Tản văn PHONG TỤC TẾT CỦA NGƯỜI DÂN NAM BỘ XƯA
Nguyên Đán là ngày Tết truyền thống thiêng liêng và trọng đại của dân tộc;
vì thế để đón chào một năm mới, người dân khắp nơi đều chuẩn bị
chu đáo. Ở mỗi miền đều có tập quán riêng, tuy nhiên xét về tổng thể thì không
khác nhau mấy. Trong bài nầy chúng tôi chỉ nói về phong tục “ăn Tết” của
người dân Nam Bộ ngày xưa.
Từ đầu tháng chạp, cũng là lúc gặt hái xong, nhà nhà đều nao nức chuẩn bị
đón mừng năm mới, mà tiếng quết bánh phồng rộn rã là âm thanh báo hiệu đầu
tiên; tiếp theo đó là chuối sứ ép phơi khô. Trước kia ở nông thôn bánh mứt
từ tỉnh thành về rất hiếm hoi, vả lại người dân thời ấy cũng rất rảnh
rang sau vụ lúa (mỗi năm chỉ có một mùa lúa 6 tháng) nên dư thì giờ chuẩn bị
đãi khách bằng cây nhà lá vườn; môt mặt là tiết kiêm, một mặt là để các chị
khoe tài gia chánh của mình: Bánh phồng nướng và mứt chuối là hai “đặc sản”
không thể thiếu của mọi nhà thời ấy. Phần các anh thì nhà cửa cũng bắt đầu dọn
dẹp ngăn nắp, sơn phết từ từ; nếu có cây mai trước cửa thì phải lặt sạch
lá, và canh làm sao cho đến mồng một thì hoa phải nở rộ. Đến sáng ngày hăm
ba đến hăm lăm âm lịch thì tất cả phải tươm tất, nhất là bàn thờ tổ tiên phải
coi rôm rả, đẹp mắt với bộ lư đồng được chùi sáng loáng, mâm ngũ quả phải đầy
ắp, lọ hoa tươi rói và không thể thiếu một nhành mai.
Cũng từ hai mươi đến hăm lăm tháng chạp (ít khi trễ hơn), mọi
người đi tảo mộ ông bà. Những gia đình có đất rộng thì ông bà được
nằm ở một nơi nào đó ngay trong mảnh vườn hay
thửa ruộng của mình; còn những người ít đất thì ông bà được nằm ở chòm mả chung
(không gọi là nghĩa địa). Cũng nên nói thêm, trước khi quét mộ, mọi người đều
phải đem nhang đèn, giấy tiền vàng bạc, trà hay chút rượu thịt đặt trước mộ mà
khấn vái để xin phép, vì vô duyên vô cớ mà “động mồ động mả” là điều tối kỵ.
Quét mộ xong, người ta phải dằn trên mộ một ít giấy tiền vàng bạc; đây là dấu
hiệu để báo với tốp người “chạp mả” biết là mộ nầy đã được quét rồi, (Thực tế
mả chưa quét và quét rồi rất dễ dàng phân biệt, nhưng việc làm nầy là do thói
quen). “Chạp mả” theo nghĩa được giải thích của bà con là “quét mả từ thiện vào
tháng chạp”. Trong những ngày nầy, vì nhiều lý do mà có những mấm mộ không được
người nhà chăm sóc (có mả bị bỏ hoang từ năm nầy qua năm khác), thì những thanh
niên trong làng, sẵn cuốc xẻng đó, họ … “chạp mả” luôn! Dù là nghĩa cử từ
thiện, nhưng trước khi “chạp mả”, họ cũng không quên thắp vài nén hương cung
kính khấn vái người quá cố. Đây là một việc làm rất đáng trân trọng và vẫn còn
cho tới ngày nay.
Ngày hăm ba là ngày đưa ông Táo và chư thiên về trời, cũng là ngày đánh dấu
Tết đã cận kề. Lễ vật không thể thiếu để đưa ông Táo là chè, tốt nhất là chè
trôi nước (sau nầy là thèo lèo, bánh in) Theo bà con giải thích thì ông Táo
thích ăn ngọt, hơn nữa là để lúc tâu lên Ngọc Hoàng Thượng Đế, ông luôn nhớ mà
nói tốt cho chủ nhà vì vị ngọt còn thừa lại ở lưỡi môi nhắc nhở; có người còn
cẩn thận trét chút nước đường ở miệng ông Táo trong bộ hình nhân “ cò bay
ngựa chạy” (!). Chè trôi nước cũng không ngoài mục đích mong muốn mọi việc
ông Táo tâu rỗi đều trôi chảy như dòng nước (!). Sau ngày đưa ông Táo, bàn thờ
ông Táo và “ông Thiên” không được thắp nhang, vì không muốn cho quý ngài bận
bịu nhớ về hạ giới trong lúc ở thiên đình!
Chiều hăm chin Tết là mọi việc chuẩn bị phải hoàn tất để sáng hôm sau làm
lễ rước ông bà. Nhìn bàn thờ tổ tiên, người ta có thể đánh giá được thành bại
của gia chủ trong năm qua. Nhưng dù thế nào, trên bàn thờ cũng phải có dĩa
trái cây ngũ quả; hồi trước ngũ quả là cam, quýt, bưởi, dừa, xoài với
ý nghĩa tượng trưng sự sung mãn tròn đầy theo hình dáng chúng. Sau nầy vì kiêng
cử âm gọi , nên bà con bỏ cam (cam phận nghèo), quýt (húyt háy), bưởi (bưởi
bồng) nên có đổi khác hơn; là mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung, tượng trưng
theo tên phát âm Nam Bộ của nó : “cầu vừa đủ xài sung”. Có người thay trái sung
bằng trái thơm: thơm tho; trái bắp: đều đặn và … “chắc ăn như bắp”. Một cặp
“dưa nhứt”, tức dưa hấu loại to nhứt được dán giấy hồng đơn nằm trang trọng hai
bên (bàn thờ) tượng trưng cho sự no đầy và nhành mai ở bình hoa tượng trưng cho
sự may mắn, dường như nhà nào cũng có.
Sáng ba mươi là lễ rước ông bà đồng thời rước ông Táo và chư thiên về ăn
Tết với gia đình. Mọi nơi thờ phụng như Ông Táo, Long thần Thổ Địa, Thần Tài,
Ông Thiên, Phật, thì đơn sơ với bánh tét, hoa quả, nhưng khói hương nghi ngút.
Riêng hai mâm cơm dành cho cửu huyền thất tổ và đất đai thì thịnh soạn hơn tùy
theo khả năng của gia chủ, nhưng không thể thiếu tô cơm, bánh tét tượng trưng
cho sự no đủ, mùa màng đắc lợi; dưa hấu tượng trưng cho sự viên mãn, may mắn;
bánh phồng tượng trưng cho sự phát triển dồi dào (“phồng” ra); và chủ yếu vẫn
là thịt kho tàu, tượng trưng cho sự vuông tròn (vuông của thịt, tròn của
trứng). Mâm cửu huyền được dọn sáu chén, sáu đôi đũa; bàn đất đai thì năm.
Mọi nhà cũng không quên dành một mâm đặt ở ngoài sân để dành cho những kẻ xiêu
mồ lạc mả, vị quốc vong thân, hay những tiền nhân khai sơn phá thạch. Đặc biệt
mâm nầy phải có chén muối, chén gạo; cúng xong thì đem rải bốn phương. Cùng
lúc, giấy hồng đơn (cắt từng miếng vuông nhỏ đều nhau) được dán ở cột nhà, cửa
tủ, cửa ngõ và cây trái quanh vườn để cho mọi việc sang năm đều thuận lợi.
Cuối cùng thì ông bà, cha mẹ dặn dò con cháu những điều cần thiết và
những kiêng kỵ vào những ngày đầu xuân như tiền bạc và quần áo phải lấy sẵn ra
ngoài, vì mồng một mà mở tủ lấy tiền là điều “không nên” (suốt năm
tiền cứ ra mà không vô); con cháu không được gây gỗ (năm mới sẽ gây gỗ hoài);
với ly tách, chén đũa, nhất là gương soi mặt, cầm nắm cũng phải cẩn thận, không
được vuột tay đổ bể (vì chuyện làm ăn sang năm sẽ bị đổ vỡ), trẻ em không được
làm gì phạm lỗi để bị đánh đòn (suốt năm bị đánh đòn liên tục). Dù vậy, nhưng
nếu lỡ có em nào quậy phá, thì bậc trưởng thượng cũng xí xóa bỏ qua cho
những ngày đầu năm được suôn sẻ.
Chiều ba mươi còn có tục “Tết Giếng”: Gia chủ bày một mâm lễ vật gồm bánh
tét, trái cây, trầu cau, hoa quả, nhang đèn ngay bên giếng, van vái tạ ơn … ông
bà Giếng đã cho nguồn sống. Sau đó họ múc nước cho đầy vào tất cả dụng cụ
chứa nước trong nhà đến tràn trề, rồi dán vào thành giếng một mảnh giấy
hồng đơn; điều nầy mang ý nghĩa là “không được mở nắp giếng trước ngày mùng ba
để ông bà Giếng nghỉ ngơi”: Trong ba ngày Tết mà “khai giếng” là điều đại kỵ.
Song song vào đó, ở trong nhà lu gạo, hũ đường, hũ muối, hành tỏi, đều
phải đầy ăm ắp để cho sang năm cái ăn cái ở luôn được no đầy. Tục nầy nhiều nhà
vẫn còn duy trì đến tận giờ.
Cũng trong chiều ngày nầy, cây nêu được dựng lên trước cửa: đó là một cây
tre được tiện hết nhánh chỉ chừa một ít ở trên. Trên đầu cây tre người ta
thường treo một khánh đất, một giỏ trầu cau, một bầu rượu, một bó lá dứa
hay một nhành đa, một lá bùa bát quái để xua đuổi tà ma; những vật vừa nêu
có thể thiếu một vài món, nhưng mảnh vải vàng tượng trưng cho áo cà sa của
Phật thì không thể không có (nhiều nơi treo mảnh vải đỏ e không đúng lắm). Dựng
(thượng) nêu , theo truyền thuyết là để trừ yêu quái trong mấy ngày Tết, đến
mùng năm hay mùng bảy thì hạ nêu. Trong dân gian có câu:“Cu kêu ba tiếng cu
kêu / Mong cho đến Tết dựng nêu ăn chè”. Có người thượng nêu vào chiều
hai mươi ba, viện lẽ ngày đó ông Táo chầu trời, nên ma quỷ thừa cơ lẻn vào nhà;
điều nầy sai với truyền thuyết: Khi yêu quái thua trí Phật, chúng phải
chạy về biển đông, và Phật cho phép chúng chỉ được về thăm tổ tiên vào ba
ngày Tết mà thôi. Trên thực tế, phần đông đồng bào cũng thượng nêu vào chiều ba
mươi.
Tục dựng nêu là nét văn hóa đặc sắc của dân tộc, tiếc thay ngày
nay còn tồn tại rất ít ở các vùng quê
Đến mười hai giờ khuya gọi là “giao thừa”, tức thời điểm từ năm cũ chuyển
sang năm mới. Đây là thời điểm trọng đại; mỗi nhà đều có sẵn một mâm bánh trái,
hoa quả, nhang đèn dọn trước sân để tống cựu nghinh tân gọi là “cúng giao
thừa”.
Mùng một Tết dù có thức dậy sớm để chuẩn bị cơm canh cúng ông bà nhưng không
ai mở cửa trước mặt trời mọc vì sợ ma quỷ lẻn vào nhà. Buổi cúng cơm
sáng đầu năm xong thì cả gia đình quây quần ăn uống vui vẻ. Xong xuôi, trẻ con
mặc đồ mới “mừng tuổi” ông bà, cha mẹ; em nào cũng vẻ mặt hân hoan khi
được trao bao lì xì! Mùng hai, mùng ba ngày ba bữa cũng “dâng cơm” cho tổ tiên
y như ngày mồng một vậy. Chiều mùng hai thì mấy chị gói bánh tét để chuẩn bị
ngày mùng ba “tiễn (đưa) ông bà”.
Sáng mùng ba nhà nhà đều “cúng gà ra mắt”. Hỏi “ra mắt” ai thì hầu hết
bà con đều … cười trừ, nói “ông bà dạy sao thì mình nghe vậy”. Sau nầy có người
giải thích là “ra mắt” ngài Việt Vương Hành Khiển, nhưng lại không dựa vào một
căn cứ nào! Đặc biệt gà cúng mùng ba là gà giò; nhưng không phải do ngài
Việt Vương Hành Khiển nào đó thích gà giò mà vì qua mấy ngày Tết mọi người đều
không còn tha thiết với mọi loại thịt nữa!
Chiều mùng ba cũng là ngày đưa ông bà. Lễ vật gồm cơm canh như những ngày
trước; đặc biệt là những đòn bánh tét to đùng gói ngày hôm qua (có thành
ngữ là “bánh tét mùng ba”), để ông bà mang theo cho được no đủ trong suốt cuộc
hành trình vạn dặm nước sông (thời khai hoang ông bà đi bằng ghe xuồng)
Sáng mùng bốn là lễ khai Giếng: Lễ vật y như chiều ba mươi, chủ nhà
khấn vái xin ông bà giếng phù hộ cho cả nhà đủ nước sinh hoạt suốt năm và
bình an khỏe mạnh; xong, miếng giấy hồng đơn bên thành giếng được gỡ ra, cho
phép mọi người múc nước bình thường.
Tết Nguyên Đán là một phong tục thiêng liêng đầy màu sắc văn hóa của dân
tộc. Mấy ai đã từng xa quê mà ngày Tết không về nhà được mới thấy
thấm thía nỗi buồn nhớ quê hương, nhớ cha mẹ, họ hàng . Ngày nay,
tuy những tục lệ trong những ngày Tết có đơn giản đi nhiều, nhưng nhìn chung
những nét cơ bản thì vẫn còn tồn tại, và chúng tôi chắc rằng nó mãi mãi tồn tại
theo thời gian.
Kha Tiệm Ly
Tên thật: Thái
Quốc Tế
Địa chỉ: 99/5
Đinh Bộ Lĩnh, Phường 2, tp Mỹ Tho, Tiền Giang.
Điện thoại: 098
770 1952
Chủ tài khoản:
Thái Quốc Tế
Số tài khoản:
07000 132 6587
Ngân Hàng
Sacombank, chi nhánh Tiền Giang
Số CMND:
312093414
Cấp ngày 24/8/2011
tại Tiền Giang
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét