MANG VIÊN LONG,
Cây bút truyện ngắn của những mảnh đời hẩm hiu
& những tình yêu dang dỡ.
Bài viết: HỒ SĨ DUY
BÀI II
Rời xa “Một Thời Để Yêu
Và Một Thời Tưởng Nhớ ” người đọc còn theo bước chân của Mang Viên Long để đi vào những mảnh đời hẩm hiu
và những tình yêu dang dở cả trong thời chống Mỹ và thời hậu chiến, bao cấp.
Những
mảnh đời, những tình yêu ở đây cũng lắm đau thương, lắm dập vùi cho số phận con
người trước thời cuộc và trong khúc ngoặt của lịch sử dân tộc, có nhiều ngậm
ngùi xót xa, có nhiều dở dang bất trắc…
Đó
là những cuộc đời tình ái của Viên và Mộng, trong “Dáng Mộng”, của Toàn và Thược trong “Nếu Có Một Ngày Nào”, của Khang và Kim Khánh trong “Căn Lều Của Người Anh Họ ”, của Thương
và Luân trong “ Chim Bay Về Đâu”, của
Khánh và Kha trong “Một Thời Để Thương
Yêu”, và cả Thảo và Tuyên trong “Chị
Sáu Cô Đơn”… Tất cả những nhân vật trong các truyện ngắn kể trên, đều đã
tạo nên những khuôn mặt trong phạm trù của tình yêu dang dở. “Dáng Mông”, một truyện ngắn nói về tình
yêu của Viên và Mộng: Thầy giáo hiền lành, dạy học ở một quận hẻo lánh, “Cái quận được bao bọc bỡi núi, tách xa quốc
lộ, con đường độc nhất đến đó phải qua đèo Thị lởm chởm những lỗ mìn được đào
gỡ lên cho mỗi buổi sáng xe cộ di chuyển ” ( trang 69 sđd ). Nơi đó, chiến
tranh, chết chóc và gian nguy luôn luôn rình rập cho số phận con người. Nơi đó,
về đêm cũng thường xảy ra những vụ bắt cóc, khủng bố… làm đe dọa đến tính mệnh
con người. Đêm đêm, Viên cũng như một số người ở trong vùng “xôi đậu”, mất an
ninh ấy thường đi ngủ nhờ vào các nhà quen ở khu vực khác, nơi gần quận, gần
chi khu quân sự, nên tương đối có an ninh hơn. Tuy vậy, vẫn hằng đêm xảy ra
đụng độ giữa lực lượng bên này và bên kia. Súng nổ, hỏa châu, pháo kích, ám
sát, bom mìn, lựu đạn. Viên yêu Mộng, cô y tá nhân hậu, đẹp thùy mị, dịu dàng.
Mối tình Viên Mộng, đẹp, chưa đi vào hôn nhân. Rồi một hôm, Mộng đưa Viên về
nhà mình ở quê để ăn giỗ. Ăn cổ xong, Mộng theo người chị ra đám bắp, bẻ bắp
tươi về nướng đãi Viên. Khi “Mộng vừa cột
những trái bắp chọn được thành chùm, bước tới một bước thì có tiếng nổ. Tiếng
nổ ngay dưới bàn chân Mộng. Rồi tiếng người chị mất hồn, réo gọi thất thanh …” Rồi tiếng thằng nhỏ giữ bò
chạy đưa tin.
-
“ Bác Hai ơi, bác Hai… Chị Mộng bị mắc
mìn, mắc mìn nổ chết ngoài soi bắp
”. ( trang 90 – 91 sđd ).
Thế
là kết liễu cuộc đời mộng và cuộc tình Viên Mộng bị dở dang.
Câu
chuyện tình Viên Mộng được đặt trong bối cảnh của thời chiến, một thời chiến ác
liệt đã diễn ra ở miền Nam Việt Nam trong giai đoạn cao điểm từ 1968 đến 1975.
Sau biến cố năm 1968, quê hương miền Nam Việt Nam đã bị xé nát ra thành từng
mảnh. Một cuộc chiến tranh không còn phân biệt giới hạn của chiến tuyến, chiến
tranh đã len lỏi khắp mọi nơi, nhất là những vùng nông thôn thường biến thành
những vùng “xôi đậu”, những vùng “da beo”, những vùng là ban ngày thuộc nên ni,
ban đêm thuộc bên kia… Người dân luôn sống trong tình trạng bất an, trận chiến thường xảy ra bất cứ lúc
nào. Những mìn, lựu đạn, mã tấu, lưỡi lê, pháo kích, tấn công… cùng với những
thiết quân luật, giờ giới nghiêm, hỏa châu, kiểng báo động… đã là những hiện
tượng đau thương “xảy ra như cơm bữa ” trong cuộc sống người dân. Nhưng rồi
trong cuộc sống ấy, tình yêu vẫn nảy nở, vẫn xuyên suốt mọi hoàn cảnh, mọi mảnh
đời tan thương để tồn tại trong mọi nơi, mọi lúc, theo nhịp đập của trái tim và
hơi thở của con người. Tình yêu là đề tài muôn thuở của tiểu thuyết và thi ca
và kể cả lĩnh vực văn học nghệ thuật nói chung. Nó cũng chính là bản chất cuộc
sống của muôn người, muôn vật. Tình yêu, còn là một động lực uyên nguyên, xô
đẩy bản thể tĩnh lặng để con người tìm đến với nhau như “chim liền cánh, cây
liền cành” như một khát vọng truyền kiếp của con người, thông qua nguyện ước
của người chinh phụ trong chính phụ ngâm:
“ Thiếp xin nguyện kiếp sau này
Như chim liền cánh, như cây liền cành
”
Còn
ở Tây phương, Musset, nhà thơ lãng mạn của Pháp vào thế kỷ 19, cũng đã cho
rằng:
“La Vieestun Sommeil, l/amouren
est le rêve
Et vous auref vécu, si vous avef
aimé.”
( Cuộc đời là một giấc ngủ, tình yêu
là mộng trên gối,
Và bạn chỉ sống, nếu bạn đã từng yêu
).
Và
chính vì “Et vous auref vécu, si vous
avef aimé.” ( Bạn chỉ sống, nếu bạn đã yêu ) nên tình yêu đã trở thành
thiết thân cho cuộc sống. Do vậy, những khuôn mặt tình yêu trong tác phẩm của
Mang Viên Long được viền đậm trong nét sống thực của cuộc đời, đã được xuất
thân từ hoàn cảnh chiến trang tang tóc của bom mìn, súng đạn, dây thép gai, của
những đêm pháo kích, bắt cóc, ám sát, tấn công, hỏa châu rực sáng, máy bay rình
rập, những đêm trong xóm làng mất an ninh, sự chết chóc luôn rình rập, đe dọa
con người. Tình yêu giữa Viên và Mộng, trong “Dáng Mộng” là một tình yêu sống
thực trong chiến tranh. Trong chiến tranh, thầy giáo Viên đi dạy ở một vùng
huyện hẻo lánh, đã phải sống “xùng xình” để tìm chút an thân, nhưng vẫn không
an thân được vì phải đối diện với súng nổ, pháo kích qua những cuộc đụng độ
từng đêm giữa bên này và bên kia. Còn ban ngày thì xảy ra những cảnh mìn nổ
trên quốc lộ làm tan xác xe đò, mìn nổ trên đường sắt làm lật đổ đoàn tàu, làm
vỡ đầu máy, làm chết lái tàu… và mìn còn nổ ngay trong đám bắp làm tan xác
Mộng, một cô y tá hiền lành vô tội, là người vợ sắp cưới của thầy giáo Viên.
Câu chuyện tình giữa Viên và Mộng có đẹp chăng là ở chỗ bi thảm. Bi thảm như
cái chết của Mộng, bi thảm như cuộc đời “xùng xình” của thầy giáo Viên, sống lẻ
loi như con ngựa lạc bầy, như con chim lạc hướng. Ông đang sống mà không tự
thấy mình được sống. Và cũng bi thảm như cảnh sống của người dân trong các xóm
làng “chỉ còn lại người già và trẻ con”, vì lớp thanh niên đã bị lôi vào cuộc
chiến để cầm súng cho bên này hoặc bên
kia… “ Xóm vắng bóng đàn ông, chỉ thấy
toàn bà già, con nít. Sự sống vì thế cũng chậm chạp, già nua như những bà già
ngồi trước hiên xoáy trầu – xóm làng
vì thế cũng uể oải, buồn tênh ”. (Dáng Mộng, trang 86 ).
Cái
chết tất tưởi của Mộng vừa hằng đậm nét bi thảm của một tình yêu dang dở và
cũng là một bản cáo trạng, dù không là bản cáo trạng cá nhân, đêm đêm thường
xảy ra trong những vùng “xôi đậu”, khi người của phe này đến ám sát người của
phe kia, giết chết một mạng người, rồi cắm lệnh đó cho một bản cáo trạng, để
kết án kẻ thù… Cái chết bi thảm của Mộng, chính là bản cáo trạng về tội ác
chiến tranh mà Mang Viên Long muốn nói đến. Ở đây, “Dáng Mộng”, ta không thấy tác giả đi sâu vào các chi tiết diễn tả
tình yêu của nhân vật như Tưởng và Quyên trong “Một Thời Để
Yêu ”… Ở đây ta thấy tác giả trình bày câu chuyện tình của Viên và
Mộng gần như một duyên cớ để nói nhiều hơn về một bối cảnh. Đó là bối cảnh của
thời chiến, của thân phận con người, mà có lẽ những ai đã từng sống trong giai
đoạn chiến tranh ác liệt vào những năm đầu của thập niên 70 ở Nam Việt Nam
thì mới cảm nhận đầy đủ và sâu sắc về những ý nghĩa bi thống của nó. Cũng những
năm này, dòng sinh hoạt văn học nghệ thuật ở các thành thị miền Nam đã
phát khởi một phong trào phản chiến. Một phong trào chống chiến tranh từ những
cuộc xuống đường của sinh viên học sinh, đến những tuyên ngôn của giới trí
thức, văn nghệ sĩ… nói lên sự phản kháng của chiến tranh đã tàn phá quê hương,
giết hại đồng bào và phân hóa tâm hồn người dân Việt bằng những chủ thuyết
ngoại lai. Cây bút Mang Viên Long trong giai đoạn này, cũng đã thể hiện ý thức
phản chiến ấy trong “Dáng Mộng”,
trong “Dì Lucia”, trong “Bên Kia Thành Phố”, và trong “ Bên Trời Mơ Ước ”… Xuyên qua những
truyện ngắn ấy, người đọc hôm nay trở về một quá khứ, một thời quá khứ của màu
đen, của đau thương, chết chóc, bất an và vô định, một thời mà cuộc sống của
con người bị đe dọa nhiều mặt, một thời đã dập vùi thân phận của con người vào
phi lý, bất công và buồn tủi… Quyền sống của con người đã bị chà đạp một cách
cùng cực, công lý đã bị thay thế bằng họng súng, mã tấu và dao găm, cùng sự áp
đặt của chủ nghĩa ngoại lai. Người dân Việt đã sống trong cảnh “một cổ, đôi ba tròng”, làng quê bị cô lập, bị tả tơi vì bom đạn, ruộng đồng bỏ
hoang, lũy tre xơ xác, nhà cửa tiêu điều, sông rạch loang máu…
Có
những vùng mà người dân phải sống cùng một lúc với áp lực của hai chế độ khác
nhau: ban ngày, thuộc về bên này, ban đêm, thuộc về bên kia. Có những cái chết
oan uổng của con người vô tôi như lão Cộ: “Lão
Cộ đi tháo nước một mình. Lính lục soát đào được hầm chứa súng đạn, lão Cộ tò
mò tới coi cho biết. Một ngày sau, lúc lão vừa thổi tắt đèn định đi ngủ, thì có
tiếng gọi cửa. Lão nằm im thin thít dưới gầm giường… Rồi lão bị bắt trói cắt ké
– Bản án viết tay vội treo ở đầu ngõ, đọc cho một ít người nghe. Ai nấy đều cúi
gằm mặt không dám nhìn lúc lão Cộ bị cột vào một thân cây. Cái đêm trông thấy lão Cộ chết, lão Xịa thấy
bàng hoàng cho cuộc như cá trong chậu…
” ( trang 364 sđd ). Rõ ràng là một cái chết oan uổng cho người dân vô tội. Cái
phi lý của chiến tranh, thù hận, sắt máu cứ luôn luôn áp đặt vào cuộc sống của
con người. Con người như lão Cộ, có tội gì đâu? mà tại sao lại có những con
người kia đã nhân danh điều gì để sát hại? Bản án ở đây là gì? phải chăng đó
chỉ là một trò phi nhân?! Lại có những thân phận của những con người, vì chiến
tranh đã cướp đi một phần thân thể, họ trở về làng cũ, sống cuộc đời tàn phế,
đầy mặc cảm tự ti, nhưng chưa yên thân, vì còn sợ đêm đêm có đối phương xuất
hiện, sẽ nổi lên hận thù, làm vong mạng, tan thây! Đó là hình ảnh của “Khải khập khiểng từng bước cong cớn, bước
xuống sân, từng bước âm thầm ra ngõ, từng bước lặn lội qua mấy con hẻm nhầy nhụa, trơn trợt ra đường…” (
trang 295 sđd ).
Chiến
tranh đã tạo ra nhiều bi đát trong cuộc sống, đã choàng phủ lên cuộc sống con
người những số phận hẩm hiu. Cái bi đát nhất ở đây của Khải chính là ý thức
chối bỏ thân phận làm lính, vì anh thấy rằng đời lính: “sống từng giờ, nay còn, mai mất. Có đi lính, có đánh nhau, có gần kề
cõi chết mới biết hết được lòng dạ
những đứa làm lính như anh… Lý do dễ hiểu là anh ghét lính, dù anh rất thương đời lính… ” ( trang 301 – 302 sđd
).
Khải
ghét lính vì anh muốn chối bỏ thân phận của kẻ cầm súng trong cảnh “cốt nhục tương tàn”, nhưng anh vẫn
thương đời lính, vì cuộc đời ấy quá gian nguy, luôn gần kề cõi chết. Mệnh sống
của lính được đo bằng từng giờ, từng ngày nay còn, mai mất. Ý thức phản chiến
ấy đã được Mang Viên Long nói lên từ chính nhân vật trong truyện là những người
trong cuộc như Khải, như nhân vật chính trong “Dì Lucia”. “Tôi chợt nghĩ là
từ khi vào lính … tôi chưa có được một dịp nào để nhìn một chút ánh nắng êm đềm
như vậy, mà mơ tưởng tới một ước mơ nhỏ nhắn tầm thường cho đời sống mình. Tôi bận rộn, tôi ngơ ngác, tôi bồn chồn…
” ( trang 328 sđd ).
Đời
sống của người lính đã bị cuốn hút vào sự bận rộn của chiến tranh, làm cho
chính họ phải ngơ ngác, phải bồn chồn vì mình không có được cuộc sống đích thực
cho chính mình. Đó cũng là khát vọng tự do của con người, khi còn người đã bị
đày vào một hoàn cảnh mất tự do như người lính. Khi mà không khí chiến tranh
lan tràn khắp quê hương, khi mà sự chết chóc, nghèo đói và bất hạnh luôn diễn
ra: “Tôi nhìn thấy bất cứ ngôi nhà nào
của ấp này cũng có một chiếc bàn thờ, nhang đèn nghi ngút. Dân cư thưa thớt,
từng ngôi nhà rải rác, vườn tược hoang vắng, tôi chỉ gặp toàn đàn bà, con nít
và ông già. Tất cả họ đều có vẽ sợ hãi, nghèo khó và tội nghiệp… ” (trang
332 sđd). Đó là bức tranh ảm đạm, buồn hiu của một làng quê trong thời chiến,
và đó cũng là một cuộc sống đau lòng cho những ai đang sống và những ai đang
nhìn vào cuộc sống như người lính kia, chẳng hạn. Từ thực tại đau thương ấy,
càng nảy sinh ý thức chán ghét chiến tranh và nguyền rủa chiến tranh: “Hình ảnh kham khổ của họ, đã cho tôi nhìn
thấy rõ chiến tranh, thù hận, là một
điều đáng ghê tởm và đáng nguyền rủa nhất ”. (trang 332sđd). Trước thực trạng bi thiết ấy,
Mang Viên Long càng đẩy cao ý thức phản kháng cuộc chiến vào sự chất vấn đến
những kẻ chủ chiến: “Có bao giờ những
người chủ chiến nhìn thấy được những nét mặt, những đời sống cùng khổ này không
? ” ( trang 332 ).
Câu
hỏi được đặt ra, nhưng không có câu trả lời của kẻ chủ chiến ! Đó là cái nhìn bế tắt trước thời cuộc! Vì vậy, khát
vọng vẫn còn là khát vọng: “ Tôi chỉ biết
cùng họ ước mong rằng thù hận và máu lửa, thôi không còn kéo dài, tiếp diễn trên quê hương này nữa ”.
( trang 332 ) Và ở đây ta lại thấy có một ước vọng thật nhỏ nhoi, thật đơn sơ
như một niềm mơ ước hạnh phúc được lóe sáng: “Sau cùng là ước mơ của tôi về một ngày hòa bình được trở về dạy
học, được vun xới một mảnh vườn, được
viết những điều muốn viết… ” ( trang 333 sđd ). Ước mơ trên đây của người
lính (nhân vật trong truyện) hay cũng chính là ước mơ của tác giả (MVL), nguyên
ông là một nhà giáo, đã bị rời mái trường vì lệnh tổng động viên và đã trờ
thành người chiến binh khiên cưỡng trong cuộc chiến. Cuộc chiến kéo dài trong
20 năm đã để lại cho dân tộc ta biết bao nhiêu đau khổ, chết chóc và đổ nát, do
hận thù của lòng người tạo nên. Cuộc
chiến còn để lại những vết thương trên thân thể của Khải, trong “Bên Trời Mơ
Ước”, của Mân trong “ Mùa Xuân Ở Trên Aao ”… của những nỗi ám ảnh đau thương mãi dằn vặt trong tâm hồn
của những thương binh như Khải, như Mân
khi họ nhìn vào thân thể mình vẫn còn những
thương tích do chiến tranh để lại: “Khải
nhìn chậm chạp sững sờ lên những vết thương đang khô dần, lành lặn ở hai cánh
tay. Một cánh tay bị bể xương, trộn lẫn với những mãnh đạn, sưng lên ở khuỷu,
phần thịt hai bên khô héo lại nhỏ xíu” (trang 305). Rồi
những ý tưởng ray rứt về thân phận: “ Khải
chua xót nghĩ rằng thịt thương anh đâu phải là nơi chứa những mảnh đạn, những thù hận ”. Rồi xót xa nghĩ
đến đứa con của anh sắp ra đời: “Nó sẽ ra
đời bên người cha tàn phế như Khải, để lúc lớn lên sẽ hỏi cha nó về cái chân
què, cái tay cụt, cái vết sẹo dài ở ngực, người cha biết làm cách nào để nói với con, trả lại cho con những điều đó
rành rọt đây ? ” (trang 305). Đó là những mặc cảm đau xót về thân phận là
mặc cảm tự ti đeo đẳng suốt đời Khải… Cũng như Mân, một phần chân trái của anh
đã bị mất sau trận Dakto năm nào “có lẽ
đã tan thành cát bụi ở bìa rừng, hóc núi nào rồi, nhưng nỗi buồn tủi cứ vẫn còn đeo đẳng suốt đời anh”
( trang 315 sđd ).
Mang
Viên Long như đã thẩm thụ được tất cả niềm đau sâu lắng của họ, tất cả những
phân vân, đau xót và ngậm ngùi của một thân phận hoài nghi cả tương lai, một
tương lai hy vọng trong tuyệt vọng: “Ngày
mai có rực rỡ chăng trong căn nhà hạnh phúc? Tôi đón đợi hy vọng và hạnh phúc,
nhưng sao khi hạnh phúc và hy vọng tới, tôi lại ngại ngùng e sợ ?. Phải, tôi
yêu lắm, tôi không thể cầm giữ được gì chắc chắn lâu dài cho đời tôi đâu. Làm sao tôi đứng vững được với một cái chân
gỗ mới gắn vào ? Còn những khúc ruột
chằm vá kia, tới khi nào mới đứt bung ra, chảy máu? ” (trang 344 sđd). Đó là nét bi đát của thân
phận, bi đát vì “đón đợi hy vọng và hạnh
phúc, nhưng khi hạnh phúc và hy vọng tới
thì lại ngại ngùng và e sợ ”… Ngòi bút của Mang Viên Long đã xoáy vào một
thực trạng tâm lý của nhân vật, chạm phải nổi đau thầm lặng và sâu xa của một
con người, con người của mất mát, dở dang, con người vừa hy vọng, vừa tuyệt
vọng vì trong cái nhìn về chính thân phận và ý thức được thân phận: “tôi chưa giữ vững được cuộc sống tôi, thì
nói chi tới chuyện đem hạnh phúc, hy vọng cho người khác. Tôi thấy được rằng
tôi là một cánh bèo, lêu bêu và vô ích giữa dòng đời lạnh băng như dòng sông trôi xuôi lặng lẽ ”. ( trang 334 sđd )
“Cánh bèo vô địch, lêu bêu giữa dòng đời
lạnh băng”… hay cũng chính là những
mảnh đời hẩm hiu, khập khiễng, què quặt… kéo lê
sau cái chân què của những kẻ tàn phế do cuộc chiến gây nên. Bên cạnh
những nỗi bất hạnh ấy Mang Viên Long còn cho ta nhìn tận mặt những cảnh đời bất
hạnh khác, như là sản phẩm của một thời từ chống Pháp, chống Mỹ, thời hậu chiến
và cả đến bao cấp nữa. Đó là hình ảnh cuộc đời của lão giáo Truyện (Chờ Bão ),
của lão Xịa ( Bên Kia Thành Phố ), của lão Tư Nhạ ( Mùa Thu Trống Trải ), của
Thương ( Chim Bay Về Đâu ), của vợ chồng Mân, của ông Năm Bụng, của Dì Dượng
Sáu ( Mùa Xuân Ở Trên Cao ), của Vĩnh ( Những Kẻ Tạm Trú ), của Khánh và Kha (
Một Thời Để Thương Yêu ), của ông Nhương và lão Nhện ( Phố Nhỏ Những Ngày Mưa
), của ông Cổn, ông Thạch ( Bên Tách Trà Khuya )
v.v.. và v.v..
(còn tiếp)
HỒ SĨ DUY

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét