NHỚ
VỀ Thiên ĐỨc
TẠP BÚT
mang viên
long
T
|
rước
đây - khoảng đầu năm 1963, tôi có duyên đến thăm Tổ đình Thiên Đức nhờ “người
bạn đời” của tôi quê ở thôn An Cửu - cùng xã Phước Hưng (lúc ấy chúng tôi
chỉ mới yêu nhau thôi). Từ đầu thôn An
Cửu đến chợ Háo lễ, chỉ non hai cây số. Chúng tôi thường chở nhau trên chiếc xe
đạp đến thăm chùa, lễ Phật… Nhà thơ Chế Lan Viên có viết một câu thật chí lý: “Tình
yêu làm đất lạ hóa quê hương”. Tôi đã nhận quê hương Phước Hưng làm quê
mình từ hồi nào!
Gần đây, tôi lại có thêm phước duyên
gặp Thầy Thích Nhuận Tâm là đệ tử của Thiền Sư Quảng Phước Thiện Nhơn hiện đang
là viện chủ của Tổ đình Thiên Đức. Thầy đang trụ trì một ngôi chùa ở Gò Vấp -
Tp Hồ Chí Minh; dù đa đoan nhiều Phật sự; nhưng Thầy thường về vấn an Sư phụ -
thăm viếng huynh đệ, bà con đạo hữu trong xã… Tôi được quen biết Thầy, trước
tiên - vì cái “duyên văn nghệ” (Thầy cũng là một nhà thơ, nhà thư pháp…). Mỗi
lần thầy về, tôi đều đến Thiên Đức thăm Thầy. Nhờ vậy, Tổ đình Thiên Đức cũng
được coi như “ngôi chùa quê của tôi” tự bao giờ…
2
Một lần, trong buổi gặp gỡ thân mật,
Hòa Thượng viện chủ đã kể cho chúng tôi nghe những kỷ niệm về Thiên Đức, về
sinh hoạt Phật sự của chùa. về ước nguyện lớn lao của Ngài trong công tác hoằng
pháp độ sanh… Trong bài “tản mạn” ngắn này, tôi chỉ xin ghi lại một kỷ
niệm vui của Hòa Thượng, với một người bạn là một vị Linh mục - (Tuy là một câu
chuyện nhỏ, chuyện vui, nhưng đối với tôi - là một câu chuyện rất sâu sắc; đã
thể hiện trung thực tính chất Từ Bi của đạo Phật, giữa thời đại đang rối ren,
bị bức bách vì bạo lực, khủng bố, chém giết nhau mà lại xưng danh là “tôn
giáo” vì “hạnh phúc của loài người” (!) Trải hơn 2500 năm sống cùng
nhân loại, đạo Phật chưa bao giờ làm tổn thương ai, chưa gây đổ một giọt máu…).
“…Vào một buổi trưa tháng 10 năm 198…
tôi đang có việc cần ra khỏi chùa, đi về phía con đường đất dẫn ra xóm. Trời
vào đông, từ sáng đến trưa, những cơn mưa đổ ào ạt như trút nước. Đợi tạnh mưa,
tôi ra đi với bộ áo nâu sồng bạc cũ như một lão nông ra đồng thăm ruộng. Nhìn
thấy mây đen vần vũ kéo đến; báo hiệu sẽ có cơn mưa lớn - kéo dài, tôi quay trở
lại chùa.
Vừa bước đi vài bước, một chiếc honda
cũ đầy bùn đất đang khó khăn vượt qua vũng lầy - đi ngược lại phía tôi, chở một
người đàn ông trùm kín áo mưa, chỉ để lộ nửa khuôn mặt. Đồng thời, tôi thoáng
nghe có tiếng nói vọng ra từ người đàn ông đang ngồi co ro phía sau: “Gặp
người dân đi đường thì hỏi, trời mưa to người ta đóng cửa hết cả!”. Tôi
chợt nhận ra một giọng nói quen, rất quen - liền lên tiếng hỏi: “Có phải anh
X không?”.
- Đúng rồi, tôi đây. Có phải anh Thiện
Nhơn không?
Thế là chúng tôi nhận ra nhau, gặp
nhau trong nỗi vui mừng khôn xiết. Tôi đưa anh X về chùa tắm rửa, mời cơm (tuy
chỉ là bữa cơm đạm bạc với tương, rau, dưa muối), uống trà - trò chuyện, thăm
hỏi nhau như anh em một nhà đã xa nhau từ lâu.
Xế chiều, anh X nói với tôi sau tiếng
cười hiền: “Tôi nhờ anh một việc được không?”.
- Anh cứ nói đi, có gì đáng ngại đâu?
- Anh chỉ giúp tôi đường để đến thăm
nhà thờ Đòn Dông. Thật xấu hổ, một ông “Cha đạo” lại hỏi thăm một ông “Thầy
chùa” về nhà thờ…
Tôi cười thân tình :
- Có gì khó khăn đâu? - Nhà thờ cũng ở
gần đây thôi mà!
Tôi vui vẻ dẫn đường cho anh X đến
thăm nhà thờ Đòn Dông…
Găp quý vị chức sắc, con chiên ở nhà
thờ - anh X giới thiệu: “ Các con, Thầy Thiện Nhơn đây là một người bạn quý
của cha - một bậc chân tu đạo hạnh mà cha luôn luôn kính trọng !(…)”.
3
Cũng trong một lần được thiện duyên
hầu chuyện cùng Hòa Thượng viện chủ Tổ đình Thiên Đức - khi chúng tôi có ý “thắc
mắc” về lai lịch của tên “thường gọi” về Thiên Đức, mà bà con Phật
tử đã yêu mến gọi là “chùa Bà Ba” - Ngài đã vui vẻ kể lại :
“…Bà con cũng thường gọi là “chùa
Bà Ba” vì trước đây - khoảng từ năm 1954 có một nữ Phật tử đến xin quy y làm
công quả, tu học ở đây - có tên thường gọi là Ba - cô Ba, rồi bà Ba. Thực ra, “cô
Ba” có tên khai sinh là Nguyễn Thị Tình, được Thiền sư Hòa Thượng Tâm Tịnh
- Huệ Chiếu (1937 -1970) ban pháp danh là Nguyên Ý.
Cô có duyên với Phật pháp rất sớm khi
nhận ra được cảnh vô thường khổ đau của kiếp người. Được nghe lời kinh hộ niệm
của Ngài Huệ Chiếu khi người thân yêu của cô qua đời - cô quyết tâm đến xin quy
y, làm công quả và tu hành.
Trong những năm chiến tranh xảy ra
rộng khắp đất nước - Phước Hưng cũng nằm trong tầm của đạn bom (1964 - 1975).
Sau khi đã trụ lại động viên công nhân hoàn tất công cuộc trùng tu Thiên Đức
còn dang dở; Ngài Huệ Chiếu và Tăng ni của Tổ đình buộc phải dời về tạm trú ở
chùa Long Khánh - Quy Nhơn (1967). Chỉ một mình cô Ba ở lại trông nom, giữ gìn,
lo việc hương đèn cho chùa.
Cũng trong giai đoạn khó khăn, ác liệt
này - cô đã cưu mang, tận tình cứu giúp mọi người - dù là Phật tử hay không
Phật tử, một cách viên mãn. Ai ai cũng thương, cũng kính nể cô. Với tâm từ bi
sẵn có, lòng dũng cảm chịu hy sinh cho người được an vui - người ta đã gọi tắt
cho dễ nhớ chùa Thiên Đức, là chùa “Bà
Ba”; để thể hiện tình cảm chân thành, ưu ái của họ đã dành cho Nguyên Ý.
Năm nay, cô Ba đã tròn tuổi 83, nhưng
vừa qua Cô bị sự cố trượt té ảnh hưởng đến đôi chân, hiện đang ngồi trên chiếc
xe lăn. Hòa Thượng và Tăng chúng không cho cô làm việc để Cô an dưỡng trong khi
bệnh hoạn, nhưng với hạnh nguyện “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”
và để vun trồng phước đức nên Cô chẳng hề nghỉ ngơi, luôn luôn làm tốt mọi Phật
sự của Tổ đình với lòng hoan hỷ. Hơn thế nữa, khi Cô bị tai nạn, anh em và con
cháu trong gia đình làm ăn đều giàu sang và có địa vị trong xã hội nhiều lần
đến Chùa muốn đưa Cô về nhà để chăm sóc, phụng dưỡng, báo đáp, trong khi Cô
đang bệnh tật và tuổi già. Nhưng Cô vẫn một mực từ chối: “Bây nghĩ sao mà
đưa tao về nhà? Không sợ người ta chê trách hay sao? - Họ sẽ nghĩ là khi mạnh
khỏe thì phục vụ cho Chùa, nhưng đến khi tai nạn, đau ốm lại bị Chùa bỏ mặc
không lo nên con cháu phải đưa về nhà nuôi dưỡng… Như vậy sẽ làm tổn hại đến
Phật pháp và mình cũng có tội với Tam Bảo…”.
Nhớ về Thiên Đức, tôi luôn nhớ về mái
chùa xưa ba gian lá mái, một vùng hoa trái, cây lá tĩnh mịch, trầm lắng, xinh
tươi - đồng thời, nhớ nhất là những con người đã một đời gắn bó vun đắp cho
ngôi già lam ngày một thêm trang nghiêm, hùng vĩ…
Tháng 7.2007
MANG VIÊN LONG

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét