn chỉ định ở đó một thể thức cổ điển. Gọi chung là nghệ thuật thuộc cổ điển –Classical Art; trong đó chúng ta tìm thấy tự do và một biểu hiện đúng đắng của ý tưởng thuộc về tinh thần trong cùng thể thức thích hợp với ý nghĩa và một bày tỏ đồng tình hoàn hảo, tuy nhiên; trên bước đường đi vào thế giới cổ điển của nghệ thuật, trước hết phải đủ khả năng để tạo dựng và suy tư cho một ý tưởng toàn diện, thực hiện nó như một dữ kiện trung thực giữa thế giới nghệ thuật. Đặc trưng của ngệ thuật thuộc cổ điển là chứa ở đó một chủ đề tự nó như một ý nghĩa củng cố, đúng vậy; đó là ý tưởng nồng cốt để xây dựng lý tưởng cho những gì thuộc cổ điển vốn đã tàn tích một thời xa xưa, một thứ nghệ thuật mờ ảo chưa khai phá và làm sáng tỏ cho những tác phẩm đã dựng nên trong ý nghĩa khác mà triết gia Hegel đã hàm ý trong một chuyển dịch của con người qua câu nói:‘di trú linh hồn /the migration of soul’ mà ở đây là  khái niệm về trừu tượng và khoa tâm lý, có thể người ta dựa vào đó để làm nền tảng chính; đó là cái cần có cho cuộc đời đang trên đà phát triển là định hình bước thăng tiến của con người khởi từ đấy; những gì để lại được ghi nhận vào đó và chỉ đến trong một tâm thức của hiện tượng sắc dục có từ trí tuệ của con người để thành hình tác phẩm.
Thân thể con người như một hình tượng sinh động bởi những gì ở nghệ thuật thuộc cổ điển, nghĩa là không giới thiệu cái sự hiếm có thuộc sinh lý hiện thể nhưng đơn độc như một thể chất tự nhiên và thể thức sắc dục là trang phục dành cho cho trí tuệ. Nhưng thể thức là phải đúng; như vậy có nghĩa là lột tẩy để còn lại ở đó một bày tỏ đúng đắng, thích hợp và xứng đáng hơn nữa. Những gì được phơi bày đều diễn tả qua thân hình của người đàn ông như thể cách đặc biệt của trí tuệ, một đặc chất nằm trong trí tuệ con người, cũng không phải cho đó là chuyện đơn thuần tuyệt đối và vô tận, nhưng; tuyệt đối và vô tận của tinh thần phải là điều phát hiện từ chỗ bộc bạch ở chính nó trong lối hành xử hướng tới những gì thuộc tinh thần.Trọng tâm của nghệ thuật hướng tới tinh thần độc lập và sáng tạo để làm nên.
Cuối cùng mục đích này mang lại thứ ánh sáng soi rọi vào những gì khiếm khuyết của nghệ thuật thuộc cổ điển mà những thứ đó đòi hỏi chuyển hướng một thể cách cao hơn trong cách khác của nghệ thuật.

                                                                               NGHỆ THUẬT LÃNG MẠN
Lãng mạn là từ ngữ nghe quen thuộc trong văn, thơ, họa và những bộ môn khác nhau đều tích lũy ở đó một tư duy ‘sắc dục’ để thành hình trong và ngoài văn bản nói đến. Thế nhưng; thể cách lãng mạn của nghệ thuật giống như mọi thể cách khác, nó cần một mô thức bề ngoài của sự diễn cảm thêm dạt dào –the romantic type of art like every other; needs an external mode of expression. Vì vậy; nó có những dị biệt khác nhau, có một cái gì kỳ lạ không thích hợp với thời đại đang sống (incongruity) và một cái gì phá cách hay tương phản nhau (antagonism) của tư duy thuộc tinh thần và thể thức sắc dục. Đó là đặc chất biểu tượng của nghệ thuật, tái xuất một lần nữa trong thể cách lãng mạn, nhưng; với những gì mang tính chất khác lạ hơn như thử nói lên một thứ triết lý riêng biệt từ ngữ ngôn đến phong cách của ngôn từ nó phản vào đó một chất đặc thù chưa ai có để làm cho tư duy sống dậy trong cái thế giới riêng mình.
Trong điạ hạt lãng mạn, tư duy thuộc về tinh thần, điều mà người ta cho chưa đạt tới đúng như thể thức tật xấu lồng trong đó của nghệ thuật tượng trưng, giờ đây biểu lộ ở chính nó một sự tuyệt hảo của nó trong cảm thức của trí tuệ với một thể thức bề ngoài từ chỗ đó tìm thấy bên trong của nó và đạt tới một sự thật hiện thực và một bày tỏ trạng huống bên trong tự nó. Tuy nhiên; trong thể thức lãng mạn không thể xa cách thể thức bung phá một tổng hợp của tư duy thuộc tinh thần và thể thức sắc dục ở chính nó mà nó ở một dạng thức cao đó là ý thức nhận biết / knowledge của những gì ở đây là một tập hợp vô thức, những thứ đó nền móng cơ bản thể thức cổ điển nghệ thuật mà những thứ đó hoàn trả của những gì gọi là hoàn toàn biểu hiện giả tạo (complete plastic embodiment). Đó là độ cao của những gì xẩy ra trong vô thức và ngụ ý trong tự thức nhận biết (into self-conscous knowledge) những thứ đó mang lại một tầm cở rộng lớn và khác biệt. Thí dụ: con người là con vật nhưng con vật có vị trí, chức năng để thực hiện thời chỗ đó tách con người ra khỏi con vật. Do đó; con người là một suy tư siêu lý của siêu hình, bởi; tạng thức thuộc nghệ thuật lãng mạn đã ảo hóa từ tiềm thức để lãng mạn sống dậy trong thể thức lãng mạn (romantic form). Một đặc tính hóa tự chính nó ở trí tuệ hoặc tinh thần của lãng mạn hóa. Một tổng hợp bừng dậy từ một bất ngờ trực tiếp để lại trong một liên kết ý thức. Thực chất của nghệ thuật lãng mạn là bao hàm trong lãnh vực thẩm mỹ là chủ đề nói lên tự do một bộc lộ trong tinh thần đến từ bên trong và bên ngoài dưới cái nhìn chủ quan. Thế giới bên trong / inner là chủ thể cho sự thỏa lòng của nghệ thuật lãng mạn và thực tế bên trong cuộc đời hoặc như một phản ảnh tự nó cho một mưu cầu tìm kiếm biểu tượng. Bên trong cuộc đời quả là thành tựu huy hoàng trội hẳn cả thế giới bên ngoài –The inner life thus triumphs over the outer world. Nó bộc bạch ở đây như một chiến thắng, là những gì thuộc cảm thức tinh thần và cảm xúc sắc dục, hiện hữu ở chỗ tìm kiếm một sự vô bổ nhưng đáng trân qúy.

                                                                                         TÓM LẠI
Triết học của Nghệ thuật là một bình giải siêu lý về đặc chất của nghệ thuật, tìm thấy từ trong ra ngoài qua mỗi thời đại mà con người đã và đang dự cuộc; nó phản ảnh toàn diện mặt trái và mặt thực của tác phẩm; nó qui tụ trong một tư duy chờ đợi để phát tiết dưới mọi hình thức của văn bản; chủ quan mà nói rằng: không một ai chối bỏ một hiện hữu dung thông qua những thể thức khác nhau; trong đó thể thức sắc dục / sensuous form luôn tiềm ẩn như một kết tụ của tự nhiên / the nature of concretness là cái vốn có trong con người. Không thể cho người đàn bà và đàn ông là một kết tụ tự nhiên, mà cả hai ý thức những gì thuộc thể thức sắc dục để cấu thành. Thành thử dữ kiện nghe ra mơ hồ và trừu tượng, tất cả chỉ là biểu tượng dưới mọi hình thức kể cả nghệ thuật lãng mạn là phản ảnh cụ thể thế giới bên trong, một bộc bạch thoát tục có nghĩa là chối bỏ hiện tượng để đi vào thế giới hiện thực. Thí dụ: hạt mưa rơi xuống lòng bàn tay thiếu nữ là ấn tượng của cảm thức nhận biết giữa đối tượng nhân vật và tác giả, bởi; nó chứa ở đó một thể thức sắc dục, một hiện thể sự thật chớ không nhìn vào đó là hình thể trừu tượng hay siêu hình. Trong giọt mưa là một gợi nhớ thuộc khiá cạnh vật lý và tâm lý, hòa nhập để trở nên sống động cho một tư duy triết lý đã ‘hóa chất’ và thành hình qua ngữ ngôn diễn tả. Vị chi những thứ đó là một qui nạp hữu cơ, là tạng thể của nghệ thuật riêng tư từng phần; nghệ thuật bên ngoài của phép cấu tạo, nghệ thuật khách thể (objective art): -của điêu khắc, tạo hình vả chủ thể nghệ thuật (subjective art): -của họa, nhạc và thi ca. Ở đây chúng ta có thể tìm thấy chất liệu của nó qua từng thể cách của nghệ thuật: biểu tượng, cổ điển và lãng mạn đều diễn tả về ý tưởng cái đẹp ở chính nó. Trong những kiểu cách hay thể thức được coi như bản chất riêng tư và tương xứng cho mô thức diễn cảm, bởi; những gì của tất cả thể loại là nhân tố đặc thù của nó, là hình ảnh thẩm mỹ những hình ảnh đó là phát sinh ra mọi thứ cho nghệ thuật. Vậy nên chi những gì nhận thức nghệ thuật đặc biệt đều nằm trong cái khéo léo tạo nên trong tác phẩm và tùy vào ý niệm có tính chất triết (philosophic); đấy là tư duy bừng dậy của vũ trụ bao la, rộng mở, một nghệ thuật thánh hóa, gọi chung là ‘Miếu đền của Nghệ thuật / Pantheon of Art’. Tất cả văn nghệ sĩ có cái tự-triển-khai (self-developing) cho một tinh thần của vẻ đẹp. Tuy nhiên; lịch sử thế giới luôn đòi hỏi sự bành trướng của nó, nghĩa là đổi mới tư duy để vượt thoát ra những thể thức cổ điển (classical) hay trung hòa hiện đại hơn (modernistic) cho vô số thế hệ nối tiếp về sau như chứng thực ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc 2/2018)

ĐỌC THÊM:
- ‘Đích Thực Cho Một Tác Phẩm’ (2018).
- ‘Ngôn ngữ Của Hội họa’(2015).
- ‘Cơ bản Chính yếu của Văn chương’ (2015).
- ‘Trạng huống Tâm lý của Văn nghệ sĩ’ (2015).
- ‘Tình yêu của Triết học’ (2016).
- ‘Hiện tượng Dung thông’ (2017).
- ‘Bản tính Tự nhiên về Triết học Phân tích’ (2017).
Những bài đọc trên của võcôngliêm hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/c đã ghi.
TRANH VẼ:’Gia Đen và Xám / Between Black and Grey’ Khổ 12” X 16” Trên giấy bià. Acrylics. Vcl # 3112018.

                                                                  GIỮA ĐEN Và XÁM / BETWEEN BLACK And GREY



    


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét