Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes -
Kinh Lạy Cha (phần 5B)
Nguyễn Cung Thông1
Phần này bàn về tiếng Việt dùng trong Kinh Lạy Cha (KLC) qua các văn bản từ thời bình
minh của chữ quốc ngữ. Tiếp theo bài viết 5A, bài 5B sẽ ghi nhận thêm các dữ kiện nhìn
KLC từ các lăng kính khác nhau, hi vọng người đọc sẽ thấy thích thú và tìm hiểu sâu xa hơn.
Chúng ta đang ở đây (ở trên trái đất, trong hệ mặt trời hay chỉ là một
chấm nhỏ ở đầu mũi tên này). Hình trên cho thấy hệ mặt trời nằm trong
dãi Ngân Hà có trung tâm là vùng sáng ở giữa (chùm sao Saggitarius).
Kiến thức khoa học con người về trái đất và vũ trụ đã thay đổi nhiều so với trước đây:
không
còn chỉ có ba lớp đơn giản là trời (vũ trụ), đất và lòng trái đất (khối nóng cũng là địa ngục)
mà trái đất thuộc vào hệ mặt trời (thái dương hệ) và hệ mặt trời lại thuộc vào dải Ngân Hà
(Thiên Hà). Hệ mặt trời chỉ là một chấm nhỏ trong dãi ngân hà - xem hình bên trên. Khi soạn
bài này thì NASA (Cơ quan Hàng không và Không gian Hoa Kỳ) vừa thông báo về dự án
thăm dò lòng đất của Sao Hoả (Mars), cũng như sự xuất hiện các dự án chở người lên Sao
Hoả (td. nhà thám hiểm Elon Musk dự định đưa người lên vào năm 2025). Do đó, khi có
người nào qua đời trên mặt trăng hay Sao Hoả thì có thể sa địa ngục hay xuống lòng trái đất
cực nóng (lửa luyện ngục) hay không? Có sinh vật nào khác hiện hữu trong vũ trụ mênh
mông này không? … Các khái niệm về nguồn gốc loài người, ‘thiên đàng’ và ‘địa ngục’ vì
vậy cần phải được xem lại. Các điều thú vị này không phải là trọng tâm của bài viết 5A và 5B
so với cách dùng như quốc/nước và ngữ pháp vào thời VBL. Các tương quan ngữ âm ghi
nhận trong bài viết không nhất thiết khẳng định nguồn gốc (Việt, Khme hay Hán cổ …) của
các từ này. Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là ba tác phẩm của LM de Rhodes soạn:
1 Nghiên cứu tiếng Việt độc lập ở Melbourne (Úc) - địa chỉ nguyencungthong@yahoo.com
2
cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay
Đông Kinh (viết tắt là BBC) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La,
viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn
http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=
false . Các chữ viết tắt khác là NCT (Nguyễn Cung Thông), TVGT (Thuyết Văn Giải
Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn
Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập
Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự
Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT
(Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang
Hi/1716), P (tiếng Pháp), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh), PG (Phật Giáo), CG (Công Giáo),
ĐCT (Đức Chúa Trời), ĐCGS (Đức Chúa Giê Su), TCTGKM (Thiên Chúa Thánh Giáo Khải
Mông), KNLMPS (Kinh Những Lễ Mùa Phục Sinh), LM (Linh Mục), VN (Việt Nam), TQ
(Trung Quốc), HV (Hán Việt), Bắc Kinh (BK), ĐCT (Đức Chúa Trời), ĐCGS (Đức Chúa
Giê Su). Trang/cột/tờ của VBL được trích lại từ bản La Tinh để người đọc tiện tra cứu thêm.
1. Ảnh hưởng của tiếng Bồ-Đào-Nha
Như đã ghi trong bài 5A, các kí âm trong Bồ Hán Từ Điển 葡漢辭典 (1579) của các LM
Michele Ruggieri/Matteo Ricci như động 動 kí âm là tum (so với dòng BK theo pinyin hiện
nay) hay dụng (dùng) 用 kí âm là dum ...v.v... Do đó, ta có thể giải thích được các tương
quan của chữ quốc ngữ thời kỳ đầu trong bản KLC 1632: bum ~ vâng (liên hệ b-v vào thời
VBL khá rõ nét trong tiếng Việt - xem thêm chữ bẽi ~ vậy), sam ~ sáng, bum ~ vâng (liên hệ
b-v), bàm ~ bằng (dùng hai lần), cium ~ chưng (dùng bốn lần), tlom ~ trông, hàm ~
hằng/hàng, dum ~ dùng, daim ~ danh. Ngoài ra -m còn hiện diện trong câu Nhit la
khaum, khauum la nhit (lời của một vị sư ở Phú Yên khi lãnh bí tích vào đạo Ki Tô) do
LM Gaspar Luis viết tại cơ sở Nước Mặn ngày 1/1/1626. Khaum là kí âm của không, cũng
như lim là kí âm của lĩnh trong cách viết ondelimbay (ông đề lĩnh Bảy) - giai đoạn ban đầu
thường thấy các kí âm không có thanh điệu và chữ viết dính liền nhau (phản ánh ngôn ngữ
Tây phương).. Vào năm 1631, LM dòng Tên Christoforo Borri cũng từng viết
2
tiujciam
biet (tui chẳng biết), om gne (ông nghè), Tunquim (Đông Kinh, cũng có khi ông ghi là
Tonchin), Quamguya (Quảng Nghĩa), Omsaij (ông sãi, cũng có khi ghi là onsaij/onsai),
Kim (kinh, kinh sách) và Con gnoo muon bau tlom laom Hoalaom chiam (con
nhỏ muốn vào trong lòng Hoa Lang chăng? Con nhỏ muốn vào đạo Ki Tô không?), cho thấy
phụ âm cuối -m dùng thay cho -ng. Điều này cho thấy các giáo sĩ người Ý trước thời LM
Alexandre de Rhodes vẫn dùng kí âm bằng tiếng Bồ-Đào-Nha cho tiếng Việt. Tới thời LM de
Rhodes, ông cũng có lúc ghi dum (đồng) trong cuốn "Tunchinesis Historiae Libri duo"
(1636). Ngay trong các định nghĩa, VBL (1651) thường ghi thêm cách gọi Bồ-Đào-Nha như
nếp "mà người Bồ-Đào-Nha gọi là pulo", tlôi (> soài) "người Bồ-Đào-Nha gọi là mangas"
... Có khi VBL chỉ nói trống (hàm ý dùng tiếng Bồ-Đào-Nha) như cốm "người ta gọi là
2 Bài tường trình của LM Borri nhan đề "Relatione della nuova missione delli pp. della Compagnia di Giesù, al
regno della Cocincina" (1631) - có thể xem toàn bài trang này chẳng hạn
https://www.liberliber.it/mediateca/libri/b/borri/relatione_della_nuova_missione/pdf/borri_relatione_della_nuov
a_missione.pdf
3
auela", mẩn
3
"... người ta gọi là suxi"…v.v… Ảnh hưởng của tiếng Bồ-Đào-Nha vào thế kỷ
XVI và XVII trong các tài liệu ngôn ngữ/truyền đạo ở Á Đông khá dễ hiểu vì từ giáo chỉ
(thánh lệnh/bulls) Romanus Pontifex do Đức Giáo Hoàng Nicholas V soạn và gởi cho vua
Bồ-Đào-Nha Afonso V vào năm 1494. Mục đích chính của giáo chỉ này, cũng như một loạt
các giáo chỉ liên hệ, là ngăn cản các nước khác theo CG không nên đụng chạm đến ‘quyền lợi
buôn bán’ và thuộc địa của Bồ-Đào-Nha ở Phi Châu và Á Châu, hay gián tiếp ảnh hưởng tiêu
cực đến hoạt động truyền đạo CG ở những xứ mới ‘bang giao’ này. Vào thế kỷ XVI, uy thế
của đế quốc Tây-Ban-Nha vẫn còn mạnh, nên ở Á Châu thì nước Bồ-Đào-Nha chỉ có quyền
bảo trợ các nước như Nhật, Trung Hoa, Việt Nam, Xiêm ... Hiệp ước này còn gọi là Padroado
từ đầu thế kỷ XVI khi Bồ-Đào-Nha trở thành một đế quốc hàng hải - tiếng Bồ-Đào-Nha
Padroado nghĩa là đỡ đầu/bảo trợ so với hiệp ước Patroado - tiếng Tây-Ban-Nha nghĩa là đỡ
đầu/bảo trợ ~ patronage/A, như Phi-Luật-Tân, Mễ Tây Cơ, Mỹ Châu lại thuộc quyền bảo trợ
của Tây-Ban-Nha. Các hoạt động truyền giáo được quản lí từ thành phố Goa (Tây Nam Ấn
Độ, một thuộc địa Bồ-Đào-Nha từ 1510 đến 1961). Thành ra tiếng Bồ-Đào-Nha cũng trở
thành một loại ngôn ngữ lingua franca (tiếng nói phổ thông/chung hay ngôn ngữ giao tiếp/cầu
nối) của các giáo sĩ Tây phương khi sang Á Châu truyền đạo (cũng như trên thương thuyền
người Bồ-Đào-Nha), dù tiếng Bồ-Đào-Nha không phải là tiếng mẹ đẻ. Ngoài cách ghi -m
cho dạng -ng cho chữ quốc ngữ hiện đại, ảnh hưởng của tiếng Bồ-Đào-Nha4 còn khá rõ nét
qua cách đọc ch-trong cha, che ...; nh- trong nhà, nho ... Hay các cách viết cũ, caõ, oũ đều
có dấu ấn của tiếng Bồ-Đào-Nha ...v.v...
2. Tỉ số hình vị và từ/chữ
Các ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập
5
(như tiếng Việt) thường có tỉ số hình vị và từ
(morpheme-word ratio) rất gần 1 so với các loại ngôn ngữ chắp dính hay hòa kết. Thí dụ như
tiếng Việt mỗi chữ (từ) đều có nghĩa và không thể tách chữ này ra thành những thành phần có
nghĩa khác nhau như tiếng Anh. Tiếng Anh unhappiness là một từ có nghĩa là sự không vui
(dùng ít nhất là 3 từ độc lập tiếng Việt), unhappiness lại gồm có tiền tố un- nghĩa là không,
happy là vui và -ness là hậu tố thành lập danh từ. Do đó tỉ số hình vị-từ là 3/1 = 3 so với cấu
trúc tiếng Việt sự không vui có tỉ số 3/3 = 1. Tiếng La Tinh, Thổ Nhĩ Kỳ có tỉ số hình vị và từ
là khoảng 3.0, so với tiếng Anh 1.68, tiếng Việt 1.0 … Tiếng Kalaallisut (ở Greenland, Đan
Mạch) có tỉ số hình vị và từ khoảng 7.1, hay là một loại ngôn ngữ đa hoà kết (polysynthetic
3 Có lẽ đây là lần đầu tiên người Việt biết đến loại thức ăn sushi của người Nhật, so với phong trào ăn/nhà hàng
sushi rầm rộ ở VN trong thập niên 2010. Để ý phiên âm fuxi là sushi theo tiếng Việt hiện đại (f tiếng La Tinh
ứng với s)! Tiếc rằng bản dịch VBL của Thanh Lãng/Hoàng Xuân Việt/Đỗ Quang Chính (1991) vẫn dùng dạng
fuxi trong phần chữ quốc ngữ (trang 145).
4 Không những chỉ có tiếng Bồ-Đào-Nha trong thời ban đầu, các tiếng Hi Lạp, La Tinh, Ý (cũng liên hệ đến
tiếng La Tinh) đều được dùng để kí âm tiếng Việt vào thời VBL. Đây cũng là ghi nhận của LM de Rhodes trong
BBC sau khi so sánh với các ngôn ngữ ở Á Đông, thí dụ như âm l: "... L thông dụng rất nhiều ở đầu tiếng, thí dụ
lá (folium/L), chữ này người Nhật Bản thiếu hoàn toàn, cũng như người Trung Hoa thiếu r".
5 Thí dụ ngôn ngữ đơn lập (isolating/analytic language) là tiếng Việt hiện đại, tiếng Hán, tiếng Thái ...v.v... Các
ngôn ngữ này hầu như không dùng phụ tố (affix) như tiền tố (prefix, tiếp đầu ngữ), trung tố (infix) hay hậu tố
(suffix, tiếp vĩ ngữ). Bạn đọc có thể tham khảo các bài viết liên hệ như http://ling.unikonstanz.de/pages/home/plank/for_download/Morphology-I-WS13-14/9_Morpho_Typo.pdf
...v.v...
4
language). Trở lại với KLC, bản chữ quốc ngữ năm 1632 có tỉ số chữ
6
(Việt và La Tinh) là
70/49 ~ 1.43 so với bản chữ Nôm năm 1855 có tỉ số chữ là 49/49 = 1.0, và so với bản tiếng
Việt năm 2017 là 71/49 = 1.45. Không phải là loại hình tiếng Việt đã thay đổi từ năm 1632
đến 1855 hay 2017, nhưng có nguyên nhân đặc biệt (xem chi tiết bên dưới). Tiếng Việt thuộc
loại hình đơn lập nên không có phạm trù ngữ pháp rõ ràng như giống, cách, ngôi, thì, thức và
dạng - thành ra có một số tác giả cho rằng tiếng Việt không có ngữ pháp (td. LM Francisco
de Pina7
). Tuy nhiên, một số phạm trù như dạng bị động vẫn có thể hiện hữu như xem phần
sau, cách giải thích cần phải theo cú pháp và ngữ cảnh của tiếng Việt.
3. Cách dùng quốc và nước
Tương quan giữa âm HV và Việt đã nêu ra ở bài 5A là danh và tên, quốc và nước: cách dùng
HV thường hàm nghĩa trang trọng hơn vào thời VBL. Một trường hợp tương tự là sinh thì so
với giờ lên - tương phản với giờ chết là cách nói nôm na hơn - VBL còn ghi hai cách dùng
tương đương muôn tuổi và vạn tuế (trang 845, 857). Quốc 國 là chữ rất phổ thông với tần số
dùng (frequency of use/ tần suất) là 450456 trên 175865108 so với vực 域 (tần số dùng là 57287 trên
434717750). Chữ quốc giản thể là 国 - giọng BK là guó so với giọng Quảng Đông gwok3 gok3, Hẹ
kwet7 kok7 kiet7 ket7, Mân Nam (Đài Loan) kok1, Nhật koku, Hàn kwuk. Dựa vào các giọng địa
phương và phiên thiết, một dạng âm cổ phục nguyên của guó BK là *kwôk rất giống như cách đọc
quốc HV. Các dạng viết chữ quốc (dị thể) phản ánh quá trình hình thành chữ quốc với biên giới (giới
hạn biên cương, bộ vi 囗) và thành quách, có vua (chữ vương王 - truyền thống quân chủ), có dân 民
3.1 Giáp cốt văn
Theo dòng thời gian, chữ quốc 國 tượng hình: thành thị (hay nhà cửa/chỗ đông dân, biểu tượng là một
khung nhỏ có bốn cạnh) và có binh lính bảo vệ ở ngoài thành (biểu tượng là giáo/mác ở ngoài).
3.2 Kim văn - tượng hình cây qua 戈 (cái mác) bảo vệ thành quách cũng như giáp cốt văn trước
đó, trích trang
http://www.chineseetymology.org/CharacterEtymology.aspx?submitButton1=Etymology&characterI
nput=%E5%9C%8B
6 Tỉ số hình vị và từ (M/W, M = morpheme, W = Word/chữ ~ từ) còn gọi là tỉsố tổng hợp (Index of synthesis, J.
H. Greenberg 1960). Có các loại tỉ số khác phản ánh cách phân tích định lượng (quantitative approach) như tỉ số
ghép (Compounding ratio, R/W - R Root/ngữ căn, W = Word/chữ), tỉsố tiền tố và từ (Prefixial index, P/W - P =
Prefix/tiền tố), tỉ số hậu tố và từ (Suffixial index, S/W - S = Suffix/hậu tố) ...v.v... Tham khảo bài viết liên hệ
của GS Greenberg trong cuốn "On Language: Selected Writings of Joseph H. Greenberg" Chủ biên Keith
Denning và Suzanne Kemmer, NXB Stanford University Press 1990.
7 LM Francisco de Pina (1585-1625) là thầy dạy tiếng Việt đầu tiên cho LM de Rhodes, cũng như lời tựa của
VBL cũng nhắc đến công trình của LM người Bồ-Đào-Nha này. LM de Rhodes còn thuật lại chi tiết hơn" (LM
Francisco de Pina) người thứ nhất trong chúng tôi am tường tiếng Việt, và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng
thuyết bằng ngôn ngữ đó mà không dùng thông ngôn".
5
<>
B09412 B09413 B09414 B0941
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét