MỘT CÂU CHUYỆN TÌNH
Truyện ngắn
MANG VIÊN LONG
(Một
Câu Chuyện Tình được viết với sự đồng ý của cô TTh Ng để tưởng nhớ Y Uyên.
Truyện đã được in chung trong tập truyện di cảo “Có Loài Chim Lạ” của Y Uyên
năm 1969, do Ts Tân Văn ấn hành. Những bức thư được trích dãn trong truyện là y
nguyên văn thư của Y Uyên đã viết gởi. Sau nầy, truyện đã được giới thiệu trên
vài trang Website, nhưng do dịch vụ vi tính “sao lại” sai nhiều chỗ, thậm chí
bỏ sót, mà tôi không được “kiểm tra”. Hôm nay, xin được đăng lại trong tập
truyện nầy - để thêm một lần tưởng nhớ Y Uyên & mối tình tuyệt đẹp nhưng
quá đổi ngậm ngùi…/MVL”
Thị thắc mắc nhiều nhưng vẫn cố gắng
coi thử sự thờ ơ của Sãi sẽ đến bao giờ mới hết. Thị đã nhiều lần tự xét, tự
soi gương ngắm nghía, vẫn có kết luận là mình cũng không đến nỗi nào. Người con
gái không đẹp lộng lẫy, nhưng có lắm kẻ khen có duyên thầm thì làm sao không
thể gây cho Sãi một sự chú ý, dù nhỏ, như một lần đưa mắt nhìn khuôn mặt trang
điểm, tà áo dài màu lụa vàng Bangkok …
Và Thị vẫn chờ đợi ngày anh chàng này chịu để mắt, mở miệng.
Đã gần một tháng Sãi về đây dạy, Thị
chú ý Sãi rất thường nhưng bận nào cũng thấy ghét ghét cay đắng. Sãi dửng dưng
lên xe ngồi thu mình hút thuốc nhìn lơ đãng quanh đường như khách lạ đón xe,
không hề quen biết, không muốn bận tâm tới sự có mặt của những người ngồi ở đó,
trong số này có Thị. Chỉ có Thị nao nao chờ gặp mặt Sãi, nao nao tìm từng ánh
mắt liếc nhìn nàng. Một tháng rồi, một tháng thất vọng, Thị bực tức nghĩ của
trong bụng, xì cái anh chàng làm bộ vừa vừa chứ. Thị mỉm cười với ý nghĩ khi mô
chịu mở miệng thì sẽ làm cao. Phải bắt anh chàng năn nỉ, hay ít ra cũng nằng
nặc đòi theo mới bắt đầu tính chuyện. Nhưng cái ngày đó không đến, lâu quá sốt
ruột vô cùng. Ngày mà Thị hi vọng nhất là lúc Sãi vừa đến, xe chỉ còn một chỗ
cho Sãi bên cạnh Thị. Sãi ngồi vào chỗ dành cho mình không bận tâm. Xe dời bến,
Thị nhìn Sãi châm tiếp một điếu thuốc, rồi nhìn Diệu cười ra mặt giận. Giận cái
anh chàng làm cao, và cảm thấy ngượng với những lời trêu chọc của Diệu, Ngọc,
Nga; cứ lao xao hỏi ngày hôm nay có tiến bộ gì khả quan không? Và tiếp theo đó
là sự im lặng chịu trận của Thị, lại nhận thêm những lời nói ỡm ờ chọc tức Thị
hơn. Khi xe quẹo vào một đường phố, để tiến ra quốc lộ, Thị thấy mình có nhiều
thì giờ để chờ đợi và có quá nhiều hi vọng để bắt anh chàng mở miệng. Hơi gió
từ phía dưới cánh đồng dọc quốc lộ thổi mạnh dạt dào, con đường rộn ràng xe cộ
ra vào thị xã, từng cổ xe ngựa chở đầy khách ở miệt Hòa Trị, núi Sầm với gánh
mẹt và hoa quả xuống chợ. Sãi nhìn chăm chú. Càng đoán ra sự nghĩ ngợi của Sãi,
Thị càng thấy tức tức sao đó. Lần đầu trong đời, nàng đã chờ đợi quá lâu với
một người con trai. Có khối anh chàng rầy rà, có khối anh trồng cây si ở ngõ, ở
sân, từ lúc còn học Sư phạm ở Quy Nhơn, và ngay ở phòng trọ này của bọn Thị
nữa. Như một giống bắt hơi thạo, lúc bọn thị vừa thuê phòng trọ chưa hết tuần,
đã có lũ lượt anh em ngày đêm túc trực dập dìu đông vui. Nhưng với Sãi, anh
chàng này làm bộ quá đi. Và Thị nghĩ, không biết sao mình yêu cái anh chàng kỳ
cục này cho khổ. Để bọn Diệu có công việc bàn ra tán ra vào lúc rỗi, cho đỡ buồn.
Xe chạy nối đuôi với đoàn xe GMC qua cầu
Sông Chùa. Phía sau, là những xe chở đầy nhóc nhân công là đàn bà con gái đi làm
cho sở Mỹ bên Phú Hiệp, Đông Tác. Chú Mỹ lái xe cà chớn rú ga cho xe trờ tới
sát xe Lam của bọn Thị, và Thị cố tình tỏ rõ nỗi lo với Sãi coi anh chàng này
sẽ có phản ứng gì không; nhưng Sãi chỉ nhìn vội chiếc xe của chú Mỹ như thể coi
thử có đụng vào thực hay chưa, rồi lại đâu vào đó cả - nghĩa là Sãi cứ tỉnh bơ,
tỉnh bơ đến phát ghét. Diệu đã nhìn Thị cười cười, con khỉ lúc nào cũng cười
cười được.
Mười phút kẹt cầu, xe dừng chờ tấm
bảng đỏ quay đi, Thị nghĩ ra một quyết định, xét ra cũng kỳ kỳ là mình cứ để
vạt áo dài bay đậu lên người Sãi lúc xe qua cầu. Chiếc cầu dài hai mươi mốt
nhịp sẽ bị cấm hút thuốc, Sãi hết việc làm và nghĩ ngợi viễn vông. Lúc đó sẽ
nghĩ về tà áo dài mới của mình. Thử coi anh chàng làm gì cho biết. Cầu dài gió
mạnh chắc chắn tà áo sẽ bay quần vào người anh chàng. Một lần nữa, Thị lại mỉm
cười với cái ý nghĩ kỳ cục này. Khi yêu người ta có thể làm chuyện kỳ cục một
chút có sao đâu? Trong khi đó chuyện kỳ cục này lại thành thực và ngây thơ. Thị
bỗng như lần đầu trong đồi bắt gặp những ý tưởng trong sáng khi nghĩ về một
người tình, và bối rối trước tình yêu. Điều này làm nàng thấy vui vui trong thế
chờ đợi, thấy nao nao trong sự hờn ghét vu vơ, vô cớ. Người lính gác ở bót đầu cầu
thổi còi, quay tấm bảng đỏ, thay tấm bảng sơn trắng. Xe vội vã nổ máy, nhưng
rồi nép sát bên lề, nhường cho đoàn xe Mỹ. Xe Mỹ lúc nào cũng vồ vập, hung hãn như
thể muốn cất cánh bay cao. Có quá nhiều lần Thị đã chứng kiến cái cảnh tai nạn
bên đường của những xe Mỹ gây ra trong mấy tháng về dạy ở Phước Bình. Xe bắt
đầu vào nhịp cầu thứ nhất, gió lộng thổi siết không ngờ. Sãi nhìn bâng quơ ở
bãi cát khô nước bày ra một vùng trắng mịn dưới ánh nắng buổi sáng sớm chói
lọi. Sãi nhớ những chuyến xe qua cầu đối diện Thị, nhìn qua bờ vai nàng khúc
sông bên kia cầu và làng xóm một màu xanh. Lần này có Thị ngồi bên canh, tà áo
dài cứ bay phất phới đậu vào mình. Sãi hạ tia nhìn xuống thật lâu trên tà áo
dài còn vướng bên chân, để yên. Như vậy ít ra cũng có nhìn vào tà áo dài. Thị
liếc nhìn Diệu, cười. Và nàng cũng để yên. Thải ngồi ở cabine xe ngoái lại hỏi
Sãi có thấy chiếc xe Honda vừa mới bị trợt cầu không. Sãi trả lời ấm ớ vì Sãi
có thấy gì đâu, ngoài tà áo dài của Thị. Và rồi Sãi cười với Thải dễ dàng.
Lần này trước giờ ra chơi, Thị vẫn đứng
ở cửa lớp chờ Sãi đi ngang qua coi thử anh chàng có mở miệng chi không. Lần nào
cũng vậy, Sãi lúi cúi bước qua như lớp học trống, đến nói chuyện với mấy người
bạn. Những ông bạn đồng nghiệp già mà Sãi rất quý và thân tình. Từ bên này hiên
lớp, Thị giữ tia nhìn của mình cốt không cho Sãi biết nàng để mắt, quan sát
Sãi. Cái dáng đứng dựa vào vách co ro, cái dáng hút thuốc chậm rãi, cái dáng
bàn chuyện không động tác, cái dáng nào cũng đáng ghét và tức hết thảy. Thị bỏ
vào bàn ngồi tìm mảnh giấy viết loằng ngoằng những chữ, không ra chữ nào. Mãi
cho đến lúc tờ giấy biểu lộ rõ ràng nổi tức giận, ghi đậm từng nét chữ quanh co
nhì nhằng khó xử; Sãi đi về lớp chờ giờ đánh trống vào lớp, ghé Thị.
Dù hai người gặp nhau chỉ nói về chuyện
học trò, học trò quá kém học năm nào trả cho thầy cho cô năm đó, học trò khổ
cực về nhà mở bò hái củi, học trò chạy giặc lớp học trống thêm, học trò và học
trò. Sau cuộc nói chuyện không tóm tắt được câu nào, chữ nào, nghĩa là nó cũng
y như tờ giấy trước mặt nhưng Thị không thấy còn nổi ẩn ức, khó xử nữa. Như
được thỏa mãn ước vọng bấy lâu, lúc vào lớp Thị tỏ vui với bọn học trò. Và sai
đứa học trò đội trực mang gói thuốc của ông thầy lớp ba bỏ quên đem trả.
Sự thể chỉ có như vậy đến một tuần sau
khi Thị đã bắt đầu nghĩ về những dự đoán của mình, thì bất ngờ tất cả đều phải
xuống xe, trở về nhà, vì xe kẹt bên kia cầu quá lâu không đi tiếp được. Sãi ngỏ
ý mời Thị và hết thảy vào quán ăn cái gì cho vui. Vị nào cần gấp việc gia đình
có thể thong thả ra về. Thị đòi về, nhưng nghĩ bụng, sao không ngồi riêng một
mình mình? Thị có cơ hội làm cao, phải làm cao mới được. Thị bỏ đi dù Sãi đã rỏ
ra mở miệng. Cuối cùng, Sãi vào quán nhờ Thải ra nói hộ mình, tất nhiên là Thị
nghe lời. Thải vô tình là một nhân vật có mặt trong cuộc tình của hai người. Cả
hai đều quý Thải còn ở nhiều chuyện. Thị thì quý vì lòng ngay thẳng chân thật,
trong lúc Sãi thương những câu hỏi phân vân. Lúc Thị bước vào quán, nàng có ý
dò xét những cô bạn đồng nghiệp hơn là để ý đến Sãi. Sãi vui vẻ đe dọa, giờ này
cô về đến nhà thế nào cũng bị đói, đâu có phần để dành.
Những buổi sáng sau này ra đón xe đến trường
với Thị là điều mà nàng luôn nóng lòng chờ đợi. Nàng thì nóng lòng còn Sãi thì
bước chậm chạp. Từng bước của những suy tưởng mông lung về nàng mà nàng đâu có
biết. Không khí khi xe qua cầu có vẻ vui
vui hơn trước. Sãi đã để mắt nhìn Thị và để tai nghe những âm thanh rập rình
của những thanh gỗ chao đi theo lằn bánh xe. Buổi sáng trong mát hơn lúc xe
chạy vào con đường đất giữa những đám ruộng như trải thảm xanh, đến trường.
Tiếng động vắng, ít xe, Sãi cũng đã để tai nghe những câu chuyện ngộ ngộ của
Thị với Diệu, với mình. Riêng Sãi thấy có nhiều an ủi và thư thả trong những
ngày chờ gọi vào lính.
Thị viết vào một mảnh giấy nhỏ, đại ý nhờ
Sãi kẻ hộ câu khẩu hiệu, rồi sai học trò mang đến. Nhận giấy đọc xong Sãi bỗng
cười phấn khởi. Lại bắt đầu một chiến dịch viết thư cho tình duyên thêm phần
sôi nổi, Sãi xin học trò mảnh giấy viết hồi âm: “Ông thầy lớp ba làm gì kẻ khẩu
hiệu được cho bà cô lớp nhất”. Nhưng sau cũng phải y lệnh. Nhưng là ông thầy
Thải phải đem sức lao động ra mà làm thế. Thị hiểu được rằng, Sãi đã yêu mình
rồi, không nghi vào chỗ nào được: Anh chàng đã biết nghe lời.
Có thể nói Sãi bước quanh tình yêu thì
chậm nhưng đã vào thì có cơ phát triển nhanh. Có lẽ, cái chậm đã làm nền cho
những việc sau này, tiến mau, vững chắc. Sãi đã dẫn xác tới nhà trọ của Thị mỗi
chiều với gói bánh tai voi. Bọn Diệu, Ngọc, Nga… có dịp cười cười. Thêm cho Thị
một ngại ngùng, xa vắng. Thị cũng đã sớm trở lại nỗi yên ổn sau đó với Sãi,
nàng hát bản “Chân Trời Tím, Căn Nhà Ngoại Ô”… trong lúc cả hai chưa có thể nói
với nhau lời nào đã định trước. Sãi không mấy khi nghe loại nhạc này, nhưng lần
này thì Sãi chú ý. Chú ý nghe cái giọng của Thị cũng đủ hay chán rồi.
Một buổi sáng chủ nhật, trời đã cuối
đông nhưng cái lạnh và sương mù vẫn còn vây kín thị xã. Sãi dậy sớm muốn gặp
Thị để nói chuyện cho ấm. Lúc đến ngã Năm, Sãi dừng lại bên chiếc xe bán bánh
bao mua bốn cái. Lúc Sãi hỏi bánh bao làm bằng thịt gì thì bà chủ quảng cáo về
cái bánh bao hết mấy phút, và đính chính các nguồn tin đồn là bánh bao thịt
chuột hết mấy phút nữa.
Sãi ghé vào lúc Thị đã thức, ngồi hát “Chân
Trời Tím”. Sãi ngồi vào ghế nói bây giờ là chân trời mù sương, cô có thấy? Thị
cười huề, hỏi lại anh cầm gói gì thế? Sãi chìa gói bánh bao cho Thị, bắt ăn. Ăn
cái này khỏi đi ăn sáng, ở nhà nói chuyện. Bọn Diệu cười rúc rích sau tấm màn,
Sãi bảo Thị chia bánh cho bạn, lẽ tất nhiên con gái phải e thẹn, ai mà ăn, chỉ
có Thị và Sãi ngồi ăn với nhau. Sãi ăn uống nói cười tự nhiên như Thị là người
yêu từ muôn đời nào. Và nghĩ cười cho bọn bạn Thị cũng có mỗi người một người
tình sắp đi xa, đang lâng lâng cảm giác. Cuộc tình hai người có thể tiến triển
khả quan, không ngờ đã đến hồi nhắc lại chuyện cũ. Chuyện những ngày đầu. Thị
kêu Sãi làm cao, làm bộ khỏi ai bì. Sãi đầm thắm bảo là mình thực tư cách? Anh
có tư cách không? Những tiếng cười đem Sãi gần Thị hơn, chẳng hạn như hai tay
nắm vào nhau, những nụ hôn trên tóc…
Thị đưa Sãi ra đường trở về, Sãi hẹn
buổi tối đi hóng gió mùa đông một chút, để cùng ăn hạt dưa chờ Tết. Thị trả lời
nữa vời, nhưng ánh mắt Thị cho Sãi niềm hy vọng. Lúc Sãi về vào tới nhà sau, bà
chủ nhà trọ lên tiếng hỏi phải thầy lên nhà bà cô giáo gì đó không. Sãi cười.
Nói chuyện quên cả ăn uống vậy cà?
Hai người đi dọc theo con đường Phan
Đình Phùng ra đoạn đường ít tiếng ồn và ánh sáng. Câu chuyện ban đầu vẫn là
phần nhập đề. Thị vui miệng hát bản “Chân Trời Tím”. Lúc đến cạnh chùa Bảo Tịnh,
Thị chuyển từ nhạc tình cảm người lớn sang nhạc tình cảm con nít. Món sở trường
của bà cô lớp nhất. Trong lúc Sãi dốt về vấn đề này. “Má em hừng đông di cày
bừa, tía em hừng đông đi cày bừa… Má em là một người nông dân, tía em là một
người nông dân..”. Thị ngây thơ níu bờ rào, nhìn qua bên kia nóc giáo đường,
cười nao nao. Sãi nhìn Thị xúc động như vừa viết được đoạn văn ưng ý, tìm được
cảm giác lạ. Thị thôi hát, kiếm chuyện kể khi rẽ vào con đường số 6 dày bóng
dương; riêng biệt và mát mẻ. Nàng nói đến chuyện đêm hôm qua tình cờ thức giấc,
nghe Ngọc nằm mơ hát ú ơ A a a ơ kìa con ve, suốt mùa hè rè rè ré rè re. Sãi để
nàng thong thả kể, mình thong thả nghe - nghe xong mới nói:
- Thị tưởng tượng khéo
lắm, ham ngủ như em, sức mấy mà nghe người khác nằm mơ hát?
Thị không thấy giận nhưng cũng làm bộ
giận. Dễ thường hễ yêu nhau, càng giận càng thương đó chớ? Thị làm thinh đi
từng bước bên Sãi, như tách biệt. Sãi bèn cho uống thuốc an thần:
- Đâu chỉ riêng gì em
ham ngủ, cả thành phố này cũng vậy nữa, đại bác trên tháp chỉa vô tai bắn thâu
đêm mà cũng gáy khò khò đó sao?
Và Sãi cao hứng đọc
bốn câu thơ, không nhớ của ai:
“Vỡ
đôi trái đất một đêm sầu,
Nửa
mảnh văng đi hóa nguyệt cầu.
Trên
đó người yêu tôi vẫn ngủ,
Mơ
màng có biết chuyện chi đâu!”
Em có thấy ngủ nghê
như thế là lì nhất thế giới rồi còn gì?
Nghe xong, Thị đã sớm tỏ ra biết điều là
không bắt Sãi năn nỉ; nói cười trở lại, còn Sãi mới nhớ lại gói hạt dưa mua bỏ
túi từ chiều. Nhờ Thị cầm gói hạt dưa, Sãi mò tìm điếu thuốc gắn lên môi. Thị
lại nhớ tới ý nghĩ chưa nói với Sãi về vài cái tật của chàng. Thị cười cười bảo
anh viết sách, anh có nhớ tới con đầm con xì không? Hay là tay viết mà đầu óc
cứ nghĩ tới mấy con đó? Sãi mong được nghe những lời đó, ít ra cũng tỏ Thị đã
nghĩ lo cho mình, và Sãi biết được những ý nghĩ của Thị không có giấu giếm. Sãi
hút nhẹ một hơi thuốc, giọng nhỏ hẳn:
- Em có nghĩ là con
người phải có một thói quen làm người đó trở thành xấu hay tốt không? Nói rõ
hơn, phải có một công việc đeo đuổi để trở thành tốt hay xấu không? Với anh,
được coi như đứng về phía những người sa đoạ, hư hỏng, anh muốn sống đủ, để
được nói đủ cho thế hệ của anh. Ngoài ra, anh vẫn sống với một cuộc sống có
ích, có tư cách và danh dự…
Thị im lặng như một sự chịu lỗi, nhưng
vui với lời giải đáp rất lâu chưa tìm ra. Sãi nói tiếp, em hãy nói hết những ý
nghĩ về anh, để lũ mình gần nhau hơn. Bất cứ những việc gì có liên quan tới hai
đứa, tới tình yêu…Theo lời đề nghị, Thị nhớ lại một tấm ảnh. Tấm ảnh đó vô tình
được mấy ông bạn đồng nghiệp nhặt được trong tấm áo veste lúc Sãi đánh bài bỏ
lại nhà người bạn. Tin tức tuy nói là giữ bí mật, nhưng lại loan đi nhanh hơn
bất kỳ là tin gì. Bọn bạn Thị nghe được cấp báo cho nàng, nhưng rất may tấm ảnh
vẫn còn giữ lại y nguyên trong tấm áo của Sãi. Sãi đến, Thị giận. Và nghĩ tầm
bậy. Nghĩ đủ thứ lý do, nhưng không biết tới lý do Sãi đã đánh bài, vì con đầm
con già, bỏ quên áo vest. Sãi buồn buồn hỏi:
- Anh có thể nói
chuyện với em như trước chứ?
Thị không giữ được dỗi
hờn:
- Ảnh đâu cho em coi?
Sãi móc túi sau đưa ngay ra:
- Đây.
Thị lấy cất luôn trong ví, Sãi đón được
ý, nhưng cũng là ý sai, Sãi bỏ về.
Mấy ngày sau vắng bóng Sãi, Thị hoảng
quá, chờ lên trường Thị tìm cách đến phòng dạy của Sãi, giọng ướt mềm:
- Anh cho ai xem ảnh
em?
Sãi mới chợt nghĩ tới cái ý nghĩ hôm nọ
là không đúng, không ngờ cái lý do những người bạn đồng nghiệp xem ảnh trong áo
veste lúc bỏ quên có thể đúng bất ngờ - Sãi nói giọng thực nhỏ:
- Em tưởng anh tầm
thường như vậy à?
Lúc đến gần một cánh đồng trống, Sãi
kêu quay lại. Con đường số 6 tràn ngập hơi gió lạnh, cực lạnh, Thị đi nép bên
Sãi. Sãi đưa chân đá những chiếc lon nằm dọc đường. Âm thanh nghe vui, và ồn
trong cái vắng của những cửa hàng sắp đóng cửa. Sãi chợt vui với ý nghĩ, có em
anh không còn mê con đầm con già nữa.
Sãi được lệnh trình diện nhập ngũ khóa
27, ngày cuối từ giã trường Sãi đã bắt đầu thấy cái không khí chộn rộn lo Tết
của trường; tiếc không được ở bên Thị trọn vẹn những ngày chộn rộn đó. Nhưng để
bù vào, Sãi và Thị đã trốn bạn bè, học trò ăn tết trước với hạt dưa, bánh tai
heo, mứt hạt sen, và bánh bao thịt chuột ở một khoảng vườn gần trường. Tết chỉ
riêng của hai người, thực khó kiếm. Trong dịp này, Sãi đã nói với Thị điều đã
nghĩ từ lâu: anh sẽ gắn viết sách in thành tác phẩm để mua hạt dưa, bánh tai
heo, và bánh bao thịt chuột cho lũ mình đón tết nhé.
Nói là từ giã trường nhưng chính là để
từ giã Thị, Sãi thấy khó quá. Gặp một nỗi giận bất ngờ trước những ngày cuối
gần kề (như thể tình yêu là chứa toàn giận hờn tiếp nối), Sãi bỏ vào Nhà Trang
để có nơi mà đi, để khỏi bận tâm đến Thị, nhưng thấy không thể chạy trốn tình
yêu. Từ trước Sãi đã giữ được cho mình quân bình về mọi mặt, ngay trong những
ván bài, nhưng với hình bóng Thị, những ý nghĩ về nàng khó mà dứt bỏ. Vào Nha
Trang không tìm thấy gì ngoài những bứt rứt không nguôi, Tĩnh tâm, Sãi phải
cười về sự kỳ cục lẩm cẩm của mình. Một trong những gặp gỡ làm Sãi nhớ là lần
ghé đến thăm nhà văn Võ Hồng ở đường Hồng Bàng, cùng đi với một cậu học sinh
quen ở Tuy Hòa. Lúc nhận ra nhau, ông bạn văn luống tuổi này đã nói về sự bề
bộn của công việc nhà vì con sen mới bỏ đi, chưa thuê được người giúp. Sãi bảo,
những kẻ độc thân như Sãi chẳng hạn, lại bê bối về vấn đề nhà cửa gấp bội. Nói
chuyện vui vẻ một lúc, ra về, Sãi nhớ mãi tiếng cười và sự an lành của gia đình
này. Và có dịp hình dung một ngôi nhà của mình, có Thị…
Đi đâu rồi cũng trở về, giận hờn chán
rồi cũng thắm thiết hơn xưa. Đó là Tình Yêu - như một định luật. Định luật của
những người yêu nhau và ngỡ mối tình của mình là mối tình đầu tiên trên trái đất.
Lại những cái hôn trước ngõ, Sãi đưa Thị đi một vòng phố, thực vắng. Cũng để
làm giàu cho kỷ niệm, và để cho bọn bạn Thị có nơi mà nghe những lời từ giã của
người tình. Sãi mua bánh bao thịt chuột, và hạt dưa. Hai kẻ yêu nhau lang thang
trên đường phố vắng, thấy thực lãng mạn, nhưng có thực. Sãi tìm những cái lon
giữa đường đá mạnh cho có tiếng vang. Đi lan man nói cười trong những con đường
vắng, nhưng Thị vẫn buồn cho lần ra đi này của Sãi. Sự xa cách dễ làm cho lòng
người yếu đuối. Sãi cũng thấy vậy và bồi hồi thương xót Thị. Trong cuộc tình
này, Sãi vẫn nghĩ mình là một người được nhiều an ủi, và mong muốn Thị được vui
trọn vẹn.
- Anh đi sẽ mạnh giỏi
nhưng Thị sẽ phải vui nghe không? Cấm không được buồn.
- Làm răng không buồn
được?
Nghe câu nói này với giọng ướt sũng nước
mắt, Sãi lại nghĩ chính mình sinh ra để làm khổ kẻ khác. Sãi thực tình không
muốn chút nào. Thị sẽ phải cùng chịu những khó khổ của đời mình. Sãi không muốn
giọt nước mắt tham dự vào những kỷ niệm của hai đứa, kéo Thị và quán để mua
những cây pháo bông, đốt lên, ánh sáng vàng nghệch như nghệ, trông khuôn mặt
hai đứa ngây thơ như những đứa học trò. Lúc lên đến sân ga, gió gắt hơn, và
trời tối thui - Thị nép sát vào Sãi, tiếc những cây pháo bông vừa đốt nếu để
dành được vài cái…
Như vậy là Sãi đã dời ngày đi Sài Gòn
đến lần thứ hai. Đêm cuối đến từ giã Thị, Sãi có ý định ngày mai sẽ dời ngày đi
lại một lần nữa nhưng thấy không ổn. Rồi cái ý định cả hai cùng lên ngồi xích
lô cho xe chạy vòng quanh phố vắng để được nói những lời từ giã cuối cùng cũng
không ổn nốt. Sãi ngồi ở kệ đá ngoài hiên với Thị, dành căn nhà cho bọn bạn Thị
nói cười. Tiếng ồn vọng ra với những lời ca trêu ghẹo vu vơ làm Sãi thấy thương
Thị quá mức. Thương cái tội nghiệp ngây thơ, và nỗi buồn nàng. Ngồi với nhau
một hồi, ăn hết gói hạt dưa, Sãi căn dặn Thị như thể căn dặn một đứa em gái,
còn quá nhỏ. Thị cũng căn dặn Sãi như thể với một đứa em trai, quá nhỏ. Khi
yêu, Sãi nghĩ người ta có quyền muốn người yêu nghe theo những lời mình, kỹ
lưỡng và bắt buộc. Có vậy tình yêu mới ra tình yêu - em còn muốn nói những gì
để nhắn nhủ anh nữa thôi?
Thị vào lấy thêm một tấm hình trông rõ,
đẹp hơn, để tặng Sãi trước khi Sãi về. Sãi nói anh sẽ nhờ người bạn họa sĩ vẽ
cho em một cái khi vào đến Sài Gòn. Cái hôn đầu ngõ dài như không bao giờ dứt.
Tấm áo len đỏ êm ái trong hơi thở, và những chiếc vòng bạc nơi tay Thị cũng reo
bên tai…
Vào
đến Sài Gòn trong những ngày chờ vào trại Sãi đã thực sự nhớ lại tỉ mỉ một mớ
ngổn ngang những kỷ niệm, nào bánh tai heo, bánh bao thịt chuột, vốc hạt dưa,
những chiếc lon thiết, áo len đỏ, vòng bạc, những bản tân nhạc cải lương, và
chiếc hôn đêm cuối giã từ quá dài. Từ đó Sãi nghĩ rằng chỉ có mùa đông này Sãi
đã sống thực trọn vẹn và vội vã. Sãi tiếc những tháng ngày gặp Thị quá muộn
màng, quá nhanh chóng, cái nhanh chóng bất ngờ gây nhiều hoang mang đó ám ảnh
Sãi hoài trong những giấc ngủ trưa từng miếng mộng vá víu với hình dáng Thị
ngẩn ngơ, với giọng nói chi mô nghịch ngợm. Và Sãi cũng thực sự quên hẳn những
lần Thị chọc tức mình với những câu nói úp mở, những con già con đầm, và một mớ
những hình ảnh lộn xộn bông đùa.
Sãi ngồi hẳn dậy nhìn ra khoảng đất
trống dày bóng cây bên cạnh nhà thấy nỗi yên tĩnh này dễ gợi cho lòng tưởng
nhớ. Có thể nói ký ức Sãi lúc này còn hoạt động mạnh, lòng nghĩ thầm, anh phải
viết tới ít chục lá thư mới xài hết những kỷ niệm. Với ý nghĩ ấy, Sãi thấy hãnh
diện về tình yêu của minh và Thị. Và Sãi
đã tới bàn ngồi viết tiếp cho Thị lá thư thứ tư, trong những lá thư chờ ngày
vào lính.
Sài
Gòn, ngày 10/11/1969
Thị,
Định
hôm nay đi nhưng bạn bè bắt đầu xuất hiện, gặp mặt đành nấn ná ở lại. Đêm qua
đi coi một phim đầu tiên từ hôm về Sài Gòn. Phim hiếm và hay. Sáng nay ngủ tới
10 giờ nên hết buồn ngũ trưa, ngồi viết thư số 4 cho Thị (Số 4 có nghĩa là thứ
tư 13/12, cũng có nhiều nghĩa khác nữa. Cứ chờ mắt lúc thực sáng, nghĩ sẽ thấy
rõ tức thì). Nghe nói 22/1 khóa mới khai giảng vì vậy trong khi chờ đợi, Thị
gửi thư theo địa chỉ ngoài bao bì. Mong đến độ nóng ruột. Hãy viết liền cho anh
và nếu có thể viết dài như những vòng “luân hồi” hai đứa đi mỗi đêm. Hồi sớm
nằm trên giường, nghe một giọng nữ trong máy thâu thanh hát “Tía em, má em..”
bỗng nhớ tới Thị hát, cười lúc lũ mình vừa đi đến ngôi chùa Cát. Tự dưng có một
ý nghĩ thực ngông, có một giấc mộng nghe thực ham: Từ giờ tới Tết chắc sẽ gặp
Thị ở Sài Gòn. Nhảm quá phải không? Nhưng dù sao cũng có những hình ảnh đó
trong đầu: Thị, Thải, bọn Diệu… Như vậy cũng là một đời sống. Đời sống không
thực tế nhưng có thực. Gán ý xấu, đó là ảo tưởng. Ghép cho nghĩa tốt, đó là
tình yêu, phải vậy không? Nói theo loại sách “Học làm người”: đời, ai không
sống bằng tưởng tượng? Nếu không tưởng tượng sao có ngộ nhận, những lầm lẫn về
mình, về người khác? Nếu không có tưởng tượng sao có văn hóa, con người văn
minh? Thôi, nói chuyện sách vở miết, lại cười ngất như nói chuyện âm nhạc hôm
nào nữa. Những thứ đó bề sâu (chữ của Thị) không bao giờ vượt quá cái bề dày
vật chất của nó, nói đến cái lon đá lăn long lóc trên mặt đường nghe còn vang
nhiều âm điệu tình cảm hơn.
Chiều
nay ngồi viết cho Thị và vài người bạn ở Tuy Hòa, nghe tiếng pháo xung quanh
bắt đầu nổ nhiều hơn. Như Tết đã tới. Cái Tết miền Nam khô nóng quá nghĩ thấy
nhàm, cái tết miền Trung lại có vẽ thu hẹp, đơn chiếc quá. Đó là ý nghĩ thực
chủ quan của anh lúc này. Dường như chỉ có cái tết ăn hạt dưa, ăn bánh bao của
tụi mình vừa qua mới thực là Tết, thực dân tộc tính (?).
Nhớ
viết đều cho anh và gắng nói cho rõ ràng minh bạch, miễn dùng “chi mô đó” để
bắt anh tứ thời phải làm bài tập ngữ vựng kiếm lời thích hợp mà điền vào các
chỗ trống cho hợp nghĩa.
Thương
Thị
Anh”
Sãi vừa bước vào ngưỡng cửa,
chị Tẩu đã hỏi sao cậu tính hôm nào mới chịu vận đồ lính, húi tóc ngắn. Sãi
cười nói bạn bè mỗi lúc một xuất hiện, thấy chưa yên tâm để cởi đồ dân sự. Chị
Tẩu đã luôn theo dõi và thường chìu Sãi mọi việc y như Sãi thuở còn bé tí. Từ
món ăn Sãi ưa thích, cái mặc Sãi nhờ may, và những mẫu tâm sự khó nói trong
lòng thố lộ cho nó vơi đi đôi chút. Sãi vẫn thường sống kín đáo, nhưng cái kín
đáo đó được thông đồng một cách rất thông cảm của chị. Do đó, chiều qua sau khi
viết xong thư cho Thị, Sãi đã ra sân ngồi dưới tàn bóng cây mít nhìn ánh nắng
chiều phía ngoài vườn cây, cùng chị Tẩu nói chuyện. Dĩ nhiên là chuyện về Thị,
và hai tấm ảnh. Có mối tình nào luôn giữ kín cho riêng hai kẻ yêu nhau đâu? Như
khi yêu phải cần có người tâm sự để càng thấy yêu thêm và hy vọng; Sãi đã tỏ ra
cà kê với chị về thiên tình cảm nồng nàn này của mình. Sãi bắt chị nghe chuyện
những chuyến xe qua cầu Đà Rằng, mỗi buổi sáng tới trường, những đêm lang thang
đốt pháo bông khắp ngả phố, những lời ca “chân trời tím” thiết tha… Nói tóm,
Sãi vớ được chị Tẩu để chia sớt nỗi nhớ thương mông lung của mình. Như chị Tẩu
phải dành cho Sãi những buổi chiều vắng bạn, ngồi dưới tàn bóng cây, nhìn cây
hoa trước ngõ, nhìn ánh nắng sau vườn, mà nghe kể chuyện Thị. Chị Tẩu vẫn
thường thích thú trong những lần được tham dự vào các gặp gỡ như thế với Sãi,
để mong em vui, và mình vui với em. Cuộc sống vì thế giản dị và mật thiết mà
mỗi lúc xa nhà quá lâu, Sãi thấy nhớ, nhớ vô cùng.
Cuộc nói chuyện tình đang ở hồi sôi nổi
thì Khuê vào với tiếng nói cười ồn ồn. Có bạn có bè tất có đi rông dạo phố, Sãi
hăm hở sửa soạn đi với Khuê như đã có hẹn mà ngồi chờ. Sãi nghĩ, mình phải đi
thêm để có cái viết cho Thị đọc, và cũng để chân cẳng được tự do thỏa mãn trước
hàng kẽm gai buộc đôi chân từ bỏ những thói quen động đậy lang thang. Những lúc
nhớ tới Thị, Sãi thường tìm một công việc làm. Đi lang thang như thể có dịp gặp
Thị bất ngờ ở đâu đó, trong làn sóng người chen chúc sắm sửa Tết ở Saigon ...
Đi và ngủ lại nhà người bạn đến trưa
Sãi mới mò về. Ở nhà, Sãi như con chim quen thói, bay đi xa rồi lại trở về
lồng; chị Tẩu lại đùa hỏi cậu tính bao giờ đi làm quan. Sãi nói đi làm quan bất
đắc dĩ nên cứ nấn ná ở nhà viết thư cho cô giáo để luyện văn phạm. Nhớ lại kỷ
niệm cũng là một cách tả lại tình yêu thương cao độ đó chứ? Sãi ham viết thư
đến nỗi mới giải áo ra, đã mò cây viết. Chị Tẩu nhìn Sãi cười. Viết xong, ghi
địa chỉ bì ở thư, Sãi nghĩ đây mới thực là lá thư cuối cùng trong những ngày
chờ vào lính. Và ngày mai chuyến thư Sài Gòn sẽ đi Tuy Hòa để Thị đọc từng câu,
từng đoạn trước giấc ngủ.
Những ngày vào đến quân trường cái đầu
đã húi cao trông kỳ kỳ, bộ đồ rộng dày mang vào mình, Sãi chưa nghĩ là mình
thực sự là lính. Và bắt đầu trông thư Thị sau những lần đi tập ở bãi về, chạy
ào vào phòng tìm thư. Chuyện lính vốn không hấp dẫn được Sãi. Do đó, trước ngày
nhập ngũ, Sãi đã nói với Thị là sẽ rất ít kể chuyện lính. Tuy Sãi bây giờ trông
vào là biết lính thực: Quần áo xốc xếch, còn mặt mũi cũng sạm đen.
Lúc Sãi đang tìm giấc ngủ trưa vội vàng
trước giờ đi tập thì được người bạn cùng phòng gọi dậy, có thư. Sãi ngồi nhổm
dậy, tỏ vui xôn xao. Cầm thư mới biết không phải thư Thị, lại buồn. Đọc nốt lá
thư, thư của một độc giả gửi tới, lại nằm xuống ngủ. Sãi nghĩ từ lúc gặp Thị ,
yêu Thị, Sãi có những cái kỳ cục buồn cười hết sức. Như nhỏ lại và thơ ngây.
Giấc ngủ đến thực mau không ngờ.
Nghe tiếng nói cười ồn ào nổi lên trong
phòng, ngoài hiên, Sãi thức dậy theo thói quen cho một giấc ngủ trưa ngắn ngủi.
Lại nghe người bạn gọi có thư, Sãi ngơ ngác phân vân sao một ngày lại có đến
hai chuyến thư. Lần này thì thư Thị. Thư này được người bạn lấy ở tiểu đoàn.
Chờ giờ học, Sãi ra sân tìm một bóng mát vắng, đọc thư Thị.
KBC
4100 ngày 1/6/68
Thị,
Trưa
nay ngủ dậy thì nghe gọi có thư Thị, anh phải “hối lộ”cho người bạn mới được
đọc thư Tuy Hòa. Thị có mường tượng được những lá thư để trên đầu giường đi đâu
về bắt gặp bất ngờ, và những lá thư sau một giấc ngủ nặng nhọc buồn phiền
không? Lần này mới có thư nặng trọng lượng một tí và lá thư kép. Hồi chiều cầm
chổi đi làm tạp dịch ở ngoài khu nhà tiếp tân (sửa soạn để mai chủ nhựt, thân
nhân SVSQ tới thăm) quét phòng xong, ra ngoài bãi cỏ đọc thư, lần thứ hai. Và
đang ngồi bên mớ súng ống gác đêm ở trong phòng học, đọc thêm lần nữa để thương
thêm nỗi xôn xao sửa soạn ra đi của Thị. Thị đi có một mình và trước khi đi (9
giờ 30 phút sáng) còn gắng viết cho anh. Thương và thương thêm mãi ở chỗ đó. 9
giờ 30 sáng ngày anh đi, đâu có phải lủi thủi như Thị, phải không? Anh đã viết
một thư về Huế cho Thị, và sau đó, hôm 28/5 có người bạn về Tuy Hòa, dù rất
bận, anh đã lợi dụng cơ hội ngàn năm một thuở đó, nhờ Thải mua giúp một cái ví
Bangkok để người bạn này mang ra cho em gọi là một chút kỷ niệm những ngày anh
ở trong này. Anh nhớ Thị có về Huế cũng vào cỡ đầu tháng (chờ lĩnh lương, chờ
máy bay) không ngờ Thị đi sớm thế. Như vậy, chắc người bạn ngoài Huế sẽ gửi ra
Huế. Mong là Thị sớm có mặt ngoài đó để biết mặt mũi cái ví với màu sắc loè
loẹt (màu sắc của chùa chiền xứ Thái) cổ kính đó ra sao? Có tò mò muốn biết tại
sao anh thích chiếc ví Thái Lan? Dễ hiểu, nếu Thị nhớ là những chiếc áo soie
Thái Lan đã có hồi anh ưa thích. Trang vừa rồi là anh kể chuyện, 1 trang phần
anh, trang này là trang anh hỏi han một trang của phần Thị. Thị có thể hơi lúm
túm hoặc hơi đắn đo khi nói chuyện về thăm nhà. Và sau đó lại là những hàng chữ
dập xoá. Giọng thư này anh không kiềm được tính xấu như mọi khi, tò mò… đọc cho
ra những chữ bị bôi xóa đó. Dường như Thị nói “yếu đuối” sao sao đó (tha lỗi
cho anh). Và tự nhiên là anh phải nghĩ ngợi, mơ hồ thấy có lỗi với Thị. Lỗi đã
yêu em chẳng hạn. Điều đó anh có thể nói được điều Thị nghĩ mà không sợ anh
buồn hoặc em cảm thấy bị xâm phạm. Trước sau anh chắc chắn được điều này: Bao
giờ anh cũng yêu, quý Thị. Vì vậy đừng dồn nén xúc động làm chi cho tội, cứ
viết thư Thị rung cảm, như Thị cũng có một điều tha thiết để theo đuổi như mọi
người. Trong lá thư chẳng cần bắt chân cẳng chạy lung tung từ chuyện nọ đến
chuyện kia, như một cô bé vô tư đùa giỡn với nắng, với hoa cỏ, với trời mây.
Nói như vậy anh chỉ có ý nghỉ bảo Thị nếu có vấn đề gì lo nghĩ, cứ viết với anh.
Ngoài ra, anh vẫn thương những hình ảnh trèo cây hái quả, ngủ vùi,… lộn xộn với
nhau trong một thứ quen thuộc nhưng nhiều công chờ đợi. Thị biết thương cái ngơ
ngác của con ngựa cô đơn, lẻ nào anh không thực yêu người tình ở lại tìm hoa
tìm quả đùa chơi một mình?
Có
kịp nhận mấy thư dài dài của anh không? Trong đó anh có nói không bao giờ anh
ghen. Anh không ghen với nổi cô đơn của Thị, thì bây giờ không lẽ nào Thị ghen
với … một đôi già? Anh phì cười và ngạc nhiên không ít khi nghe Thị kiếm đâu
được “tài liệu” đắt giá đó. Nói cho anh nghe đỡ tò mò? Bao giờ tiện anh sẽ gởi
cho em một cuốn sách có một nhân vật nói câu đó. Như vậy, Thị thêm một lần nữa
hiểu anh, đừng có lộn những cái anh viết với những cái anh sống. Hơn nữa “sợ và
thêm vào ít bất mãn” làm chi cho mệt? Anh đâu có sinh ra để đánh bài?
Tới
giờ, nghĩa là chỉ còn hai tháng nữa sẽ ra trường - anh cũng chưa biết cái mùi
lang thang chiều thứ bảy trừ vài lần phép hồi Sài Gòn còn yên. Vậy Thị cứ yên
tâm, sẽ có rất nhiều thì giờ để viết cho Thị. Cái khó là ở chỗ nói sao cho Thị
cảm thấy nhớ Thị mà thôi. Thị vẫn im lìm mặc dù hầu như thư nào anh cũng hỏi
thăm về các bạn cũ của bọn mình? Nói cho anh theo dõi một chút chớ?
Ra
Quy Nhơn nhớ chụp hình và gởi vào cho anh. Lần nữa anh lập lại: chúng mình nghĩ
về nhau như một điều tự nhiên thì những lo lắng cho nhau cũng là tự nhiên. Đừng
chờ có thư anh rồi mới viết, đừng chờ có hình anh rồi mới chụp gởi vào. Có
chuyện gì vui vui lạ lạ kể anh nghe, ồn quá, anh ngừng. Thương buổi sáng sửa
soạn và những dòng viết hối hả cho anh trước khi ra Qui Nhơn.
Hôn
em
Anh”
Những ngày gần cuối khóa Sãi
được phép về Sài Gòn đều và những cái phép đặc biệt để lo cho tờ báo. Đi phép
như là một ước muốn thói quen, nhiều lúc được ra giữa đường, không biết là mình
sẽ làm gì cho hết thì giờ. Vậy mà cũng vẫn muốn đi phép. Sãi nghĩ giá có Thị ở
đâu đây thì những lần dời quân trường sẽ có mùi vị. Nhiều bận xuống đến Sài
Gòn, đi lơ ngơ gặp toàn những bè bạn mặc toàn kaki, rủ vào quán, rủ chui vào xi
nê, rủ đi lông bông. Sãi cũng thường tìm về nhà dưới Gò Vấp vào những lúc mỏi
chân cẳng, và muốn được nằm hưởng cái không khí gia đình cho đỡ nhớ. Về nhà, sờ
tới những bộ đồ lúc còn đi dạy, Sãi thấy chúng lạ lạ sao đó như một loại hàng
mới nhập cảng. Phần trang điểm dân sự đặc biệt ở khoá này. Coi như khó có. Và
Sãi thấy chịu lời người bạn. “Mình không
mặc được loại quần áo nào mà trông đẹp trai như bộ Kaki”. Sãi nghĩ thêm, lười biếng như mình, mặc thứ này cũng
tiện. Đi, đứng, nằm, lết… đều được cả. Trái với những lần đi phép trước, lần
này, lần cuối; Sãi trở về với những nổi lo bồn chồn. Không rõ nét. Từ trước Sãi
vẫn mong có thêm một cuộc sống nhiều thay đổi một chút, để có thêm cái lạ để
viết, nên thấy không nên bị lôi cuốn bởi nổi lo lắng của bạn bè, về vấn đề đi
đâu, ngành gì. Nhưng dù sao nổi chờ đợi quá quắt đó cũng làm Sãi ít thấy yên.
Điều quyết định làm Sãi vui là sẽ trở về với Thị ở Tuy Hoà trong vài ngày trước
khi đến đơn vị. Và Sãi chờ ngày ra đi với những dự tưởng phong phú trong đầu:
Ao len đỏ, vòng bạc, bánh bao thịt chuột, Chân Trời Tím, nụ hôn đêm từ biệt…
Chị Tẩu chuẩn bị cho lần ra đi này của
Sãi với nổi hoang mang ngùi ngùi. Sãi được về Phan Thiết, lính con rùa, may
xong bốn chiếc quần cộc, hai chiếc đỏ, hai chiếc rằn, chị Tẩu nhắc lại màu đỏ
là màu máu cậu có nghe anh Thung nói không? Sãi cười cười, tôi ưa màu đỏ áo
len. Chị Tẩu chỉ biết cười Sãi, nhưng chị vẫn không ngớt hoang mang sao đó về
chuyến ra đi của em. Khác với những lần trở về, ra đi trước lúc còn dạy học ở
Tuy Hoà, chuyến ra đi với cuộc sống nhiều đổi thay bất ổn dành cho Sãi ở một
miền núi rừng xa lạ nào đó ám ảnh chị. Rồi chị không vui mấy. Sãi bảo nhỏ, chị
yên tâm - cũng sẽ được trở về với con nít, với cô giáo áo đỏ, vòng bạc, chị
đừng có lo…
Con chim bắt đầu dời khỏi lồng, Sãi đi
Nha Trang với một người bạn trước khi đến Tuy Hoà. Vừa bị xúc động bởi quá
nhiều chuyến ra đi, ở lại của bạn bè; Sãi thấy mình cũng yếu đuối; cần có Thị
bên cạnh để được trở lại cái mức độ bình thường. Vô số hình ảnh lộn xộn trong
đầu, âm thanh của tiếng reo vòng bạc bên tai đêm từ biệt, tiếng hát tân nhạc
cải lương Căn Nhà Ngoại Ô cũng lao xao trong trí nhớ. Dường như từ ngày vào
lính Sãi cũng sống nhiều cho ký ức thôi. Sãi cố tình để cho sự tưởng tượng hoạt
động mạnh. Nào Thị áo đỏ nơi phòng trọ cũ, buổi chiều ở con đường số 6, đêm đêm
lang thang ở các ngõ vắng .. Tưởng tượng làm Sãi vui và nghĩ, lần này chắc sẽ
có nhiều chuyện kỳ kỳ hơn.
Thị từ Huế vào Tuy Hoà một tuần trước
ngày khai giảng. Sãi đến Tuy Hoà trong lúc Thị còn hưởng một tuần còn sót cho mùa
hạ. Như vậy sẽ tha hồ mà nói chuyện cho bù lại những ngày mỗi đứa bị đày mỗi
ngả. Sãi hăm hở hấp tấp tìm tới Thị trước buổi chiều xuống thấp. Thị gặp Sãi,
kêu:
- Anh Sãi, Anh Sãi mới
về?
Thị cười tíu mắt, nghịch ngợm một chút
trong vẻ ngây thơ dành cho một người tình đi xa về:
- Răng anh ốm rứa? Anh
viết thư nói với em mập lắm mà?
Sãi muốn nói bằng một cái hôn, cái hôn
nói được tất. Và Sãi đã tưởng tượng ra cái hôn chắc phải dài hơn đêm hôm ra đi,
nhưng cười nói:
- Anh đã nói cái mập
đời lính sớm nở tối tàn, bây giờ anh đang ở vào cái lúc tàn. Mập một hồi, rồi
đâu cũng vào đó cả.
Sãi nhìn kỹ gương mặt mặt Thị như có lần
tẩn mẩn ngồi lục tấm ảnh ra xem, Sãi giọng buồn:
- Sao em có vẻ hao gầy
nhiều thế?
- Có răng không?
- Anh lại thương hơn
cái vẻ hao gầy đó của Thị…
Vẫn mớ tóc biếng chải một chút, gương
mặt ngây ngô và chút hốt hoảng chưa tỉnh, dáng điệu hao gầy ngờ ngệch, Sãi
thương quá cái xót xa của Thị trong những ngày đợi chờ. Sãi kêu Thị đã không
nghe lời dặn hãy ăn ngũ cho thật nhiều vào.
- Thị…
Sãi nôn nao được sống trở lại cái không
khí cũ, cùng Thị ra đường, cùng Thị đi lan man như những ngày mùa đông năm
ngoái. Thị xã gió cát nên đã vắng thêm nỗi xác xơ thật đáng thương. Những con
đường đêm tối cùng đi, cùng ăn hạt dưa, bánh bao thịt chuột còn đó với sự mong
chờ kiên nhẫn như Thị. Sãi bảo anh chỉ có hai hôm để cùng em sống lại cho những
ngày kỷ niệm dự định.
Buổi tối trở về thân mật trong con ngõ
vắng sực nức hoa sầu đông, Sãi đưa Thị ghé thăm nhà trọ cũ. Sãi giới thiệu Thị
với bà chủ nhà:
- Má, cô giáo của con
đây này.
Thị cười thẹn bên Sãi trước hiên nhà
quá vắng - căn nhà trước đây là nơi ồn ào của bọn Sãi với những hôm tụ nhau lại
đánh bài nói dóc, và bàn chuyện chống những bất công ở ty. Sãi có chút ngậm
ngùi trong sự có mặt, trở lại của mình, trong lúc Điềm, Khuê, An đã làm lính đi
xa. Đã một đời xuôi ngược.
Tự dưng Sãi ngồi cười cười một mình,
Sãi cười cười cái vồ vập ít tìm ra nơi mình xưa nay, Sãi nghĩ lúc này người có
nghị lực mấy cũng ít giữ được cái bình tĩnh trước cuộc sống. Không sống vội
không xong. Cuộc sống chỉ có hai ngày. Hai ngày là hai đêm. Lúc nghe tiếng còi
thúc giục ngoài phố, Sãi đưa Thị về, giới nghiêm. Những tham lam mong đợi làm
gì có thể yên với những người yêu nhau, như Sãi, như Thị trong một buổi chiều,
buổi tối. Sãi vẫn thấy là mình chưa nói được một phần những gì mình nghĩ, cho
Thị. Cho người yêu nuôi dữơng bấy lâu trong những giấc mơ. Con ngõ tối mù, Sãi
hẹn sáng sơm mai lên đón, Thị gật đầu cười.
Ròng rã hai ngày Sãi và Thị ngồi ở góc bàn
nhà trọ nói chuyện đến nổi quên cả cơm nước. Ngồi bên người yêu, không ăn cũng
no, Sãi thấy quả có đúng phần nào. Những bữa ăn không giờ giấc qua loa chuẩn bị
cho một cuộc tiếp tục nói chuyện dài hơn, giúp Sãi tìm thấy nỗi an ủi cho ngày
ra đi. Những ly nước cam Sãi tự tay ra quán mua về, để đó đến lạt rồi đổ. Kỷ
niệm ghi thêm cái góc phòng, những ly nước cam , gói mứt hạt sen…thị xã này quá
quen với Sãi, với Thị - Sãi muốn có một sự yên vắng của cái góc phòng để sống
với Thị cho thực nhiều”năm phút đứng đắn” trong một ngày.
- Thị, bây giờ lũ mình
không phải chỉ sống với những kỷ niệm rực rỡ, mà cả với những thực tế của anh,
của em…
Tình yêu mà có lần xa cách sẽ làm đậm
nét tình yêu, đó là một cách nói mà Sãi nhắn nhủ Thị, Sãi đã dành cả buổi sáng
ở công viên chờ giờ xe chạy, để nói với Thị những câu dặn dò hơn yêu thương.
Chứng tỏ đã có nhiều nỗi lo trong lòng cả hai. Và cũng bắt đầu cho những chua
xót phải có trong những cuộc tình. Sãi thấy lòng mình lại nao nao như lần trở
về, như vừa gặp Thị. Sãi nhìn vu vơ lên đầu đường Trần Hưng Đạo, từng cơn gió
cát bốc mù. Gió khô và gay gắt nóng. Lúc xe trờ tới trình giấy tờ xong, Sãi mới
chịu dời Thị, nhảy lên.
- Anh đi sẽ mạnh giỏi
nhưng em phải đừng buồn.
Có
cuộc tiễn đưa nào mà không buồn đâu, có chuyến ra đi nào mà không xuôi cho lòng
yếu đuối trong cuộc sống vây phủ yêu thương? Thị khóc, Sãi bùi ngùi. Thương và
lo cho nỗi xốc xếch, lôi thôi hao gầy của Thị với dáng dấp bé bỏng của cô em
gái nhiều tình nghĩa phải sống với những tháng ngày kế tiếp cô đơn.
Sãi đến trình diện trễ trong lúc
nhiều người đã được đưa đi về các đại đội thực tập, nên sáng chiều hai buổi
phải có mặt vài phút rồi trở về qua sông ngồi uống cà phê. Con sông chia đôi
thành phố, làm thành phố có vẻ tách biệt dễ thương. Chiều hôm mới tới Phan
Thiết, nhìn thành phố rộng rãi, và có vẻ ngơ ngác của một tỉnh lẻ, Sãi thấy mến
thành phố này. Rồi lại đi coi máy bay thả bôm ngoài tỉnh, Sãi nhận ra tình hình
ở đây chắc không được yên lắm. Thành phố khép nép, sợ sệt, cửa đóng như một
buổi chiều nhàn hạ cuối năm. Sãi không thấy buồn gì về những nguy hiểm đang chờ
đợi, có nghĩ chỉ thêm mệt xác. Và thoáng có ý ngông ngông là mong có súng để
được đi đánh nhau cho biết. Trở về, qua sông mua tờ báo đọc “Tiếu ngạo giang hồ”
và nghĩ đến Thị, cười cười một mình.
Ở bên này và bên kia sông , Sãi đều có
nơi để ghé lại, vui vẻ và thân tình. Nhà bà bác rất thương Sãi, và nhà người
bạn có không khí yên ổn của cuộc sống công chức. Và có hai cô gái để bàn chuyện
lúc buồn. Sãi nghĩ, với cái đà bắt bạn nhanh này Sãi sẽ đở thấy cô quạnh, tìm
lại cái không khí rộn rã tiếng cười lúc ở nhà. Sãi thấy lo cho Thị với những ý
nghĩ ra đi biền biệt về mình của nàng, nhưng rồi yên tâm trở lại khi tính biết
lá thư nặng trọng lượng 15 trang vừa gởi chắc đã tới Thị vào chiều nay.
Sãi nhận được lệnh đến đóng tại đồn
Nora, cách Phan Thiết chừng 30 km, sát quốc lộ số 1 về phía bắc. Đồn ở trên một
ngọn đồi gồm nhiều căn “nhà” bằng bao cát, rộng và chắc. Hôm mới đến, Sãi thấy thích cái đồn nhìn xuống
quan sát xóm nhà nằm kề quốc lộ. Chung quanh có đồi thấp, rừng thưa. Một người
lính nhìn Sãi cười, chuẩn uý lên đây tha hồ bắt chim, và đọc chưởng.
Sau một ngày hành quân vượt qua
nhiều đồi, suối và làng xóm, Sãi và đại đội mò xuống quốc lộ, ngồi chờ xe chở
về phố. Lúc nhìn những cô gái cỡi hon da từ phố chạy ra, Sãi mới nhớ, ngày mai
là ngày chủ nhật. Thêm một ngày nghỉ cuối tuần, một nỗi vui trở về sau một cuộc
hành quân không sứt mẻ. Phải nói là trong những lần ra đi thế này, Sãi được gợi
lên những ý nghĩ chia xa nhiều nhất. Và ngay cả thành phố, và bạn bè vừa từ giã
lúc sáng, có ai tin chắc được là họ sẽ trở về vào buổi chiều với bữa cơm chờ
sẵn? Với tách cà phê, và tờ báo khi qua bên kia sông? Do đó, Sãi mong được sống
yên bên những giãi bày yêu thương với Thị, và dự định trở về bên nàng nếu cuộc
chiến chỉ dợt mình như trò chơi, rồi trả Sãi về với dự ước riêng. Sãi nao nao
khi hình dung đến một cuốn truyện mình định viết, tha thiết từng ngày như tình
yêu Thị. Ngay cả lúc dừng chân, nằm lơ vơ trên một ngọn đồi lạ, úp nón sắt lên
mặt. Sãi thèm quá hơi gió mát trên đồi, sắc nước trong dưới suối, và những cánh
đồng hoang nhiều cỏ may. Sãi định bụng sẽ viết cho Thị những ý tưởng đó, và chỉ
có bấy nhiêu thôi.
Xe dừng lại đổ lính xuống, Sãi đi tìm
ngay một ly cà phê, cho buổi chiều, không nghĩ tới bữa cơm. Bữa ăn lúc trưa với
thịt con chim so đũa, với lít rượu đế, vẫn còn nồng đầy trong bụng. Tự dưng Sãi
lại cười, khi ăn hết con chim so đũa, và uống hết nửa chai rượu, ông Trung uý
đại đội trưởng mới nhớ là mình phải ăn chay, kiêng rượu và thịt.
Trở về nhà người bạn với Sãi là để
được hưởng lại cái không khí đầm ấm, với bà già vui chuyện, người bạn nhiều tâm
sự, hai cô gái có người tình vừa đi xa, và những lá thư của Thị, của bạn bè nằm
chờ sẳn. Trong những ngày ở đó, Thị đã là đề tài hấp dẫn cho Sãi nói đến, nghĩ
ngợi trong đầu. Sãi dần dần nhớ lại hết thảy, nhất là hình dáng hao gầy, lôi
thôi của Thị trong hai ngày về thăm lại. Cuộc sống một tháng đôi lần được trở
về phố yên lành, giúp Sãi tin hơn ở những dự tính đã nghĩ, đã bàn với Thị.
“Nora
ngày 1/2/68
Thị,
Tháng
ngày coi như em không có thư cho anh. Nhiều buổi chiều có người từ Phan Thiết
mang sách báo và thư lên, không thấy có tuồng chữ em, buồn. Hồi hôm, trăng sáng
đến độ không ngủ được, hết ngồi trên xe GMC coi lính đánh bài( chớ không đánh
bài) lại trèo lên trên “lốc” nằm, bốn giờ sáng mơ thấy em với nhiều chuyện lộn
xộn không mạch lạc, tỉnh dậy nhớ quá , uống trà rồi viết được ít hàng lại xé
bỏ. Anh chợt thấy một”câu hỏi”có thể giải thích tại sao em không viết cho anh:
có phải vì anh quá thành thực (nói đủ mọi chuyện) nên anh bị nghi ngờ và làm em
nản ? nếu đúng vậy, cũng chẳng có gì đáng trách về phần em. Còn phần anh có lẽ
cũng không đáng trách nốt. Cái tính vốn dễ gây ra xa cách vì ngộ nhận, quen
thói rồi, thây kệ. Còn nhớ con số 13/12 anh bảo em ghi sau tấm hình đầu tiên
đưa anh? Khi nhận thư này, biết đâu không phải là ngày tháng đó. Khác này, mùa
lạnh năm nay mỗi đứa một nơi . Riêng anh thì núi đồi này, chim sóc và rừng cây
khô lá này làm anh viển vông thêm và không ngớt mơ mộng. Trong nỗi mơ mộng dông
dài đó, chuyện tình chúng mình vẫn là thứ dễ hồi tưởng và có rất nhiều ngậm
ngùi (như thể tình yêu là những tội nghiệp và dễ thương) tuy cũng rất nhiều dịu
dàng xao xuyến: Mấy hôm rồi, đầu tuần trăng, anh xuống xóm uống tới tối mới
lên, tới giữa dốc anh nằm dài và muốn nằm ngửa thế mãi. Những lời muốn đi xa,
muốn quên hết của anh, những cách xa giữa anh và những thân tình ở chỗ này, chốn
nọ, đã tạo cho anh những đêm như vậy. Nằm dài trên dốc bất kể bạn bè và lính
chờ, anh vui thích nghĩ là đang sống những phút quên thôi, cho anh, cho em.
Những gì em ước ao nhưng không thể thực hiện thì anh đang sống thế cho em đó,
đừng có ham và cũng đừng có đòi nữa.
Nói
như vậy cũng chưa hết cái lạ trong này đâu (lạ ở đây có nghĩa: những gì anh
sống khác hồi này năm ngoái). Những buổi ngồi trên cái xe xọc xạch chạy về Phan
Thiết, ào ào , anh cho đó là những buổi chiều tự mình thấy xa xôi, biền biệt
nhất . Bình thường thì sau những lúc đó phải viết thư. Nhưng hồi này, dường như
em cứ bướng bỉnh cố cứ tạo một không khí riêng mà buồn, anh”bất khả” can thiệp,
khiến anh đã nghĩ đến em hết còn muốn anh phiền hà để riêng em, em sống? Nếu
đúng vậy, em không nói ra, em dở hết cở. Mình vốn”tôn trọng pháp luật công
minh: 2+2 bằng 4” mà. Còn nhớ câu….danh ngôn ”Sự học như con thuyền trên dòng
nước ngược, không tiến thì lùi” Tình yêu là sự học không? Trả lời thử coi, đừng
làm biếng. Không đâu. Những cái học được trong tình yêu đắt giá quá, học chi
cho mệt. Nhưng nó giống sự học ở chổ không tiến phải lùi phải không?
Anh
vừa viết xong khúc đầu một cuốn sách. Em được mô tả một cách hết sức kỳ cục.
Chừng nào có báo Xuân anh gửi cho coi sẽ rõ. Giờ thì anh viết một cuốn khác,
còn cuốn kia định chừng nào về gặp lại em, hỏi ý kiến em rồi mới viết. Em có
muốn cái nhân vật giống em đó có…một đứa con để dẫn đi phố cho vui vào cuối
cuốn sách ?
Em
vẫn còn chỗ ở cũ? Nói rõ em sống lúc này ra sao. Bạn bè đi lính vừa rồi có ghé
vào Tuy Hoà? Chắc bây giờ họ chịu đời lính hơn đời dạy học. Tâm trạng chung mà,
sống mà sống đời lính mới là tuổi trẻ và bay bướm, trừ anh, anh chỉ cần một chỗ
ngồi tán dóc với bè bạn, một xó xỉnh để ngồi một mình mà viết, nên rất mong về
dạy lại. Mỗi ngày một buổi qua cầu, về làng dạy học, còn lại là của mình. Em
chịu đựng được lối sống đó.
Bắt
đầu nói chuyện về quê ăn Tết và … lấy chồng chưa? Tết năm nay chắc không phải
chạy mỏi chân và sợ máy bay như Tết năm vừa rồi đâu. Sống ở Tuy Hoà thì dường
như chẳng có gì, nhưng đi xa mới thấy có nhiều thứ lẩm cẩm đáng nhớ. Sao Tết
này chính phủ không phát động một chiến dịch cô giáo đi thăm các tiền đồn để
chúng mình gặp nhau trong hoàn cảnh lắt léo, ly kỳ?
Nhớ
là phải viết ngay cho anh sau khi nhận thư này. Em bắt đầu phải mặc áo ấm mùa
lạnh năm ngoài chưa?”
Chiều thứ bảy 10 tháng 1 năm 1969 Thị
rủ Nga cùng xuống phố để nhận thư và sắm ít đồ trước ngày về nghỉ Tết. Mai đưa
cho Thị tấm điện tín: “Sãi tử trận tại
Phan Thiết, ngày 08 tháng 01 năm
1969. Nguyễn Hiếu Học.” Thị bàng hoàng, se thắt. Sãi đã chết thực rồi.
Chúng ta không ngờ đoạn kết của câu chuyện tình giữa Sãi và Thị ngậm ngùi xót
xa đến thế. Sãi đến với Thị và ra đi mãi mãi đúng một năm - một năm tròn cho
một mối tình giữa thời ly loạn, phải chăng đã là quá dài? Tình yêu, tuổi trẻ…
trong ngọn lửa chiến tranh hung tàn, phi nhân, dễ bốc cháy và tàn mục như những
xác lá vật vờ cuốn theo chiều gió vô dịnh…
Sãi đã ra đi, có thể về miền “cao nhất”, còn lại Thị và những kỷ niệm
lây lất buồn rầu, trên cõi tạm trần gian đầy hệ luỵ - chỗ dung thân “thấp nhất” của kiếp người cô đơn, bé
bỏng…
Tuy
Hòa, tháng 5 năm 1969
(trong di cảo “Có Loài Chim Lạ”
Tập truyện Y Uyên-Ns Tân Văn 1969)
Tập truyện Y Uyên-Ns Tân Văn 1969)
MANG VIÊN LONG
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét