Thứ Hai, 4 tháng 2, 2019

VÀI LỜI VỀ DỊ NHÂN VĂN THÙY -- NGUYỄN BÀNG


BAOTHANG_XUANXUYEN DANG
14:30, Th 6, 7 thg 12 (3 ngày trước)
tới PV, Da, tôi, Phu, Vu, Trần, Giống, Xuân, Nguyễn


Ảnh tác giả Nguyễn Bàng
VÀI LỜI VỀ

DỊ NHÂN VĂN THÙY



*

Có vô số bài viết về Văn Thùy dị nhân, Lục bát Văn Thùy… Mà hầu hết các bài viết đó đã phong cấp bậc cho nhà thơ này cùng lục bát của ông ấy; rất hiếm thấy tác giả nào có đôi dòng viết về cái dở trong lục bát Văn Thùy. Chính vì vậy, đọc bài viết của tác giả Đặng Xuân Xuyến, tuy rất kiệm lời nhưng đã có cách đánh giá công bằng và tỉnh táo, nhất là ở mấy câu cuối bài:

“Trong gia tài thơ ca của ông, có nhiều câu thơ đặc sắc, thể hiện nét tài hoa đặc biệt của ông, nhưng thật tiếc, sự lặp lại về tứ, về ý đến gần như sao y bản chính của không ít câu thơ: “Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín vía chột mười cũng xong.” - “Ngón tay ngọng mấy đốt rồi / Kể là chín ngón hỏng mười cũng xong.”, hay: “Con xuôi ngược nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rã rời mái gianh.” - “Con đi dọc nửa kiếp người / Vẫn quanh lọn tóc rối thời mái gianh”..., thậm chí sự tương đối giống nhau của cả những bài thơ (Xin Em - Xin Em Đừng Mặc Áo Dày) đã làm thơ ông xuất hiện sự nhàm chán, nhạt đi và bớt duyên, khiến những người yêu thơ, yêu sự sáng tạo, chỉn chu sẽ khó chịu, cho rằng ông lười sáng tạo nên mới xào sáo, làm giảm sức hấp dẫn với chính thơ của mình.” (01)

Nhưng công bằng mà nói, nhà thơ Nguyễn Khôi đã viết khá thật và khá rõ từ năm 2013 về Văn Thùy dị nhân và thơ của ông ta, khi tác giả gọi đó là Thơ bụi quê mùa thấp hơn hẳn thơ Bùi Giáng:

“Văn Thùy (1941) quê gốc Hà Nội, vốn là người có học, chữ đẹp, tài hoa, thông minh tinh tướng, sau hậu chiến, do hoàn cảnh "X"... anh ôm cô vợ đẹp phú lỉnh xuống Thị trấn Ân Thi (Hưng Yên) mở Hiệu ảnh; nhưng rồi cơm chẳng lành -canh chẳng ngọt: cô vợ bỏ anh "bay" vào thanh phố Hồ Chí Minh ở với con (chồng trước), rồi với cái xe máy cà tàng anh bỏ phố, bỏ làng "đi hoang" - bụi .. tuy ở cái tuổi "hàng lão", anh đốc chứng truyền bệnh "nghiện vần lục bát" cho các cô - bà nàng mê thơ (gặp thời phong trào thơ các Câu Lạc Bộ thơ phường xã phát triển như nấm gặp mưa rào - thời mở cửa - kinh tế thị trường tự do...). Đó là những vần lục bát khá tinh luyện - hiện đại (định làm Bùi Giáng khinh đời "đ..."- nhưng thấp hơn ở mức quê mùa). Thơ Văn Thùy nổi trội là lối là thơ "tán gái nịnh đầm" rất tương tri với loại gái nạ dòng "phá rào" mới xuất hiện ở các vùng đang đô thị hóa... với "hồn Rơm" - tình vùi giữa đống rơm: em phô chuyện chán tìm chồng / xóm giềng mách: có đàn ông trong nhà / Sau hơn chục cuộc điều tra / đứa trong nhà ấy té ra là...mình”. (02)

Một người nữa không rõ tên nhưng là một thành viên đã từng học lớp Chuyên Toán Hải Hưng, cấp 3 Hưng Yên 1972-1975 thì nhận xét về thư pháp của Văn Thùy khá chính xác:

“Nhưng tôi muốn bình cái cách viết cái gọi là "thư pháp" của ông Văn Thùy. Và nói chung, không riêng gì ông Thùy mà nhiều người khác cũng có kiểu vẽ viết nghuệch ngoạc mà vỗ ngực là "thư pháp". Cái ảnh thứ nhất, vẽ rồng vẽ phượng, viết chữ loằng ngoằng gớm chết. Tôi không hiểu mỹ cảm của người khen kiểu viết kia mà gọi là đẹp thì đó là thứ mỹ cảm gì? Lạ lùng là trong Tết, Ngày Thơ ở Văn Miếu, cũng có ông viết chữ giun dế, bóp chữ để gọi là "thư pháp" mà cũng bán được tiền. Có lẽ các nhà báo cũng có khá nhiều người mù mịt, không biết mình ca ngợi cái gì. Hiện nay, một hiện tượng lệch chuẩn rất phổ biến và đáng báo động. Ví dụ, một tảng đá viết nhăng cuội bùa chú đặt ngay tại đền Hùng, mà nguyên nhân từ những ông vỗ ngực là Tiến sĩ, đại tá, đến khi truy nguyên ra, dư luận mới biết là sự nhố nhăng. Những thứ liên quan đến quốc thể, quốc thống còn thế, thì chuyện vẽ vớ vẩn lòe thiên hạ là thường. Tôi cho rằng, những anh viết chữ loằng ngoằng tự vỗ ngực là "thư pháp" cũng là nhố nhăng,bắt chước thư pháp Tàu một cách vô lối. Các nhà báo không biết rằng, chân lý không thể theo đám đông, không thể mang ra bỏ phiếu. Không thể nói rằng, có nhiều người mua cái tờ thư pháp như của ông Thùy mà bảo rằng nó đẹp hay là nghệ thuật (NXH)”

Tôi, Nguyễn Bàng thì nghĩ, những ai yêu thích kiểu viết thư pháp Quốc ngữ này mà khuyên con cháu mình học theo, chắc khi các cháu làm bài tập, chỉ cần múa vài chữ vào trong bài thôi, chắc sẽ bị các thày cô cho điểm kém và mắng là chữ gà bới.

Đúng là ông Văn Thùy có biệt tài về làm một kiểu thơ lục bát và có nhiều dị tính khác người. Nhưng ở Việt Nam ta ngày nay, không chỉ có Văn Thùy dị nhân mà còn có rất nhiều kiểu dị nhân trứ danh nữa, nào là: Dị nhân nói chuyện được với cụ rùa Hồ Gươm, dị nhân cứ hát là trời đổ mưa, dị nhân biết hô mưa hoán vũ; thậm chí có cả dị nhân dị nhân 30 năm không cắt móng tay, dị nhân tóc búi hình rồng, rắn…

Và điều đáng nói là trong dân chúng nhiều đám đông cứ thấy dị nhân là hè nhau xem nghe và cổ vũ cho họ làm mất đi tính trung thực về người, về việc làm và về tài năng thực của họ. Chẳng hạn như câu lục bát Văn Thùy này:

“Có gì mạnh đến lạ thường
Yêu suông đã bốn chân giường còn hai”…

Đã không hay lại còn sai về logic chứ đâu được như câu lục bát ca dao:

Một rằng thương hai rằng thương
Có bốn chân giường gẫy một còn ba

Hay như câu này, sao lại gọi là tâm trạng e ngại, kìm nén những xúc cảm yêu đương:

Yêu chay nên chỉ dám sờ áo thôi

Nếu thế thì không e ngại, không kìm nén những xúc cảm yêu thương, không yêu chay mà “yêu mặn” thì sẽ sờ cái gì?

Việt Nam có nhiều nhà thơ tài lục bát, không kể các vị đã khuất như Nguyễn Bính, Bùi Giáng, Đồng Đức Bốn, một nhà thơ còn đang sống cùng chúng ta là Nguyễn Duy, tất cả họ đều nổi danh lục bát với một phong cách riêng, một bản sắc riêng chứ họ đâu cần phải phong tước dị nhân?

*

Sài Gòn, 28/12/2016

NGUYỄN BÀNG

Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2018

NHƯ THIẾU NỮ ĐÃ VÀO CHÙA XUỐNG TÓC ???- NGUYỄN BÀNG


BAOTHANG_XUANXUYEN DANG
01:04, Th 4, 31 thg 10 (8 ngày trước)
tới Phu, Da, tôi, Giống, Trần, Xuân, Nguyễn, PV, Vu



Ảnh tác giả Nguyễn Bàng



NHƯ THIẾU NỮ

ĐÃ VÀO CHÙA XUỐNG TÓC ???

*

(Gửi nhà thơ Đặng Xuân Xuyến)



Lọc ra chừng 8 bài thơ viết về biển của Nguyễn Thanh Lâm để bình riêng BIỂN CỦA NGUYỄN THANH LÂM trong RỪNG XANH MƯA (xem:l tại đây l) là một việc làm khéo léo. Và bài bình đã làm bật lên cái ý “Thơ ông viết về biển, bài nào cũng tươi rói cảm xúc, cũng được cảm nhận bằng một tình yêu trong sáng, thánh thiện của cõi Thiền”

Nhưng có lẽ vì bị ám ảnh bởi sự thánh thiện của cõi Thiền nên Đặng Xuân Xuyến đã không dưới 2 lần khen Nguyễn Thanh Lâm:



1/

“với Nguyễn Thanh Lâm thì biển không chỉ dịu dàng như thiếu nữ tuổi dậy thì mà còn đẹp hơn thế, khi ông phát hiện: biển trong mưa thật đẹp, đẹp trắng trong, tinh khiết “Như thiếu nữ đã vào chùa xuống tóc”, chỉ nên chiêm ngưỡng bằng tâm thể thánh thiện của cõi Thiền. Vẻ đẹp ấy đã khiến nhà thơ và cõi phàm trần “trở bệnh tương tư”, “ngẩn ngơ” tiếc nuối:

Biển lại mưa
Như thiếu nữ đã vào chùa xuống tóc

2/

Khi mưa tạnh, biển trở lại hiền hòa, êm dịu, thì dưới lăng kính lãng mạn của nhà thơ, biển đẹp như “cô gái mới vào chùa chưa xuống tóc”, còn nguyên nét ngây thơ, trong sáng của tuổi mới lớn. Nét đẹp ấy mơn mởn những phồn thực mà hồn nhiên, sáng trong, lặng thầm của hương trinh nữ, làm xuyến xao nhà thơ với miền cảm mến thanh tao, không vẩn nét phàm trần, khiến những trăn trở, nghĩ suy của nhà thơ về trách nhiệm với cuộc đời trở nên an nhiên, tự tại:

Lòng tôi rỗng không ngắm biển
Tóc trắng trên đầu lặng sóng
Mắt khép hờ lỏng then quá khứ - tương lai
Hồn nhiên nhịp thở
Hương hạnh phúc dâng đầy”


Liệu các thiếu nữ đã vào chùa xuống tóc có “đẹp trắng trong, tinh khiết, có còn nguyên nét ngây thơ, trong sáng của tuổi mới lớn...” không?

Không xét đến, những người đi tu, nếu là nam thì theo dân gian, đa phần đều là “trốn việc quan đi ở chùa”,  mang danh tu hành hoặc nương nhờ, lánh vào cửa Phật để “trốn việc quan” (như phu phen, tạp dịch, thuế má, lính tráng, thậm chí trốn trọng tội đã vi phạm ngoài đời... nói chung). Chính vì thế một số triều đại phong kiến đã phải ra chính sách hạn chế người đi tu. Tác phẩm Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh đã nói rõ điều này: Sãi nói mình là người đi tu bất đắc dĩ, đầu Phật cốt để "khỏi xâu, miễn thuế", nay thấy Vãi "thanh tân, đẹp đẽ" nên muốn rủ Vãi "tu hoài, tu hủy". Bị trách mắng, bị cự tuyệt, Sãi chẳng cần dấu diếm, bày tỏ hết cái chân tướng "hổ mang" của mình ra...

Còn các thiếu nữ đã xuống tóc đi tu như trong thơ Nguyễn Thanh Lâm và trong lời bình của Đặng Xuân Xuyến thì văn học nước nhà cũng đã có không dưới ba nàng nổi danh:

Truyện Quan Âm Thị Kính cốt tả đức tính nhẫn nhục và lòng từ bi của bà Thị Kính, vì đó mà sau này bà trở thành Phật Quan Âm. Nhưng người con gái nết na, xinh đẹp ấy  cũng vì bị nghi oan âm mưu giết chồng, bị nhà chồng mắng chửi và đuổi về nhà bố mẹ đẻ nên quá buồn tủi, bèn giả trai đến tu ở chùa Vân (Vân Tự), được đặt pháp danh là Kính Tâm.

Hàng loạt ca khúc nổi tiếng ‘’Chuyện tình Lan và Điệp’’ viết về đôi trẻ yêu nhau nhưng bị số phận đớn đau chia uyên rẽ thúy, được nhiều người ví như  Romeo và Juliet hay Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài của Việt Nam, lấy nguồn từ tiểu thuyết ‘’Tắt lửa lòng’’ của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Cô thiếu nữ Lan ôm mối tình tuyệt vọng bỏ nhà đến chùa để cắt tóc đi tu và rồi kết cục:

‘’ Đời Lan khác chi,
Như một cành hoa xuân hương sắc sớm phai mau
Một đêm gió mưa bên ngọn đèn quạnh hiu
Lan đã cướp linh hồn
Ngoài xa từng tiếng cú kêu sương nghe thê lương
Gió than não nề trong màn đêm nghe đau thương
Từng hồi chuông ngao ngán ngân dài như khóc than,
Tiễn một linh hồn’’

Một chú tiểu cũng tên là Lan trong “Hồn bướm mơ tiên” của Khái Hưng là một cô gái vì lý do đặc biệt mà phải cải nam để tu hành. Giả trai rồi mà chú tiểu Lan vẫn còn xinh đẹp đến nỗi chàng sinh viên Ngọc, lần đầu lên chùa gặp mặt đã phải thắc mắc: "Quái lạ! Sao ở vùng nhà quê lại có người đẹp trai đến thế, nước da trắng mát, tiếng nói dịu dàng trong trẻo như tiếng con gái”. Và rồi Ngọc đã nhanh chóng phải lòng Lan. Và sự có mặt của Ngọc đã đánh thức trong Lan cái gọi là tình yêu, gieo vào tim nàng những tiếng yêu êm ả.

Vì vậy ví von”
“Biển lại mưa
Như thiếu nữ đã vào chùa xuống tóc”

Không hẳn là trắng trong tinh khiết như nhà thơ và cả người bình đã cảm hứng.

Về Mưa biển, tôi nhớ nhà thơ nhà giáo Thúc Hà (Hà Thúc Chỉ), dạy học ở Hải Phòng cùng thời với tôi có viết:

“Bỗng đâu mây kéo tối sầm
Con thuyền xa cũng khuất dần dặm khơi”

Trong âm nhạc cũng có bài hát nổi tiếng Mưa trên biển vắng, vốn là một ca khúc tiếng Pháp được dịch lời sang tiếng Việt:

“Mưa buồn mãi rơi trên biển xưa âm thầm
Ôi biển vắng đêm nao tình trao êm đềm
Cơn sóng nào, gợi lên nỗi đau trong em
Bao nhiêu chiều lang thang …. một mình”

Xem ra thơ và nhạc về biển trong mưa không thật đẹp, đẹp trắng trong, tinh khiết mà buồn buồn, ấy là biển trong mưa không phải vào những hôm chớp bể mưa nguồn.

Thích bài bình của Đặng Xuân Xuyến thì viết thế thôi.

*

NGUYỄN BÀNG                                               

Địa chỉ: Thành phố Sài Gòn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét