Thứ Năm, 27 tháng 8, 2015

Ảnh Lê Hoàng




NHỚ VỀ  Thiên ĐỨc

             TẠP BÚT
      mang viên long



T
rước đây - khoảng đầu năm 1963, tôi có duyên đến thăm Tổ đình Thiên Đức nhờ “người bạn đời” của tôi quê ở thôn An Cửu - cùng xã Phước Hưng (lúc ấy chúng tôi chỉ mới yêu nhau  thôi). Từ đầu thôn An Cửu đến chợ Háo lễ, chỉ non hai cây số. Chúng tôi thường chở nhau trên chiếc xe đạp đến thăm chùa, lễ Phật… Nhà thơ Chế Lan Viên có viết một câu thật chí lý: “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”. Tôi đã nhận quê hương Phước Hưng làm quê mình từ hồi nào!

          Gần đây, tôi lại có thêm phước duyên gặp Thầy Thích Nhuận Tâm là đệ tử của Thiền Sư Quảng Phước Thiện Nhơn hiện đang là viện chủ của Tổ đình Thiên Đức. Thầy đang trụ trì một ngôi chùa ở Gò Vấp - Tp Hồ Chí Minh; dù đa đoan nhiều Phật sự; nhưng Thầy thường về vấn an Sư phụ - thăm viếng huynh đệ, bà con đạo hữu trong xã… Tôi được quen biết Thầy, trước tiên - vì cái “duyên văn nghệ” (Thầy cũng là một nhà thơ, nhà thư pháp…). Mỗi lần thầy về, tôi đều đến Thiên Đức thăm Thầy. Nhờ vậy, Tổ đình Thiên Đức cũng được coi như “ngôi chùa quê của tôi” tự bao giờ…
2
          Một lần, trong buổi gặp gỡ thân mật, Hòa Thượng viện chủ đã kể cho chúng tôi nghe những kỷ niệm về Thiên Đức, về sinh hoạt Phật sự của chùa. về ước nguyện lớn lao của Ngài trong công tác hoằng pháp độ sanh… Trong bài “tản mạn” ngắn này, tôi chỉ xin ghi lại một kỷ niệm vui của Hòa Thượng, với một người bạn là một vị Linh mục - (Tuy là một câu chuyện nhỏ, chuyện vui, nhưng đối với tôi - là một câu chuyện rất sâu sắc; đã thể hiện trung thực tính chất Từ Bi của đạo Phật, giữa thời đại đang rối ren, bị bức bách vì bạo lực, khủng bố, chém giết nhau mà lại xưng danh là “tôn giáo” vì “hạnh phúc của loài người” (!) Trải hơn 2500 năm sống cùng nhân loại, đạo Phật chưa bao giờ làm tổn thương ai, chưa gây đổ một giọt máu…).
          “…Vào một buổi trưa tháng 10 năm 198… tôi đang có việc cần ra khỏi chùa, đi về phía con đường đất dẫn ra xóm. Trời vào đông, từ sáng đến trưa, những cơn mưa đổ ào ạt như trút nước. Đợi tạnh mưa, tôi ra đi với bộ áo nâu sồng bạc cũ như một lão nông ra đồng thăm ruộng. Nhìn thấy mây đen vần vũ kéo đến; báo hiệu sẽ có cơn mưa lớn - kéo dài, tôi quay trở lại chùa.
          Vừa bước đi vài bước, một chiếc honda cũ đầy bùn đất đang khó khăn vượt qua vũng lầy - đi ngược lại phía tôi, chở một người đàn ông trùm kín áo mưa, chỉ để lộ nửa khuôn mặt. Đồng thời, tôi thoáng nghe có tiếng nói vọng ra từ người đàn ông đang ngồi co ro phía sau: “Gặp người dân đi đường thì hỏi, trời mưa to người ta đóng cửa hết cả!”. Tôi chợt nhận ra một giọng nói quen, rất quen - liền lên tiếng hỏi: “Có phải anh X không?”.
          - Đúng rồi, tôi đây. Có phải anh Thiện Nhơn không?
          Thế là chúng tôi nhận ra nhau, gặp nhau trong nỗi vui mừng khôn xiết. Tôi đưa anh X về chùa tắm rửa, mời cơm (tuy chỉ là bữa cơm đạm bạc với tương, rau, dưa muối), uống trà - trò chuyện, thăm hỏi nhau như anh em một nhà đã xa nhau từ lâu.
          Xế chiều, anh X nói với tôi sau tiếng cười hiền: “Tôi nhờ anh một việc được không?”.
          - Anh cứ nói đi, có gì đáng ngại đâu?
          - Anh chỉ giúp tôi đường để đến thăm nhà thờ Đòn Dông. Thật xấu hổ, một ông “Cha đạo” lại hỏi thăm một ông “Thầy chùa” về nhà thờ…
          Tôi cười thân tình :
          - Có gì khó khăn đâu? - Nhà thờ cũng ở gần đây thôi mà!
          Tôi vui vẻ dẫn đường cho anh X đến thăm nhà thờ Đòn Dông…
          Găp quý vị chức sắc, con chiên ở nhà thờ - anh X giới thiệu: “ Các con, Thầy Thiện Nhơn đây là một người bạn quý của cha - một bậc chân tu đạo hạnh mà cha luôn luôn kính trọng !(…)”.
3
          Cũng trong một lần được thiện duyên hầu chuyện cùng Hòa Thượng viện chủ Tổ đình Thiên Đức - khi chúng tôi có ý “thắc mắc” về lai lịch của tên “thường gọi” về Thiên Đức, mà bà con Phật tử đã yêu mến gọi là “chùa Bà Ba” - Ngài đã vui vẻ kể lại :
          “…Bà con cũng thường gọi là “chùa Bà Ba” vì trước đây - khoảng từ năm 1954 có một nữ Phật tử đến xin quy y làm công quả, tu học ở đây - có tên thường gọi là Ba - cô Ba, rồi bà Ba. Thực ra, “cô Ba” có tên khai sinh là Nguyễn Thị Tình, được Thiền sư Hòa Thượng Tâm Tịnh - Huệ Chiếu (1937 -1970) ban pháp danh là Nguyên Ý.
          Cô có duyên với Phật pháp rất sớm khi nhận ra được cảnh vô thường khổ đau của kiếp người. Được nghe lời kinh hộ niệm của Ngài Huệ Chiếu khi người thân yêu của cô qua đời - cô quyết tâm đến xin quy y, làm công quả và tu hành.
          Trong những năm chiến tranh xảy ra rộng khắp đất nước - Phước Hưng cũng nằm trong tầm của đạn bom (1964 - 1975). Sau khi đã trụ lại động viên công nhân hoàn tất công cuộc trùng tu Thiên Đức còn dang dở; Ngài Huệ Chiếu và Tăng ni của Tổ đình buộc phải dời về tạm trú ở chùa Long Khánh - Quy Nhơn (1967). Chỉ một mình cô Ba ở lại trông nom, giữ gìn, lo việc hương đèn cho chùa.
          Cũng trong giai đoạn khó khăn, ác liệt này - cô đã cưu mang, tận tình cứu giúp mọi người - dù là Phật tử hay không Phật tử, một cách viên mãn. Ai ai cũng thương, cũng kính nể cô. Với tâm từ bi sẵn có, lòng dũng cảm chịu hy sinh cho người được an vui - người ta đã gọi tắt cho dễ nhớ chùa Thiên Đức, là chùa  “Bà Ba”; để thể hiện tình cảm chân thành, ưu ái của họ đã dành cho Nguyên Ý.
          Năm nay, cô Ba đã tròn tuổi 83, nhưng vừa qua Cô bị sự cố trượt té ảnh hưởng đến đôi chân, hiện đang ngồi trên chiếc xe lăn. Hòa Thượng và Tăng chúng không cho cô làm việc để Cô an dưỡng trong khi bệnh hoạn, nhưng với hạnh nguyện “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” và để vun trồng phước đức nên Cô chẳng hề nghỉ ngơi, luôn luôn làm tốt mọi Phật sự của Tổ đình với lòng hoan hỷ. Hơn thế nữa, khi Cô bị tai nạn, anh em và con cháu trong gia đình làm ăn đều giàu sang và có địa vị trong xã hội nhiều lần đến Chùa muốn đưa Cô về nhà để chăm sóc, phụng dưỡng, báo đáp, trong khi Cô đang bệnh tật và tuổi già. Nhưng Cô vẫn một mực từ chối: “Bây nghĩ sao mà đưa tao về nhà? Không sợ người ta chê trách hay sao? - Họ sẽ nghĩ là khi mạnh khỏe thì phục vụ cho Chùa, nhưng đến khi tai nạn, đau ốm lại bị Chùa bỏ mặc không lo nên con cháu phải đưa về nhà nuôi dưỡng… Như vậy sẽ làm tổn hại đến Phật pháp và mình cũng có tội với Tam Bảo…”.
          Nhớ về Thiên Đức, tôi luôn nhớ về mái chùa xưa ba gian lá mái, một vùng hoa trái, cây lá tĩnh mịch, trầm lắng, xinh tươi - đồng thời, nhớ nhất là những con người đã một đời gắn bó vun đắp cho ngôi già lam ngày một thêm trang nghiêm, hùng vĩ…
                
       Tháng 7.2007
MANG VIÊN LONG


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét