“ MƠ THẤY NGỦ TRÊN ĐÈO RÙ RÌ “
TÌM
THẤY GIẤC MƠ CỦA CHÍNH MÌNH
Bài
viết MANG VIÊN LONG
MƠ
THẤY NGỦ TRÊN ĐÈO RU RÌ là một trong 102 bài thơ của Tập Thơ “Ngựa Hồng” mà Nhà thơ Cao Thoại Châu vừa
cho ấn hành trong quý 3-2009. Đây là Tập Thơ thứ 3 của Cao Thoại Châu (Bản Thảo Một Đời -1992/ Rạng Đông Một Ngày Vô Định - 2006) -
nhưng “Ngựa Hồng” đã để lại trong tôi
nhiều ấn tượng rõ nét hơn về Thơ Cao Thoại Châu! Đã đọc Anh từ thập niên 60 -
trên các tuần báo/tap chí Văn Học ở Saigon - nhất là từ bài “Mời Em Uống Rượu”
mà hồi ấy đang lang bạt ở
Tôi gắng tự giải
thích: Nhà Thơ chỉ “mơ thấy ngủ trên đèo Rù Rì” - có thể Nhà Thơ chưa được ngủ
hay cũng có thể - đã có lần ngủ ở ngọn đêọ đưa vào thành phố biển xinh đẹp -
nay đã xa rồi một thời tuổi trẻ phiêu bồng chợt sống dậy trong tiềm thức, trong
một giấc mơ - không phải vô tình mà là cả một quá trình ẩn khuất sâu kín tận
trong tâm hồn anh…Còn tôi? Tôi đã vài ba lần ngủ ở ngọn đèo này trong mấy tháng
trôi dạt về Đồng Đế như một định số khắc nghiệt của chiến tranh! Chắc vì thế,
tôi yêu “giấc ngủ trên đèo Rù Rì” của Tác giả bởi có sự đồng cảm nhiều hơn - và
muốn có đôi điều về bài thơ này để từ đó bộc bạch nỗi lòng mình?
“ Nửa đêm nằm ngủ
trên đèo
Ta mơ thấy tiếng
rất nhiều ngựa con
Gối đầu trên đá
chon von
Ta đang nằm giữa
sa trường ngàn năm …”
Đèo Rù Rì không cao -
nhưng vào khoảng thập niên đầu thế kỷ 19 - lại là một nơi hiểm trở của cánh rừng già chắn ngang
. Nơi đây là cửa ngõ tiến vào vùng dân cư duyên hải Khánh Hòa - tiếp cận với
biển. Có thể ra Bắc - vào Nam
bằng thuyền buồm dễ dàng. Muốn vào thành Khánh Hòa - Nha Trang- phải vượt qua
con đèo huyết mạch này! Cũng chính tại đây - những trận giao tranh đẫm máu đã
xảy ra cùng với bao gian khổ của người lính thú thời ấy phải lặn lội trèo đèo
vượt suối.Về sau, con đường huyết mạch này đã hai lần được mở mang, khai quang
- để có thể vào thành Nha trang - qua
đèo bằng hai ngã cũ và mới. Thời của chúng tôi - qua đèo không có gì khó khăn -
nhưng sự u tịch mênh mang ngàn năm của rừng núi, sự lạc lõng lạnh giá của lòng
mình - đã làm cho thân phận luôn nặng nề
- và con đèo luôn “rù rì” tiếng than thở buồn thảm của gió, của ngàn
cây, của chim muông, và của chốn “sa
trường ngàn năm” xa xưa vọng lại!…Nhà thơ đã “mơ thấy tiếng rất nhiều ngựa con”
- là đã mơ thấy dòng phiêu linh sinh tồn còn đang lạc lõng tiếp diễn cho dầu
cuộc bể dâu đã đi qua! Chuyện mơ thấy “ rất nhiều ngựa con” cho người đọc hiểu
được/chia sẻ cùng tác giả nỗi niềm u uẩn khó nói cùng ánh hy vọng luôn luôn le lói âm ỉ trong tận cùng
tâm hồn Nhà Thơ về thãm trạng vô vàn đau xót của mọi cuộc chiến!Hình ảnh “ bầy ngựa con” vừa
hồn nhiên, vừa tội nghiệp đã ám ảnh tôi thật sâu đậm khó nguôi! Và tiếp nữa,
hình ảnh “ Gối đầu lên đá chon von/Ta đang nằm giữa sa trường ngàn năm” - Gối
đầu lên đá - nằm ngay giữa chốn binh đao thưở nào mà hiu hắt đi vào giấc ngủ
càng khiến tôi thêm bàng hoàng. Nỗi cô độc bi thiết ấy thêm một lần nữa làm
sáng tỏ cảnh hoang mang của bầy ngựa con đang lạc lõng gọi nhau trên đèo!
“ Giáo gươm cờ
xí quá quan
Bao nhiêu
binh tướng đã nằm lại đây
Nơi ta nằm
ngủ đêm nay
Phế hưng mấy
lớp xanh đầy cỏ non ..”
Hình ảnh đối lập
với sự cô độc của thân phận là “giáo gươm/ cờ xí/ binh tướng” - nhưng liền ngay
đó nấm-mộ-phế-hưng đã bày ra “ mấy lớp xanh đầy cỏ non”! Cuộc phế hưng là vậy -
là rốt cục chỉ là một nấm mồ xanh im lìm cùng tháng năm thương đau vô nghĩa
–nhưng sao vẫn cứ “Giáo gươm cờ xí quá quan “ hoài? Vẫn cứ thù hận/ chiến
tranh/giành giựt/chém giết nhau cho đến tận hôm nay? “ Bao nhiêu binh tướng đã
nằm lại đây” - tại ngon đèo này, tại cửa ngõ dẫn vào thành phố duyên hải xinh
đẹp kia - từ thuở xa xưa cho đến năm 1975 - có biết bao “binh tướng” đã nằm
xuống trong cuộc phân tranh? Có lẽ, dĩ vãng đang dần lùi xa - tác già được nằm
ngủ yên lành một đêm và chợt nghe “ tiếng rất nhiều ngựa con”
quanh đèo để ngậm ngùi nhớ
lại “chuyện xưa”…Thời chúng tôi ngủ quanh đèo Rù Rì-không hề nghe thấy có
tiếng ngựa con - mà chỉ nghe thấy tiếng
máy bay/tiếng đại bác/tiếng ầm ầm xích sắt của xe tăng và vàng vọt ánh hỏa châu
hiu hắt! Vậy đó - mỗi thởi - chúng ta “ nghe thấy “ tuy có khác nhau – nhưng -
vẫn là những âm thanh đau buồn/những hình ảnh nao lòng bi thiết của cuộc chiến
kéo dài…
“Bao nhiêu mộng
ước vuông tròn
Thủy chung mà
hóa nên hòn Vọng Phu
Ta nằm nghe
giữa cơn mơ
Tiếng lòng
của những ngươi xưa vọng về..”
Đứng trên đèo Rù Rì
hướng nhìn về phía biển xa - hòn Vọng Phu im lặng giữa bạt ngàn sóng gió – là
biểu tượng còn lại sau mấy độ binh đao! Người thiếu phụ đứng ôm con trông chờ
ngày trờ lại của người yêu lính thú đã hoài hoài vô vọng - bởi vì “túy ngọa sa
trường quân mạc tiếu/ Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi ?” ( Vương Hàn ) - người
đi không về là chuyện bi thương của chiến chinh-nhưng “ bao nhiêu mộng ước
vuông tròn” còn lại cho người thiếu phụ còn bi thương gấp ngàn lần! Và trong
“cơn mơ” (chứ không phải giấc mơ) Nhà
Thơ đã có được niềm cảm thấu “tiếng lòng của người xưa vọng về” từ cõi hư vô
huyền nhiệm không thể lý giải!
“ Vọng phu là một
bài thơ
Những vần bi
tráng bây giờ ở đâu
Gió đưa chinh
phụ lên đèo
Bao nhiêu con
mắt nhìn theo bóng người…”
Có mấy ai nhận ra
“vọng phu là một bài thơ”? – Một bài thơ bi tráng! Theo tôi, Vọng phu không chỉ
là “một bài thơ” mà còn là một bản trường ca bi tráng của bao thế hệ mãi réo
rắt bên đời bể dâu hệ lụy tiếp nối khôn cùng! Chính vậy mà “ Gió đưa chinh phụ
lên đèo/Bao nhiêu con mắt nhìn theo bóng người”.
Và: “ Ngàn năm sầu
vẫn không nguôi
Còn nghe vó
ngựa hí ngoài ải quan “
Cho đến bao giờ sẽ
không còn nghe tiếng vó ngựa đổ dồn/ và tiếng hí thất thanh của bầy ngựa khốn
khổ bên ngoài quan ải? Nói đến chiến chinh - nỗi khổ đau và căm phẩn của phận
người - Nhà thơ đã mượn hình ảnh của bầy ngựa thật lạ lùng và cũng thật gợi cảm
- “Sương chiều ngút tỏa Ô giang/Chiếc yên vắng chủ ngựa sang một mình” (Chiều
Sông Ô).Và ở đây - “mơ thấy ngủ trên đèo Rù Rì” thì “Ngàn năm sầu vẫn không
nguôi/Còn nghe vó ngựa hí ngoài ải quan” - nghĩa là “yên chưa vắng chủ”/ cuộc
trường chinh vẫn đang còn tiếp nối /và nỗi sầu ngàn năm vẫn còn ẩn khuất đâu
đây?
Nhà Thơ là người làm
công việc của người thợ lặn - một mình chìm sâu trong đáy nước mênh mông buốt
lạnh để mò tìm từng viên hạt trai - Những viên ngọc quý lấp lánh vô giá kết
thành chuỗi hạt dâng hiến cho đời, cho người. Nhà Thơ cũng có thể được xem như
người lừ hành cô độc, mãi âm thầm bước
tới để thắp lên ngọn đèn hồng sưởi ấm cho phận mình - phận người giữa cõi mênh
mông giá lạnh…Nhà Thơ Cao Thoại Châu đã gần nửa thế kỷ đi làm cái công việc
thầm lặng khổ nhọc ấy để bây giờ đã trở thành “ người không quen vui”
(theo cách nói của Đinh Thị Thu Vân ) -
nhưng anh đã hào phóng ban tặng cho chúng ta những gì sau bao năm tìm kiếm
được…
Những
ngày cuối tháng7, 2009
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét