
Tháng năm 1965, tôi cùng anh Lê Minh Phượng và anh Nguyễn Đình Quyết phải nhập ngũ. Căn phòng nhỏ bé đó chỉ còn lại một mình vợ tôi đang mang thai đứa con đầu lòng.
Chúng tôi được đưa lên Hải Dương, tập trung trong doanh trại của trường Quân chính quân khu Ba để huấn luyện tân binh.Tôi thực sự không hiểu sao khu đội lại gọi tôi nhập ngũ vì khi đi khám sức khoẻ họ đã ghi tôi bị cận thị, phải đeo kính cận số 3,5 và tôi khai đã đeo từ năm 15 tuổi, bắt đầu học trung học. Vì vậy, khi một sĩ quan trung tá ở quân khu Ba về kiểm tra tân binh, thấy có một lính mới đeo kính đứng trong hàng ngũ, ông ta đã gọi tôi lên và nghiêm khắc hỏi:
- Ai cho phép đồng chí đeo kính trắng khi đứng trong hàng ngũ?
Tôi đáp vì tôi bị cận thị phải đeo kính từ hồi còn đi học nhưng ông ta không tin cho gọi viên chuẩn uý phụ trách huấn luyện lên hỏi. Anh này nói trong lý lịch sức khoẻ tân binh của tôi đã xác nhận đúng như thế chứ không phải tôi vô kỷ luật. Vì vậy, xong ba tháng huấn luyện tân binh, anh Phượng và anh Quyết cùng đồng đội tiếp tục lên Hoà Bình để đi B còn tôi thì được gọi lên ban chỉ huy đóng ở bến đò Hàn thuộc xã An Châu, huyện Nam Sách bên kia sông Thái Bình. Vẫn viên trung tá về kiểm tra huấn luyện tân binh hôm nọ nói với tôi:
- Đơn vị mới của chúng ta đang chuẩn bị vào B chiến đấu nhưng xét thấy sức khoẻ của đồng chí phải đeo kính cận, không đảm bảo công việc ở chiến trường. Vì vậy lãnh đạo quyết định cho đồng chí thoái ngũ.
Tôi nói:
- Tôi đã nhập ngũ, đã là người lính rồi, không trực tiếp chiến đấu ngoài mặt trận được thì các đồng chí cho tôi làm việc gì trong quân đội tôi cũng chấp hành.
Viên trung tá nói:
- Giờ đang thời chiến, cần nhất người cầm súng ra trận thôi. Mà bên giáo dục cũng có công văn yêu cầu trả về một số giáo viên cho họ vì đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, các trường học chỉ sơ tán về nông thôn chứ không có đóng cửa. Đồng chí cứ chấp hành quyết định tôi vừa nói. Ngay sáng mai, khi tiễn đưa đơn vị chuyển lên Hoà Bình xong thì đồng chí sang đây lấy giấy tờ thoái ngũ.
Tối hôm đó tôi và một số anh em không phải chuyển quân cùng với anh chị nuôi thức suốt đêm kẹp thịt lợn rán vào bánh mì làm lương ăn cho anh em sáng hôm sau lên đường. Tôi gặp riêng anh Lê Minh Phượng và anh Nguyễn Đình Quyết cùng mấy anh em khác mới kết thân với nhau từ hôm nhập ngũ ở Hải Phòng, chuyện trò đôi lời và chúc họ lên đường bình an may mắn. Khi họ lên đường ra ga Hải Dương thì tôi sang bên kia sông lấy giấy tờ rồi chờ tối cũng ra ga đợi tàu về lại Hải Phòng.
Dạo ấy, miền Bắc đã vào thời chiến tranh phá hoại bởi Mỹ đã ném bom ở cửa sông Gianh, Vinh, Bến Thuỷ từ ngày 5/8/1964 rồi lại ném bom ở thị xã Đồng Hới, đảo Cồn Cỏ ngày 7/2/1965 nên xe lửa đi đêm rất chậm. Từ Hải Dương về Hải Phòng có hơn 40km mà mất tới 5 tiếng đồng hồ nên khoảng 1 giờ đêm tôi mới về đến trường cấp hai Đinh Tiên Hoàng. Tôi thấy phòng trực bên gốc cây sung già ở cổng trường đóng cửa tối om và không khói bên trong khu trường im ắng lạ thường nên đoán mọi người đang ngủ say. Không dám gọi ai, tôi đành phải trèo qua hàng rào sắt làm từ thời Pháp vào bên trong rồi đi qua sân trường vòng vào lối hành lang ngoài trời phía sau để về căn phòng 8m2 của mình. Trong phòng, vợ tôi cũng đã ngủ. Tôi khẽ gõ cửa và thấy cô ấy tỉnh giấc rồi cất giọng sợ hãi hỏi:
- Ai đấy?
- Anh đây! – Tôi khẽ đáp.
- Có thật không?
- Thật mà.
- Sao anh lại về giữa đêm hôm thế này?
- Anh được thoái ngũ về hẳn rồi.
- Em không tin, hay là anh trốn đơn vị?
- Thì em cứ bật đèn lên cho anh vào đã rồi nói chuyện sau.
Vợ tôi bật đèn mở cửa rồi chúng tôi ôm chặt lấy nhau mừng mừng tủi tủi. Vậy là tôi đã trở về với người vợ yêu dấu và căn phòng nhỏ bé 8m2 của mình.
Sau 1975, anh Nguyễn Đình Quyết trở về với cái lon trung uý cho tôi biết đơn vị cũ của tôi sau khi lên Hoà Bình thì sang Lào rồi vào chiến trường B. Trong trận đánh đầu tiên ở Ngũ Hành Sơn tất cả đều chết hết. Anh Quyết còn sống vì được trung đoàn bộ đưa về kho thống kê vũ khí Trung Quốc viện trợ do anh là giáo viên dạy Trung văn.
Trong 4 tháng ở trại, tôi chỉ đã nhiều lần phải canh gác cầu Phú Lương trên Quốc lộ 5, thế thôi. Có súng trường trong tay nhưng chưa được bắn phát nào. Hồi chưa bị nhập ngũ, lúc chưa có vợ, tôi ắn cơm ở nhà ăn tập thể, rất khảnh ăn nhiều bữa nhường lại cơm cho bạn cùng bàn vì cơm tập thể là cơm độn ngô xay và thức ăn chỉ có vài miếng thịt mỏng và bát canh rau tập thể:
Bát canh tập thể nước trong veo
Vài miếng su hào bé tẻo teo
Váng mỡ theo làn hơi gợn tí
Cọng hành trước gió khẽ đưa vèo
Khi đã có vợ bữa ăn có khá hơn nhưng vẫn bị vợ phàn nàn là kén ăn quá. Vậy mà vào lính, sáng chiều bị huấn luyện tân binh, lăn lê bò toài, gặp vũng bùn hoặc bãi cứt trâu cũng phải lăn bò vào, đến bữa ăn, vẫn cơm ngô, bí ngô xào với lòng lợn anh nuôi không rửa sạch vẫn còn thum thủm mùi phân lợn, vậy mà ăn hết veo vì đói thật sự.
Tôi cũng biết tính trào lộng trong thơ bác. Hy vọng còn khoẻ, sẽ có lúc tôi viết về cái trào lộng ấy trong thơ Chu Vương Miện.
Chúc bác vui khoẻ.
THƯ NHÀ VĂN NGUYỄN BÀNG
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét