MANG VIÊN LONG,
Cây bút truyện ngắn của những mảnh đời hẩm hiu
& những tình yêu dang dỡ.
Bài viết: HỒ SĨ DUY
BÀI MỘT
Mang
Viên Long đã đi vào làng văn từ những năm cuối của thập niên 60 thuộc thế kỷ XX
vừa qua. Tác phẩm của ông hầu hết là truyện ngắn, được viết trong bối cảnh của
lịch sử Việt Nam từ giai đoạn kháng chiến chống Pháp, rồi gần mươi mốt năm
chiến tranh, và kể cả thời hậu chiến sau 1975, thời kỳ của bao cấp. Gần đây, “
Tuyển Tập Truyện Ngắn ” của ông, ( tập 1
) do nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành, ghi dấu một chặng đường cầm bút trong
nhiều chục năm, nội dung phần lớn, thể hiện những mảnh đời hẩm hiu cùng những
tình yêu dang dỡ…
Mang
Viên Long đã xây dựng tác phẩm của mình mang tình tự tư duy hiện thực xã hội
trong mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước. Và trong bối cảnh ấy, người đọc cũng
cảm nhận được những thân phận của nhân vật trong những mảnh đời hẩm hiu trước
thời cuộc, cùng những tình yêu sâu lắng, đậm tính nhân văn nhưng cũng chịu
nhiều bất hạnh, dang dỡ.
Ông đã gợi lên “Một thời thương yêu và một thời tưởng nhớ ” mà dẫn dắt người đọc đi
vào một mối tình đầy thơ mộng giữa Quyên và Tưởng. Họ đã yêu nhau trong khung
cảnh của quê hương Bình Định, một quê hương thuộc liên khu 5 trong thời kháng
chiến chống Pháp. Người con trai tên Tưởng , có cha chết trận Kon Tum: “ Ngày sinh con Quy vừa đầy tháng, má Tưởng
được tin chồng chết trận ở Kon Tum, má Tưởng như bị dĩ vãng vây hãm, khóc rấm rứt cả ngày trong hầm trú ẩn
”. Trong khung cảnh của một căn nhà xưa cũ, có tàn cây che khuất máy bay địch,
có những dây bầu, dây bí sản xuất tăng gia và có “chiếc bồ sơn trắng bất đầu treo ở cuối xóm, báo hiệu những trận càn quét của Tây, bất ngờ đi
xuyên qua sớm ”… Rồi những trận oanh tạc của máy bay mỗi lúc một nhiều, làm
cháy dần những căn nhà còn sót lại, làm cho con xóm trở nên vắng vẻ lạ thường !
Má Tưởng giao nhà cho bà Bốn, người u già như sinh ra để sống cho gia đình
Tưởng, lấy gia đình Tưởng làm gia đình mình. Má Tưởng đi buôn tận vùng bị chiếm
Tam Kỳ và lần cuối cùng bị kẹt ở Tourane không
về nữa. Còn Quyên, người yêu của Tưởng cũng mồ côi cả cha lẫn mẹ. Cha Quyên đi
dân công tiếp vận chiến trường về, bị sốt rét, “được đưa đi chữa bệnh, rồi bặt tăm ”! Mẹ Quyên cũng chết vì “bệnh ho ra máu”, bà đã trối lại “phải giữ lấy căn nhà và lo
cho Trung ”… Quyên và Tưởng đã yêu nhau trong hoàn cảnh cả hai đều không
còn cha mẹ, chỉ còn những căn nhà cũ của cha
mẹ họ để lại với khuôn vườn nhỏ và Trung, em trai của Quyên. Ở đó, còn
có bà Bốn, một u già trung thành của gia đình Tưởng. Tất cả họ đã sống trong
không và thời gian của chiến tranh, của tản cư, của cảnh vườn không nhà trống,
của những đợt oanh tạc với lựu đạn, với bom xăng của giặc Pháp, cùng với những
trận đổ bộ rập rình đe dọa của quân thù. Tuy vậy, tình yêu của họ rất đẹp và
cũng không kém vẻ thơ mộng: “Ánh trăng
chiếu xuống thật chậm, những ô sáng xuyên từ các kẽ hở cây lá từng ô trắng rõ
nét trên gương mặt Quyên. Cái im vắng của buổi sáng sau những lần báo động của
tản cư, chạy giặc, đọng khô trên từng
ngôi nhà, từng hàng rào, từng hàng cây, con đường …”. Quyên tìm đến với
Tưởng trong khu vườn khép kín, tĩnh lặng, ngồi yên trên võng bên Tưởng. Quyên
đã đem tiếng cười làm cho Tưởng vơi đi bao nỗi ưu phiều. Và trong một cử chỉ âu yếm thật lãng mạn: “Tưởng ngã người bên bờ vai Quyên – Chim én là mùa xuân, em cũng là
mùa xuân của anh ” ( Trang 13 sđd ). Đối với Tưởng, “mùa xuân được nhắc đến như một tên gọi đã bỏ quên từ lâu lắm ”. Tưởng nhớ đến mùa xuân như nhớ về một hoài niệm
với thời gian, và tâm tư chàng như ướm lên cả một niềm khát vọng: khát vọng hòa
bình từ những đau thương của cuộc sống mà chàng đã và đang đối diện: “từ những đêm mưa dai dẳng, lạnh cóng, không
có chăn ấm, phải chui vào bồ lúa, phải đốt lửa giữa nhà ngồi chờ sáng. Rồi mùa
xuân đến với một ngày hai bữa cơm ghé củ, ghé bắp, và mùa xuân nằm mãi trong
hầm trú ẩn với những căn nhà cháy thui vì bom xăng, mùa xuân của những hớt hãi
bay đi theo từng hồi kiểng thúc,
những lần bỏ nhà tản cư lên núi ”. (trang 13 sđd).
Trong
bối cảnh của cuộc sống như thế, đã làm cho Tưởng thấy yêu Quyên hơn, vì những
bất hạnh của nàng, vì giữa cuộc sống và nỗi chết, chia xa, có thể đến bất cứ
lúc nào, trong một buổi, một ngày ngắn ngủi… Ý tưởng ấy đã đến dần dần đêm
Quyên đến gần Tưởng hơn. Hạnh phúc đích thực của đôi tình nhân này chính là “mơ ước một ngày bình yên, không nghe tiếng kiểng, một ngày bên nhau không nhìn
thấy chiếc bồ trắng kéo lên quá đọt
tre, đã là một hạnh phúc cho cả hai như
buổi sáng hôm nay ”. (trang 14sđd ).
Tình
yêu của Tưởng và Quyên được nhen nhóm từ hoàn cảnh của một quê hương trong thời
chiến, một quê hương thật thơ mộng và thật đậm tình quê cha đất tổ, đậm tình
của nơi cắt rốn chôn nhau; một quê hương đầy ắp những kỷ niệm tuổi thơ, với
dòng sông, với bến nước, với những lần “Tưởng
trốn má, bỏ ngủ trưa, chạy ra đây
tắm, chạy ra đây cút bắt, chạy ra đây tạt nước thi với lũ thằng Thu, thằng
Quyến, thằng Minh… ” ( trang 21 sđd). Nơi quê hướng ấy, còn có căn nhà của
ba má Tưởng, có bóng cây xanh che chở cho căn nhà còn nguyên sau mấy lần bị máy bay oanh tạc. Nơi đó có khoản sân gạch
được giỡ ra để tăng gia sản xuất, để trồng đu đủ, bí, bầu và vài luống mì,
luống bắp… Nơi quê hương ấy cũng có căn nhà của cha mẹ Quyên, mà trước khi mẹ
Quyên chết bà đã trối lại là “phải giữ lấy căn nhà và lo cho Trung… ” - đứa em
trai của nàng. Những căn nhà ấy, đã từng là không gian cư ngụ êm đẹp nhất của
hai gia đình Tưởng và Quyên và cũng là nơi ấp yêu bao kỷ niệm của họ, những con
người đã được sinh ra và lớn lên từ nơi ấy.
Nhưng
rồi, chiến tranh đã xóa nhòa tất cả những hình ảnh êm đẹp và yêu thương của con
người với nhà cửa, xóm làng, với sinh hoạt thường ngày, với kỷ niệm tuổi thơ,
với khung trời thanh bình của mộng mơ ngày cũ. Ngày Tưởng bỏ học trở về cùng
với hình ảnh điêu tàn nhất của xóm: “Không
nhìn thấy bóng người sau những rặng tre, không một chuyến xe ngựa, không nghe
tiếng cối xay, tiếng giã gạo. Tưởng có cảm giác như trở về một miền đất chết xa
lạ. Dấu bom cày sâu từng vùng, vật ngã những thân cây cổ thụ chắn lối đi, mùi
tro than bốc khét trong hơi gió thốc ngược ”. (Trang 17 sđd).
Tưởng
tìm lối vào nhà, căn nhà của Tưởng bây giờ đã bị thủng nhiều lỗ, ngói văng vãi
xuống thềm, những cành cây xác xơ, lá bay nằm trên mái nhà, những hàng cây ăn
trái, những dây bầu, dây bí từng nụ hoa mới chớm đều bị cháy sém cả. Còn căn
nhà của Quyên, nằm trong xóm cũng chỉ còn “chong
trơ vơ những bức tường loang lổ, những cột nhà cháy đen”. Con xóm vắng tênh, nhưng “Tưởng vẫn ngỡ có rất nhiều tiếng khóc nuối tiếc, có rất nhiều lời than van thì thầm …” Ý
tưởng mà mẹ Quyên đã trăn trối “Con hãy giữ lấy căn nhà” lúc nầy không còn là
một mệnh lệnh bắt buộc được nữa, mà nó đã trở thành một hiện thực đau thuơng,
một âm vang não nùng trong tâm hồn của con người như Quyên, như Tưởng khi họ
đứng trước một thực trạng “những căn nhà
trống trơn, đổ nát, chênh vênh” mà họ không khỏi toát ra một cảm giác đớn
đau, rờn rợn trước những khu vườn xơ xác lá đổ, nhẫn nhục, buồn hiu ấy. Đó là
cảnh của “tiêu khổ kháng chiến” cảnh tang thương của “vườn không nhà trống”, mà
một thời dân tộc Việt Nam phải chịu đựng, phải đau xót và phải nuốt lệ trong
tâm hồn! Đó cũng là những tình huống tương phản giữa cuộc sống và tâm thức con
người như Quyên, như Tưởng phải trải qua và đau khổ chịu đựng. Họ yêu nhau với
những tình cảm đẹp, họ nhìn đời dưới một
lăng kính mộng mơ, với những kỷ niệm êm đềm thơ mộng như những lần đi câu cá
bên dòng sông, hoặc những chiều Tưởng
cùng Quyên lên gò bẩy én, họ “cùng ngồi
bên nhau dưới chân con đê để chờ
tiếng kêu của những con chim én bị mắc bẩy …” - “ Tình thương bắt đầu từ Quyên và ở lại mãi phảng phất hoài như sự luyến
nhớ nụ hôn trên môi, trên tóc…”.
Tuy
nhiên, cuộc sống thực tế trong thời kháng chiến, không phải chỉ là những kỷ
niệm êm đẹp và mộng mơ của đôi tâm hồm kẻ yêu nhau, mà con người thực tế đang
phải đương đầu với sự cơ cực vì chiến tranh , phải: “ quanh năm trốn trong hầm trú ẩn, hầm bí mật, chờ nghe tiếng máy bay,
trông chừng từng mức bồ kéo lên
…” ( trang 20 sđd ).
Trong
kháng chiến chống Pháp, cái bồ, không chỉ là dụng cụ để người nông dân đựng
thóc, lúa, mà còn có một công dụng thiết thực là để làm tín hiệu, báo động cho
nhân dân biết những khi giặc Pháp đi càn quét đốt phá xóm làng… Cuộc sống của
những người trong xóm vắng dần, nhà cửa, ruộng vườn tan hoang, phố xá cũng tiêu
điều vì máy bay oanh tạc hằng ngày. Chợ búa, trường học, ruộng đồng… ban ngày
cũng vắng vẻ, chỉ sinh hoạt vào ban đêm. Mọi người đều xa lánh phố xá hoặc nhà
ở của mình để tránh sự oanh tạc của phi cơ địch, họ đã làm lều, làm trại để tạm
trú vào những nơi hoang vắng. Câu nói: “ Khôn ở lều ở trại, dại ở phố ở nhà”,
đã được truyền tụng như nhắc nhở mọi người trong thời kháng chiến đã phải sống
như thế. Quyên cũng làm một chòi tranh dựa lưng vào hàng tre rợp bóng mát, nằm
dọc theo sông để ẩn trú, tránh máy bay địch. “Tiếng kẻng đánh thức từng hồi vang lên từ cuối xóm, chạy dài theo cánh
đồng. Tưởng chui ra khỏi căn chòi nghe ngóng tiếng máy bay, nhìn lơ lửng trên
nền trời vắng ngắt… Buổi chiều xuống
nhẹ trên cánh đồng, ánh sáng mềm mại, mát dịu. Con đê cao còn vướng chút tia
nắng nặng nề đọng lại của một buổi chiều
cuối năm ”. Hình ảnh “cái chòi” vừa là nơi để Quyên ẩn trú, tránh máy bay,
nhưng cũng là một không gian thơ mộng khi Tưởng đến tìm Quyên trong một buổi
chiều, “buổi chiều xuống nhẹ trên cánh
đồng” với “Con đê cao còn vướng chút tia nắng nặng nề đọng lại…
”. Hình ảnh ấy, thật thơ mộng, êm đềm để
cho đôi tình nhân Quyên, Tưởng gặp nhau. Không gian tình yêu của Quyên và Tưởng
là một không gian thật tương phản, một không gian vừa tĩnh, vừa động, vừa thanh
bình êm ả cũng vừa bất ổn vì những hồi kẻng báo động máy bay, hoặc
vì chiếc bồ trắng ở đầu xóm kéo lên cao, báo hiệu sắp có trận càn của
địch. Tuy nhiên, trong cái cảnh bấp bênh, bất định, cái cảnh vừa tĩnh vừa động
ấy, ta vẫn thấy có một thăng hoa của thanh bình tuyệt đối, đó là tình yêu tràn ngập trong tâm hồn
của Quyên và Tưởng.
Tình
yêu ấy đã được nhen nhuốm và vươn lên từ quê hương đổ nát vì chiến tranh, nhưng
vẫn đẹp, vẫn trầm lắng trong nét lãng mạn của kháng chiến. Đó là những khổ nhọc
và đau thương, là những ấn tượng trực tiếp về cuộc đời thực tại và đó cũng là
sự siêu thăng trong tâm linh con người.
“Quyên kéo tay Tưởng rẽ xuống ngã tư, muốn
đi len trong những hàng cây rậm. Lâu lắm, Quyên mới tỏ ý chọn lựa khi tay nàng
trong tay Tưởng. Hai người rẽ các bụi cây dày lá, mát sạch, dìu nhau từng bước
nhỏ. Trừ khu vườn hai người vẫn thường có những lần rủ nhau đi rong chơi trong
sự vắng vẻ của buổi chiều chờ cơm, chờ quảy hàng ra chợ. Cũng nhiều lúc thật rỗi,
Tưởng và chị em Quyên lên thăm cái chòi nằm sát dòng sông, dưới hàng trẻ rũ
bóng mát. Cái chòi, trở thành một nơi khó bỏ như căn nhà, vì nơi đó, Tưởng đã
sống trọn vẹn cho Quyên, cho tình yêu một đời những buổi trưa đắm đối yêu đương…
”.
Cái
khung cảnh như luôn luôn đan xen giữa sướng vui và khổ cực, giữa náo động và thanh bình, giữa những chập chờn âu lo vì
cuộc sống bất an luôn đe dọa và niềm ước mơ hạnh phúc miên viễn của tình yêu…
Với một không gian tình yêu từ bụi cây khóm lá, từ những buổi tối chập chờn trên
cao, từ những cơn gió chao chát trên cành
lá, từ những tiếng chim xao xác gọi
nhau về tổ… “Quyên cảm thấy lòng lâng lâng
niềm vui, nổi thanh thản hiếm hoi của
một ngày không nghe tiếng máy bay ”. Còn Tưởng thì nghĩ rằng “không ngờ trong nỗi khốn khổ này, anh vẫn có
quá nhiều niềm hạnh phúc, quá nhiều an ủi vì anh đã có tình yêu của Quyên”. Anh
“cúi xuống trên bàn tay Quyên, cúi xuống
trên nỗi hạnh phúc tràn đầy. Quyên bàng hoàng trong niềm khoái cảm tuyệt diệu
vì tình yêu đã đến, đến gần, không phải ở những câu nói, không bắt đầu từ lúc
nào, nó tự nhiên và âm thầm như những nụ hôn, những lần ôm ấp bên nhau trong
chiếc chòi tranh, hay trong hầm trú
ẩn sau nhà ”. Chiếc chòi tranh, chiếc hầm trú ẩn đều là những không gian
của thời chiến để cho con người tránh hiểm nguy của bom đạn, của địch truy lùng
tàn sát, nhưng chính nơi ấy cũng là không gian ấm cúng của tình yêu, của ôm ấp
và của những nụ hôn giữa Quyên và Tưởng. Cảnh sinh hoạt trong thời chiến, khi
con người phải lấy đêm làm ngày và lấy ngày làm đêm, nghĩa là ban ngày mỗi hoạt
động sinh hoạt đều như co lại, chỉ có ban đêm, mọi hoạt động thường ngày mới
được mở ra, từ chợ búa, ruộng đồng, học hành, đi lại… nhất nhất đều diễn ra vào
ban đêm. Tuy vậy, ban đêm, người ta còn phải hạn chế ánh đèn để tranh sự dò xét
của máy bay địch…
Cùng
với tinh thần cảnh giác ấy, cùng với nỗi lo toan ấy, trong sự thầm lặng với
“những bữa ăn âm thầm dưới hầm”, “ngoài vườn”, hoặc “trong bụi cây ”, đã trở
thành thói quen làm việc trong đêm của con người thời kháng chiến. Trong sự
thầm lặng đó, Tưởng có những kỷ niệm với Quyên, nhất là lúc con trăng bắt đầu
hiện: “Dưới ánh trăng, trong sự yên lặng
của cây, lá, hoa cỏ chung quanh, cả hai đã thấy gần nhau như cành với lá. Tưởng
đến ngồi trên chiếc cầu tre bắc ra giữa dòng sông trông xuống bến nước xao xuyến ánh trăng, Quyên đang giúp bà
Bốn rửa chén bát …” ( trang 27 ).
Và
một cảnh thật lãng mãn và đầy thơ mộng lại hiện ra:
-
“ Trăng đẹp không anh Tưởng? ”.
Nàng bắt đầu có những câu
nói thật tươi mát của tuổi thơ, trở về với sự bình yên bên Tưởng. Rời bến nước
trắng bạc ánh trăng phẳng lặng như dát lớp bạc mỏng, Quyên đến gần Tưởng, kéo
một cành tre sà xuống trước mặt. Bóng đêm in đậm nét trên dòng nước, dáng Quyên
và cành tre trông y như một bức tranh tàu. ( Trang 28 sđd ).
Ở đây ta thấy thấp thoáng những hình ảnh lãng mạn, tình tứ của đôi tình nhân
mang tính tiểu tư sản của một thời trong tiểu thuyết tự lực văn đoàn. Mang Viên
Long, đã có lúc làm cho người đọc không khỏi không liên tưởng đến khung cảnh và
nhân vật tiểu thuyết của Nhất Linh trong “Đôi Ban”, “Bước trắng”, hoặc của
Thạch Lam trong “Gió đầu mùa”, “Nắng trong vườn”… Mặt dù bối cảnh tình yêu của
của Tưởng và Quyên được đặt trong khung cảnh của thời kháng chiến chống Pháp
tại quê hương Bình Định, nhưng không gian tình yêu của họ lại là một không gian
cực kỳ lãng mạn, một không gian trong lành êm ả của đôi tình nhân Quyên Tưởng
như vượt thoát hẳn cái không khí chiến tranh vẫn đục, u ám và nặng nề của quê
hương thuở ấy: “Tưởng nhớ những kỷ niệm
thời còn nhỏ. Thật xưa và thật đẹp. Như chiếc lọ cắm hoa cổ, có hoa đẹp như có
tiếng cười ”. Với Tưởng, tiếng
cười là tuyệt diệu nhất, vì nó có thể xoa diệu và giải quyết được tất cả. Tiếng
cười của Quyên đã đưa Tưởng trở về kỷ niệm đầu tiên Tưởng gặp nàng, dẫn nàng
lên gò bẩy én. Chính tiếng cười và những con chim én đã buộc chặt cả những gặp
gỡ sau này của hai người. ( Trang 28 sđd ). Và từ “cái thuở ban đầu lưu luyến
ấy” (1) nên đã đưa họ đến một khung cảnh bên nhau thật tuyệt với trên một thảm
cỏ xanh. “Bãi cỏ có màu xanh đậm, đều.
Cảm giác truyền từ gót chân, vẻ tươi mát của thảm cỏ sạch, dày, được quạt bằng
hơi gió, khiến Tưởng thèm nằm. Đi từ đầu bãi đến cuối bãi, Tưởng trở lại chỗ
Quyên ngồi, thả người nằm xuống và bắt đầu nhận ra mùi hoa lý của khu vườn bỏ
hoang của gia đình người dượng, quyện dìu dặt trong gió. Gió vẫn thổi miệt mài
trên bãi cỏ… Tưởng nhìn lên những cụm
mây trắng xóa, trắng đục, bồng bềnh trên nền trời xanh… ” ( trang 28 – 29
sđd ).
Với
bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, với thảm cỏ mịn màng, với người yêu bên cạnh;
Tình yêu giữa Tưởng và Quyên, tưởng chừng như đang thoát ly thực tại, một thực
tại không phải là những nụ hôn, hoặc cái nhìn âu yếm của đôi tình nhân, nhưng
họ muốn thoát ly cái thực tại, của thực
tại ấy, để cho tình yêu thăng hoa vào một thế giới thần tiên mộng mơ miên viễn
nào đó…
Tuy
nhiên, lại một thực tại trước mắt đã níu kéo họ về trong cái nhìn đau khổ của
cuộc đời: “Cảnh tượng hiện ra trước mắt,
đơn giản và ghê rợn”. Cái cảnh “ông
Hương Nhâm đang quì trên tảng đá ong” với thân hình “già sọm gầy gò”, “chao
đi chực ngã”. Cái cảnh của “người con
trai nằm dài, úp mặt xuống đất bên
người vợ cũng bị trói và hai đứa con ”. Cái cảnh “ Ông Năm Lé cầm roi nhịp nhịp” điều khiển toán nông dân lục lạo… Rồi
tiếng ông Nam Lé quát tháo… Rồi tiếng khóc sụt sùi, “tiếng khóc đã quá khàn“
của ông Hương Nhâm, trộn lẫn tiếng ồn của đám người chung quanh… Tiếp đến là
hình ảnh của ông Hương Nhâm: “Chợt lảo
đảo, ngã lăn xuống khỏi tảng đá ong,
nằm có quắp… ” tiếng người con Dâu thét lên, tiếng ngọn roi của Năm Lé quất
xuống, tiếng ông Hương khóc khàn hẳn…”
Bỗng
một tiếng kêu thương tâm, từ đám đông
bên ngoài:
-
“ Trời ơi ! Tội nghiệp ! ” Rồi tiếp theo
là mệnh lệnh của Năm Lé vang lên: - “Ai nói tội nghiệp đó? Anh em ra bắt đêm vô
xử tội mau, lẹ lên!”... ( trang 30 – 31 sđd ).
Có
thể nói từ đầu đến cuối câu truyện “Một thời…” Mang Viên Long đã dẫn dắt người
đọc vào một tình yêu thật đẹp giữa Quyên và Tưởng, mà ông gọi là “Một thời để yêu ”, nhưng tình yêu ấy, đã
trải qua một chặng hành trình dài, nối tiếp giữa những tương phản của tối và
sáng, giữa thực và mộng, giữa hạnh phúc và đau thương, giữa êm đềm lãng mạn và
kể cả giữa những xót xa ray rứt của thân phận nhân vật trong truyện. Hình ảnh
đấu tố ông Hương Nhâm ở xóm Thạch Tĩnh, chính nơi quê hương của tác giả, là một
hình ảnh có thật, không một chút hư cấu. Và đó cũng là một cảnh tượng “ghê rợn”
hiện ra trước mắt như một màng đen hãi hùng làm xóa đi vầng sáng của một tình
yêu lãng mạn giữa Quyên và Tưởng. Tình yêu của họ đã đi vào dang dỡ, chia xa,
khi Tưởng ra đi tập kết miền Bắc, bỏ lại Quyên nơi quê hương cũ đầy ngổn ngang
và đổ vỡ… Khi mà hình ảnh của bà Bốn, người u già đảm đang, trung hậu và nghĩa
tình với gia đình Tưởng, một chứng nhân trước bao hoàn cảnh đổi thay của gia
đình và thời cuộc, một nguồn an ủi cho cuộc đời của Tưởng và Quyên cũng đã không
còn nữa! Cuộc sống đạm bạc, giản đơn với những bữa cơm “Bốn cái chén, bốn đôi đũa, một đĩa rau dền, một tô mắm cua, một nồi
canh rau má, một rổ khoai mì, một
xoang cơm ghé bắp… ”. Cuộc sống như thế, tưởng chừng như đã yên phận cho
Quyên khi nàng không muốn biết thêm bất cứ một điều gì nữa, vì nó sẽ làm cho
nàng lo lắng, khổ tâm. Những ước muốn ấy cũng bỗng dưng tan biến trong tiếng
kêu thương: “Trời ơi tội nghiệp!” … Tội nghiệp không chỉ cho một thân hình “già
sọm”, gầy gò, chao đi, chao lại khi đang bì quì trên tẳng đá ong rồi chợt chao
đảo, ngã lăn, “nằm co quắp”… mà “tội
nghiệp” còn là tiếng kêu cho số phận tình yêu dang dở của Quyên và Tưởng !
“Một thời để yêu… ” giữa Quyên và Tưởng
nếu càng đẹp bao nhiêu, thì “Một thời để
nhớ… ” giữa họ cũng không kém xót xa đau đớn. Và Tưởng đã ra đi, và
Quyên vẫn sống trong cảnh cô đơn, lạnh
lùng: “Tất cả như còn phảng phất những
vui buồn từ một dĩ vãng mười mấy năm trở lại. Mười mấy năm xa Tưởng, xa bà Bốn,
xa ngôi nhà của mẹ, xa ngôi nhà cổ của Tưởng, xa cái chòi”. ( trang 32 sđd ) Mang Viên Long rõ ràng đã nêu lên
một bức tranh hiện thực, hiện thực từ nội tâm cho đến ngoại cảnh của con người
của một thời… Nhưng ta vẫn thấy tác giả không hề
phê phán hiện thực ấy bao giờ!
HỒ SĨ DUY

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét