Nguồn
gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp - Hợi gỏi cúi/heo (phần 5B)
Nguyễn
Cung Thông[1]
Bài viết này bàn về khả năng tên gọi 12
con giáp có gốc là tiếng Việt cổ, chú trọng đến chi thứ 12 là Hợi, đặc biệt cho
năm Kỷ Hợi sắp đến (5/2/2019). Bài này đánh số là 5B vì là phần tiếp theo của
các bài 5, 5A cùng một chủ đề - các bài 5 và 5A đã được viết cách đây nhiều
năm. Trong thời gian soạn bài 5B này để chuẩn bị cho buổi phỏng vấn của đài SBS
radio sắp đến, người viết có tra cứu mạng TQ về sinh tiêu 生肖
để kiểm lại các thông tin[2]
mới nhất cho bài viết. Trang mạng TQ viết rất cẩn thận và chi tiết, bàn về nguồn
gốc của 12 con giáp có đưa ra các khả năng (1) hiện diện từ thời cổ đại ở TQ
(2) nhập vào từ Phật giáo đời Đường (3) từ dân du mục ở phương Bắc TQ (học giả Triệu
Dực đời Thanh) (4) nhập vào từ 12 cung hoàng đạo của phương Tây (Babylon) theo
học giả Quách Mạt Nhược (1892-1978) - không thấy tài liệu nào khẳng định 12 con giáp là đặc sản của
TQ và cũng không nhắc đến nguồn gốc phương Nam trong trang mạng TQ này. Một sự
kiện đáng nhắc ở đây là ở Sydney (Úc), các chánh phủ địa phương đã bắt đầu đổi
tên gọi Tết Trung Quốc (Chinese New
Year) thành Tết Âm Lịch (Lunar New
Year) sau một thời gian tìm hiểu các kiến nghị để thay đổi: một lí do đơn giản
là về vấn đề nguồn gốc của Tết Âm Lịch hay 12 con giáp không ai dám khẳng định
là của thuộc bản quyền của người hay văn hoá TQ[3].
Để cho liên tục và rõ ý[4],
người đọc nên tham khảo thêm loạt bài viết về "Nguồn gốc Việt (Nam) của
tên 12 con giáp" như "Mão Mẹo mèo" có 3 bài viết đánh số 4, 4A,
4B trên các trang mạng (Internet) công cộng như https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=20674
hay http://chimvie3.free.fr/47/index47.htm
…v.v… Các chữ viết tắt trong bài là NCT (Nguyễn Cung Thông), TVGT (Thuyết Văn
Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ
Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067),
TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận
Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự
Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang
Hi/1716), ĐNQATV (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị), HV (Hán Việt), VN (Việt Nam), TQ
(Trung Quốc), P (tiếng Pháp), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh). Không nên nhầm lẫn các số đứng sau một
âm tiết (chỉ thanh điệu) so với phụ chú.
1.
Các cách đọc chữ Hợi
1.1
Chữ hợi 亥 (thanh mẫu hạp 匣, vận mẫu hai 咍 thượng thanh/khứ thanh, khai khẩu nhất
đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết
胡改切
hồ cải thiết (TVGT, ĐV, QV, CV, TVi, LTCN)
向改切
hướng cải thiết (NT)
下改切,音頦
hạ cải thiết, âm hài (TV, LT, VH)
TNAV ghi vận mẫu 皆來 giai lai (khứ thanh)
CV ghi cùng vần/thượng thanh 亥 劾
侅 (hợi *hặc))
CV cũng ghi cùng vần/khứ thanh 害 妎
劾 亥 (hại hợi *hặc)
許已切,音喜
hứa dĩ thiết, âm hỉ (VB, TVi)
下蓋切
hạ cái thiết (CV, TVi) ...v.v...
Giọng BK bây giờ là hài so với giọng Quảng
Đông hoi6 và các giọng Mân Nam 客家话: [海陆丰腔]
hoi6 [陆丰腔]
hoi6 [梅县腔]
hoi5 [东莞腔]
hoi3 [客英字典]
hoi5 [客语拼音字汇]
hoi4 [台湾四县腔]
hoi5 [宝安腔]
hoi3 潮州话:hai6
(hãi), giọng Mân Nam/Đài Loan hai7, tiếng Nhật gai kai và tiếng Hàn hay.
Để ý khả năng có ba thanh điệu của Hợi:
thượng thanh (đọc như hãi), khứ thanh và bình thanh (đọc như hài) phù hợp với
các dạng cúi (heo cúi, cá cúi), cội hay cỗi (nguồn cội, cội rễ) và cùi (cùi bắp,
cùi tay).

Giáp cốt văn Kim Văn Tiểu Triện Khải Thư

Giáp
cốt văn Kim Văn Tiểu Triện Khải Thư
Câu nói từ xưa "Chữ tác (作) đánh chữ tộ (祚), chữ ngộ (遇) thành chữ quá (過)" nói lên khả năng viết nhầm vì
hình dạng chữ giống nhau, cũng như thành ngữ HV lỗ ngư hợi thỉ 鲁鱼亥豕.
Thật ra vấn đề khá oái ăm vì thỉ và hợi từng là một chữ tượng hình con lợn (chứ
chẳng phải nhầm lẫn gì - xem các hình chụp bên trên từ trang http://www.zdic.net/z/24/zy/8C55.htm
hay trang http://hanziyuan.net/#%E8%B1%95
chẳng hạn), như các tài liệu sau đây minh chứng:
豕與亥相似
<呂氏春秋·慎行論>
Thỉ dữ hợi tương tự < Lã Thị Xuân
Thu· Thận hành luận> - Lã Thị Xuân Thu do Lã Bất Vi soạn vào đời Tần (vào
khoảng 239 TCN)
亥,
豕也 <論衡·物勢>
Hợi, thỉ dã <Luận Hành. Vật thể> -
Luận Hành soạn bởi Vương Sung thời Đông Hán (vào khoảng 80 SCN)
亥即豕,
故曰首曰身也
<左傳襄公三十年》
Hợi tức thỉ, cố viết thủ viết thân dã
<Tả Truyện. Tương công tam thập niên> - Tả Truyện soạn thời Chiến Quốc
(vào khoảng trước năm 389 TCN)
說文解字: <春秋傳>曰:“亥有二首六身。”凡亥之屬皆從亥。古文亥爲豕,與豕衕
Thuyết Văn Giải Tự: < Xuân Thu Truyện>
viết:“hợi
hữu nhị thủ lục thân。” phàm hợi chi chúc giai
tòng hợi. cổ văn hợi vi thỉ,
dữ thỉ đồng - Thuyết Văn Giải Tự do Hứa Thận soạn (khoảng 121 SCN)
1.2
Dựa vào âm HV/Nhật/Hàn và các phương ngữ TQ, một dạng âm cổ phục nguyên của Hợi
là *ɣəj hay *kəj mà tiếng Việt còn bảo lưu dạng này qua các cách dùng heo cúi, cá cúi - cúi là lợn/heo (tiếng
Mường Bi) so với tiếng Ruc *ku:l4,
Maleng Brô kù:r, Giarai kuai, Sedang kuur. Như vậy là ta có thể liên hệ trực tiếp
âm Hợi và cúi (đều chỉ loài lợn), ngoài ra còn các dữ kiện về Giáp Cốt Văn bên
trên cho thấy chữ Hợi tượng hình (hình loài lợn). Ngoài ra, âm cổ *ɣəj còn để lại vài vết tích như ít người
biết chữ Hợi 亥
còn có nghĩa là rễ cỏ[5]
(TVGT và NT ghi nghĩa của Hợi là 荄也 cai dã - xem
hình chụp bên dưới) hay là cai 荄,
tiếng Việt còn bảo lưu các dạng cổ là cùi[6],
cội (cd. cây có cội, nước/sông có
nguồn). Chữ cai 荄 (rễ
cỏ) là chữ hiếm với tần số dùng 41 trên 430747376 (thanh mẫu kiến 見
vận mẫu giai 皆
bình thanh, khai khẩu nhị đẳng/nhất đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết
古哀切
cổ ai thiết (TVGT, ĐV, LT, TTTH)
古諧切
cổ hài thiết (TVGT)
古諧切
cổ hài thiết (LT)
古來反
cổ lai phản (NKVT 五經文字)
皆該二音
giai khai nhị âm (LKTG, TNTTĐTA 精嚴新集大藏音)
居諧切
cư hài thiết (TV, CV)
柯開乀
kha khai phật (TNTTĐTA 精嚴新集大藏音)
柯開切,音該
kha khai thiết, âm cai (TV, VH)
TNAV ghi vận bộ 皆來
giai lai (dương bình)
CV ghi cùng vần/bình thanh 皆
偕
階
堦
荄
核
䕸
湝
痎
喈
楷
街
(giai cai *hạch)
CV cũng ghi cùng vần/bình thanh 該
晐
賅
剴
祴
侅
垓
畡
胲
頦
陔
峐
荄
絯
(cai)
歌開切,音該
ca khai thiết, âm cai (TVi, CTT)
居諧切,
音皆
cư hài thiết, âm giai (TVi)
居支切,
音箕
cư chi thiết, âm ki (TViB) ...v.v...
Giọng BK bây giờ là gāi jiē so với giọng
Quảng Đông goi1 và các giọng Mân Nam 客家话: [台湾四县腔]
goi1 [客英字典] goi1 [海陆丰腔]
goi1 [梅县腔]
goi1 潮州话:gai1,
tiếng Nhật kai.
1.3
Chữ 䝅
rất hiếm (bình thanh, Unicode 4745) có các cách đọc theo phiên thiết
呼恢切
hô khôi thiết (NT) - NT ghi nghĩa của hôi 䝅 là thỉ dã 豕也 (cũng như TV, TVi).
呼回切,音灰
hô hồi thiết, âm hôi (TV, LT, TVi) ...v.v...
Một dạng âm cổ phục nguyên của hôi 䝅
là *ɣəj rất gần với dạng cúi tiếng Việt và cùng một nghĩa (chỉ
con lợn). Một điểm đáng nhắc lại ở đây là nét nghĩa phát sinh từ hôi là lợn đào
xới đất lên như lời chú thêm vào ở TV.
TVGT
NT
NT
TV
1.4
Chữ hiếm hài/cai/hợi 豥
(Unicode 8C65) với tần số dùng là 10 trên 237243358, có các cách đọc theo phiên
thiết
工開反
công khai phản (NKVT 五經文字)
古來戸來二反
cổ lai hộ lai nhị phản (LKTG)
胡來古來二切
hồ lai cổ lai nhị thiết (NT, TTTH)
古哀切
cổ ai thiết (QV)
戸來切
hộ lai thiết (QV)
何開切,音孩
hà khai thiết, âm hài (TV, LT)
柯開切,音該
kha khai thiết, âm cai (TV, LT)
魚開切,音皚
ngư khai thiết, âm ngai (TV, LT)
下楷切,音駭
hạ giai thiết, âm hãi (TV, LT, VH, CV, TVi)
於開切
ư giai thiết (TV)
CV ghi cùng vần/thượng thanh 駭 駴
絯 豥
(hãi)
呼買切,
音駭 hô mãi thiết,
âm hãi (CTT) ...v.v...
Giọng BK bây giờ là gāi so với giọng Mân
Nam 潮州话:hai5.
Một dạng âm cổ phục nguyên của hài/cai là *ɣəj
rất gần với dạng cúi tiếng Việt.
Một điểm đáng nhắc ở đây là nét nghĩa của hài/cai 豥
là loài lợn có bốn móng chân trắng có thể phát sinh từ loài lợn rất hiếm gặp (ở
TQ thời cổ đại), hay một loại "hàng nhập" vậy.
NT
LKTG
2.
Cá cúi, heo cúi
Một dạng chữ Nôm cúi là dùng cối (hội)
HV 會
hay 檜
(so với âm cổ phục nguyên *ɣəj):"Hà đồn cúi nước gặp người lội theo"
(Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa, 58b), "Bằng chưng giết cúi dê, máu chảy suốt
hết đất" (Phật Thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, 17b). Tới thời
Béhaine (1772/1773) và Taberd (1838) thì cúi chữ Nôm được viết là 𨆝
(bộ túc + cối HV, chỉ hành động cúi xuống, nét nghĩa chính trong tiếng Việt hiện
nay) và chỉ còn dùng trong các từ kép cá
cúi[7],
heo cúi - xem hình chụp bên dưới:


Cá
cúi (Béhaine/Taberd 1772/1773-1838) là porcus marinus; heo cúi là porcus. Porcus
marinus/L dịch ra tiếng Việt là "heo biển". Cá cúi là "thứ cá biển
nhiều mỡ như heo, cũng gọi là heo biển, thầy thuốc Annam hay dùng mỡ nó mà làm
thuốc trái, thuốc ghẻ; da đó cùng dùng một thế, hoặc làm đồ ăn" trích
ĐNQATV trang 201.
Trong cuốn "Dictionnaire
annamite-chinois-français" (tự điển Việt Trung Pháp), học giả Gustave Hue
(1937) còn ghi lại cách dùng "con gỏi"
để chỉ lợn con[8]
(heo con ~ porcelet/P, piglet/A). Gỏi[9]
là một dạng biến âm của cúi, hỗ trợ
cho dạng âm cổ phục nguyên *ɣəj hay *kəj.
Tóm lại, tiếng Trung (Quốc) có nhiều từ
chỉ loài lợn như trư 豬 (tần suất 25297 trên 369369126) 猪
(tần suất 12684 trên 258852642), thỉ 豕 (tần suất 1942
trên 432067182), hi 豨 (tần suất 490 trên 430747376), trệ 彘,
đồn 豚,
gia 豭,
hào 豪
...v.v... Nhưng không thấy còn dùng dạng *ɣəj
hay *kəj, âm cổ phục nguyên của Hợi 亥,
hôi 䝅
và hài/cai/hợi 豥.
Điều này cũng dễ hiểu vì sau khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất TQ và văn tự, và sau
khi tiêu diệt các nước chư hầu, mạch chính của văn hoá Hán tộc bắt đầu khởi sắc
so với ảnh hưởng từ phương Nam[10]
đúng theo ý định của nhóm cầm quyền. Dựa vào thư tịch cổ, các phương ngữ cùng hệ
thống âm HV: ta có cơ sở giải thích chữ Hợi có nghĩa là con lợn/heo vào thời tiền
Hán (td. Giáp cốt văn - chữ tượng hình con lợn), cũng như âm cổ *ɣəj hay *kəj chính là dạng cúi và
gỏi còn bảo lưu[11]
trong tiếng Mường (Bi) và Việt. Do đó, ta cần phải đặt lại vấn đề nguồn gốc
phi-Hán của tên chi thứ 12 (Hợi), và chỉ có thể dùng nhánh ngôn ngữ Việt Mường
(< họ Nam Á) thì ta mới cảm thông được tại sao Hợi lại có biểu tượng là loài
lợn/heo. Ngoài ra tiếng Việt không cần phải dùng từ ghép[12]
như tiếng TQ - như 亥猪 Hợi trư
(Hợi - lợn/heo) - để nhắc nhở dân chúng TQ về loài động vật tương ứng với chi Hợi
- so với một dạng âm cổ của Hợi là cúi[13]
vẫn còn hiện diện trong tiếng Việt và Mường (heo cúi, cá cúi).
Một trường hợp khác dễ nhận ra hơn là chi Mão hay Mẹo: đối với người Việt thì
biết ngay là chi chỉ con mèo (của VN), còn đối với người TQ thì phải dùng từ
ghép 卯兔 Mão thố
để nhắc đến loài thỏ[14],
động vật biểu tượng chi Mão của văn hoá truyền thống của Hán tộc.
3.
Tài liệu tham khảo chính và phê bình thêm
1) Pigneau de Béhaine (1772/1773) - Bá Đa Lộc Bỉ Nhu "Dictionarium
Annamitico-Latinum" Dịch và giới thiệu bởi Nguyễn Khắc Xuyên, NXB Trẻ
(Thành Phố HCM - 1999).
2) Huỳnh Tịnh Của (1895-1896) "Đại
Nam Quấc Âm Tự Vị" Tome I, II - Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4 rue
d'Adran (SaiGon).
3) Michel Ferlus (2004) "Le cycle
des douze animaux" histoire d'un contact ancien entre Vietnam et
Cambodge" The Sixth International Symposium on Pan-Asiatic Linguistics
(HaNoi - Vietnam November 25-26, 2004).
4) Nguyễn Quang Hồng (2015) "Tự điển
chữ Nôm dẫn giải" Tập 1 và 2 - NXB Khoa Học Xã Hội/Hội Bảo Tồn Di Sản Chữ
Nôm (Hà Nội).
5) Nguyễn Văn Khang (Chủ biên), Bùi Chỉ,
Hoàng Văn Hành (2002) "Từ điển Mường Việt" NXB Văn Hóa Dân Tộc (Hà Nội).
6) Vương Lộc (2002) "Từ điển từ cổ"
NXB Đà Nẵng - Trung Tâm Từ Điển Học (Hà Nội).
7) Hoàng Thị Ngọ (1999) "Chữ Nôm và
tiếng Việt qua bản giải âm Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh" NXB
Khoa Học Xã Hội (Hà Nội).
8) Alexandre de Rhodes (1651) "Phép
Giảng Tám Ngày" - Tủ Sách Đại Kết in lại từ Tinh Việt Văn Đoàn (1961 - Sài
Gòn) với phần giới thiệu của tác giả Nguyễn Khắc Xuyên.
9) Nguyễn Ngọc San/Đinh Văn Thiện (2001)
"Từ điển từ Việt cổ" NXB Văn Hóa Thông Tin (Hà Nội).
10) Nguyễn Cung Thông (2009) "Người
tìm nguồn tên 12 con giáp" có thể đọc toàn bài trang https://www.tienphong.vn/cong-nghe-khoa-hoc/nguoi-tim-nguon-ten-12-con-giap-151678.tpo
[2] Xem
trang mạng này chẳng hạn https://zh.wikipedia.org/wiki/%E7%94%9F%E8%82%96#cite_note-%E7%9D%A1%E8%99%8E%E5%9C%B0%E7%A7%A6%E7%B0%A1%E8%88%87%E6%94%BE%E9%A6%AC%E7%81%98%E7%A7%A6%E7%B0%A1-4
. Điều đáng chú ý là năm nay (2018) một cuốn sách vừa xuất hiện "Từ thập
nhị chi đến 12 con giáp" của tác giả An Chi (người Việt) lại "khẳng định
12 con giáp là đặc sản của nền văn minh Trung Hoa chứ không hề vay mượn từ bất
kỳ một ngôn ngữ nào khác" - theo lời NXB Tổng Hợp Thành Phố HCM.
[3] Tham
khảo thêm các bài báo như (9/11/2018) https://www.sbs.com.au/yourlanguage/vietnamese/vi/article/2018/11/09/hoi-dong-thanh-pho-sydney-thua-nhan-tet-duong-lich-thay-vi-tet-trung-quoc?language=vi
hay https://www.sbs.com.au/yourlanguage/vietnamese/vi/article/2018/02/21/goi-ngay-tet-la-lunar-new-year-mot-nguoi-mau-bi-dan-trung-quoc-tay-chay-vi-dam?language=vi
…v.v…
[4] Loạt
nài "NGUỒN GỐC VIỆT (NAM) CỦA TÊN 12 CON GIÁP - phần 1 và 2" bàn về
tên 12 con giáp (tổng quát), phần 3 đến 14 bàn về từng chi một -- xem trang này
http://web.hanu.vn/vnh/mod/forum/discuss.php?d=2335
hay http://www.dunglac.info/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=81&ia=912
…v.v…
[5] Theo
một cách giải thích từ chu kì hình thành cây cối: Hợi là giai đoạn huỷ diệt
dương khí, âm khí trở nên cực thịnh, cây cỏ chết đi và hạt dưới đất nảy mầm
thành rễ để bắt đầu sinh trưởng (bắt
đầu một chu kì mới).
[6] cội cây (~gốc cây) khác với thân cây (có thể coi cội là phần dưới cùng của
thân - td. lá rụng về cội): đây là cách dùng khác với tiếng Anh trunk (thân cây, cội cây) và tiếng Pháp
tronc (thân cây, cội cây).
[7] Cá
cúi là porcus
marinus, theo cách giải thích của Royal Society of London, trong cuốn
"Philosophical transactions from
their commencement, in 1665, to the year 1800" Volume 1 - from 1665 to
1672 - in năm 1809 (London).
[8] Tuy
nhiên, học giả Génibrel trong "Dictionnaire annamite français" (1898)
ghi nghĩa của "con gỏi" là lợn nhỏ vừa vừa (cochon de moyenne
taille/P).
[9] Gỏi
thường biết đến là thịt cá sống trộn với giấm và rau cải (gỏi cá, gỏi cá sống), nhưng cũng có thể dùng thịt lợn/bò sống (nem chua) ...v.v...
[10] Tần
Thuỷ Hoàng không ngần ngại đốt sách hay tiêu huỷ triệt để (td. phần thư khanh
nho) các nền văn hoá khác để có một TQ thống nhất và dễ cai trị. Ngoài ra, từ
miền Nam TQ đã có nhiều đợt di thiên về phương Nam và quá trình hợp chủng cũng
làm ảnh hưởng TH càng ngày càng lấn át văn hoá bản địa (td. 12 con giáp càng xa
rời đời sống nông nghiệp và trở thành bổn mạng trong cuộc đời) - xem kết quả mới
nhất về ADN trong báo cáo này (17/5/2018) chẳng hạn https://www.sciencenews.org/article/ancient-chinese-farmers-sowed-literal-seeds-change-southeast-asia
hay http://science.sciencemag.org/content/early/2018/05/16/science.aat3188
...v.v... Trường hợp tên gọi 12 con giáp còn có thể
coi như là "nhập ngược lại" trong tiếng Việt, khi văn hoá TQ khởi sắc
và có ảnh hưởng rất lớn cho các nước láng giềng.
[11] So
với biểu tượng là con voi (kunjara)
của Thái tộc傣族 (Dai), hay là con heo đực (Gai hay là I, Inoshishi) của Nhật thì rất khó mà đặt vấn đề nguồn gốc của âm
và nghĩa của Hợi từ các nhóm ngôn ngữ này!
[12] Thí
dụ như trên mạng wikipedia TQ chuyên bàn về 12 con giáp (gọi là 生肖 Sinh Tiêu) https://zh.wikipedia.org/wiki/%E7%94%9F%E8%82%96#cite_note-%E7%9D%A1%E8%99%8E%E5%9C%B0%E7%A7%A6%E7%B0%A1%E8%88%87%E6%94%BE%E9%A6%AC%E7%81%98%E7%A7%A6%E7%B0%A1-4
ghi rằng 子鼠,
丑牛、寅虎、卯兔、辰龍、巳蛇,
午馬、未羊、申猴、酉雞,
戌狗、亥猪 Tí thử, Sửu ngưu、
Dần hổ、 Mão thố, Thần long、 Tị xà、 Ngọ mã、 Vị dương、 Thân hầu、 Dậu kê、 Tuất cẩu、 Hợi trư.
[13] Thật
ra, VBL còn ghi thêm một cách dùng tương đương của heo và lợn, hay là "con
sinh". Đây là ảnh hưởng sau này mà thôi: sinh 牲 chỉ gia súc dùng
trong việc cúng tế như bò, dê, heo ... Sinh có gốc Hán Tạng.
[14] Theo
truyền thuyết dân gian (không kiểm chứng được, có nhiều dị bản) thường kể cho
các cháu bé vào mỗi đầu năm bên TQ thì trong cuộc đua tới dự một phiên họp (do 玉皇上帝 Ngọc Hoàng Thượng Đế tổ
chức) thì chuột và mèo nhảy lên lưng bò để đi qua sông đến điểm họp. Giữa đường
đi thì chuột đẩy mèo xuống nước (lại có truyền thuyết cho rằng mèo ngủ quên) và
đến điểm hẹn trước nhất, do đó năm đầu là năm Tí (năm chuột), và năm thứ nhì là
năm Sửu (năm "bò") - xem trang này chẳng hạn https://www.travelchinaguide.com/intro/social_customs/zodiac/story.htm
...v.v...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét