Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2016

CUNG CHÚC TÂN XUÂN

8 NGÀY Ở TRUNG QUỐC  
Phần 1



* Sơ lược Địa Lý, Lịch sử Trung Quốc:

Lãnh thổ Trung Quốc trải dài trên 50 vĩ tuyến từ Bắc xuống Nam. Bao phủ cả vùng xích đạo, vùng nhiệt đới, ôn đới và hàn đới. Từ Đông sang Tây, quốc gia nầy bao trùm 62 kinh tuyến, rất nhiều núi rừng, cao nguyên, thảo nguyên, sa mạc, đồng bằng...


Nằm ở hướng Đông Nam châu Á, Trung Quốc có diện tích 9.6 triệu cây số vuông - nhỏ hơn Canada, lớn hơn Hoa Kỳ, có đường biên giới trên 20.000 cây số, chung với Việt Nam, Lào, Miến Điện, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, Pakistan, Afghanistan, Tajikistan, Kyrgyz Stan, Kazakhastan, Nga, Mông Cổ và Bắc Triều Tiên, có bờ biển dài 18.000 cây số. Và, Trung Quốc là một trong những quốc gia có chiều dài lịch sử lâu nhất thế giới.

Chữ viết cổ của Trung Quốc được cải biến và hiện nay đang sử dụng, có trên 4006 năm. Là một quốc gia có những nền văn minh gần 3.600 năm.

Trong khi huyền thuyết phương Tây cho rằng “Thượng Đế tạo ra Trời Đất và con người.”  thì ở Trung Quốc, theo Lão Tử nói “Đạo sanh một, một sanh hai, hai sanh ba, ba sanh vạn vật. Một đó là Thái cực, Hai đó là Âm Dương, Ba đó là Tam Thiên Vị (Ba ngôi: Thái cực, Dương và Âm). Âm và Dương thâu nhận Sanh quang từ ngôi Thái cực, rồi vừa xung đột vừa hòa hiệp, để tạo thành trời đất, vũ trụ và vạn vật. Cho nên theo ông, trong vạn vật đều có Âm Dương: Vạn vật đều có cõng một Âm và bồng một Dương.”
   
Còn theo cổ thư của Trung Quốc thì mô tả: “Âm dương đại biểu cho hai dạng vật chất tồn tại phổ biến trong vũ trụ, một dạng có dương tính, tích cực, nhiệt liệt, cứng cỏi và một dạng có âm tính, tiêu cực, lạnh nhạt, nhu nhược... Hai thế lực âm và dương tác động lẫn nhau tạo nên tất cả vũ trụ.”
   
Ngày nay khoa học đã chứng minh những huyền thuyết đó, chỉ là cách nghĩ của những con người ở thời kì đồ đá thô sơ mà ra.
   
Ở Trung Quốc, các nhà khảo cổ học, đã tìm thấy những con người hóa thạch cách đây trên 3 triệu năm. Đó là chứng tích có thể chứng minh, Trung Quốc từng là một trong những cái nôi của loài người. Và, Trung Quốc có ông Bành Tổ sống đến 800 năm. (?)

Lãnh thổ Trung Quốc rộng bao la nên có rất nhiều sắc tộc. Trong đó có có 50 sắc tộc lớn. Mỗi sắc tộc lớn có vài chục sắc tộc nhỏ, tính ra có trên 800 sắc tộc. Mỗi sắc tộc có nền văn hóa, tập quán, ăn uống, ngôn ngữ… khác nhau và không có chữ riêng.

Chỉ riêng tỉnh Quảng Đông có diện tích gần 200 ngàn cây số vuông, trên 120 triệu người cư trú và khoảng 50 triệu người lưu trú. Ngôn ngữ Quảng Đông là chính. Bên cạnh đó, rất nhiều người còn sử dụng các ngôn ngữ của sắc tộc riêng như Triều Châu, Thiều Châu, Lôi Châu, Khách Gia,… ngoài ra còn có ngôn ngữ của các sắc tộc Choang, Dao, H’Mông,… Về tổ chức hành chánh: Tỉnh Quảng Đông có 21 Khu, 121 Huyện, 1.462 Xã. Thủ Phủ là đại đô thị Quảng Châu. Trung tâm kinh tế là Thẩm Quyến.

Trước khi lập quốc, để sinh tồn, những sắc tộc ấy sống từng bầy, từng đàn vừa để chia xẻ thức ăn vừa để bảo vệ lẫn nhau. Nhìn về một vài góc cạnh, sự kết hợp nhau để chung sống là điều tốt, nhưng chính nó đã gây và tạo ra nhiều mâu thuẩn, tranh giành giữa bầy, đàn nầy với bầy, đàn khác. Chiến tranh xảy ra.

Thuở ấy, Nghiêu là người hiền, lãnh đạo đàn, bầy hay hơn tất cả, đứng ra kết hợp các bầy, đàn lại và làm Vua. Khi Vua Nghiêu già, yếu không truyền ngôi cho con mà truyền ngôi lại cho người hiền khác đó là Thuấn. Vua Thuấn truyền ngôi cho Vua Vũ. Lịch sử gọi xã hội thời ấy là “Xã hội hòa thuận”.

Đến khi Nhà Hạ lập quốc thì cái “lệ” truyền hiền bị phá vỡ.

* Nhà Hạ:

Lập quốc từ thế kỷ 21 đến thế kỷ 16 trước Công nguyên. Truyền 17 đời vua, kéo dài 400 năm. 16 đời vua trước là những vị minh quân, lấy nhân nghĩa trị dân. Đến khi vua Kiệt lên ngôi, Kiệt là một hôn quân, đam mê tửu sắc, bị Thành Thang đánh đổ lập nên Nhà Thương.

* Nhà Thương:

Sau khi lật đổ Nhà Hạ, Vua Thành Thang lên ngôi, lập thành Nhà Thương từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 11 trước Công nguyên. Nhà Thương trị vì được 600 năm, với 31 đời vua.

Vua Thành Thang thấy được nhược điểm của Vua Kiệt, đổi chính sách cai trị, lấy lòng nhân mà đãi dân chúng và nổ lực chiêu hiền đãi sĩ, nhiều nhân tài tìm đến. Thời đó, Vua Thành Thang xây dựng được nền kinh tế lớn mạnh cho con cháu nhiều đời sau.

Vua sau cùng của Nhà Thương là Trụ Vương là một tên hôn quân bạo chúa, đam mê nhan sắc Đắc Kỷ, giết hại trung thần. Chu Võ Vương hưng binh phạt Trụ, lập thành Nhà Chu.

* Nhà Chu:

Nhà Chu, từ thế kỷ 11 đến năm 711 trước Công nguyên. Sau khi diệt Trụ, Chu Võ Vương đóng đô ở đất Cảo, thuộc tỉnh Thiểm Tây, vì vậy, các nhà sử học gọi là Nhà Tây Chu.

Nhà Tây Chu trị vì gần 800 năm, đến đời U vương thì mất nước. U vương là một ông vua tuy không bạo tàn như vua Trụ, nhưng say mê gái đẹp, đốt phong hỏa đài gạt chư hầu đổi lấy nụ cười nàng Bao Tự, nên bị mất nước vào tay quân Khuyển Nhung.
Sau đó, Bình Vương, cháu nhiều đời của Chu Vũ Vương, kết hợp một số quần thần cũ, lập nên Nhà Đông Chu, đóng đô ở Lạc Dương, nhưng triều đình thoái hóa, hoàng đế chỉ còn là hư vị, chư hầu thao túng, loạn lạc triền miên, gây ra thời Xuân Thu Chiến Quốc.

* Thời Xuân Thu Chiến Quốc.

Thời nầy lại chia ra làm hai giai đoạn:

      - Xuân Thu từ năm 770 đến 476 trước Công nguyên.
      - Chiến Quốc, từ năm 476 đến 221 trước Công nguyên.

* Thời Xuân Thu:

Các sử gia gọi thời Xuân Thu là lấy theo tên một cuốn sách của Khổng Tử. Thời ấy, Trung Quốc bị cắt chia ra thành nhiều mảnh vụn, với 150 nước. Trong đó, các nước lớn là Tề (Tề Hoàn Công); Tống (Tống Tương Công; Tấn (Tấn Văn Công; Tần (Tần Mục Công, Sở (Sở Trang Vương) sách sử gọi năm nước đó là Ngũ Cường, còn gọi năm vị vua đó là Ngũ Bá.

Các nước lớn, nhỏ, thường đem binh chinh phạt nhau làm cho Trung Quốc thời kỳ đó vô cùng hỗn loạn, dân tình đảo điên, khổ sở. Mãi đến năm 579 và năm 546 trước Công nguyên, Tấn với Sở ký hòa ước, hoàn bình mới tạm thời vãn hồi vùng Trung Nguyên.

Sau đó, hai nước Ngô, Việt nổi dậy giành quyền thống trị Trung Nguyên. Ban đầu nước Ngô đánh bại nước Việt. Việt Câu Tiển, tin dùng Phạm Lãi, dùng mỹ nhân kế, đưa nàng Tây Thi sang Ngô. Nhà Ngô không nghe lời của Ngũ Tử Tư, bị sụp đổ.

Theo sách sử, thời Xuân Thu có 36 vị vua bị giết và 52 nước chư hầu bị xóa sổ.

* Thời Chiến Quốc:

Cuộc chiến thời Xuân Thu kéo dài, cuối cùng còn lại bảy nước mạnh nhất: Tề, Sở, Yên, Hán, Triệu, Ngụy và Tần. Thời đó, gọi bảy nước đó là Thất Hùng.

Bảy nước đó, mở mang bờ cõi bằng cách gây chiến tranh, cấu xé lẫn nhau và xâm chiếm rồi sát nhập các nước yếu hơn vào nước mình để thống trị.

Nước Tần ở hướng Tây, diệt 12 nước khác, sát nhập vào lãnh thổ Tần. Năm 256 trước Công nguyên, nước Tần lật đổ Nhà Đông Chu.

Năm 221 trước Công nguyên, nước Tần dẹp 6 nước còn lại, thống nhất Trung Quốc, lập nên Nhà Tần.

* Nhà Tần:

Sau khi lập đổ Nhà Đông Chu, kết thúc thời Chiến Quốc. Thống nhất giang san, Tần Thủy Hoàng bãi bỏ và cải cách chính sách cai trị. Quyền bính đều về trung ương, mở thành trang sử mới “trung ương tập quyền” đầu tiên ở Trung Quốc.

Tuy thời gian cai trị chỉ có 15 năm (từ 221 đến 206 trức Công nguyên), nhưng Nhà Tần đã để lại nhiều sách lược quốc gia ảnh hưởng lớn lao và các triều đại sau nầy vẫn noi theo.

Để bảo vệ biên giới phía Bắc, Nhà Tần cho xây Vạn Lý Trường Thành. Một dãy trường thành cách nay đã trên 2.200 năm, vẫn còn sừng sững, trơ gan cùng mây gió.  
   
Khi lên ngôi, Tần Thủy Hoàng mới 13 tuổi, chịu áp lực của Tể Tướng Nhiếp Chính Lã Bất Vĩ, nhưng Tần Thủy Hoàng rất thông minh, am tường chính trị, đến 22 tuổi vị vua nầy nắm chặt quyền bính trong tay, trở thành nhà chính trị đại tài.

Tần Thủy Hoàng chia Trung Quốc thành 36 quận, đứng đầu quận là một quan Thái Thú, tất cả những cơ sở từ địa phương đến quận đều chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt của chính quyền Trung Ương. Ngoài ra còn sửa đổi thống nhất đơn vị đo lường và chữ viết. Ông khuyến khích dân xuống phương nam khai hoang lập nghiệp...

Khi xây Vạn Lý Trường Thành, Tần Thủy Hoàng cưỡng bức hàng triệu người đến để làm dân phu, đa số thành phần đó là quan quân chiến bại của 18 nước vừa mất. Vì vậy gây phẫn nộ trong giới nầy không ít, vì thế nó ảnh hưởng đến đế chế Nhà Tần. Bọn sĩ phu 18 nước ấy xúi giục dân chúng nổi dậy. Nhân cơ hội, Lưu Bang khởi nghĩa, lật đổ Nhà Tần lập Nhà Hán.
    
* Nhà Hán:

Sau bốn năm giao tranh ác liệt với Hạng Võ (từ 198 đến 202 trước Công nguyên), Lưu Bang chiến thắng. Bốn năm sau nữa dẹp xong các phần tử đối nghịch (202-206). Lưu Bang lên ngôi lập nên Nhà Hán. Đế hiệu là Cao Tổ. Và, Nhà Hán trị vì Trung Quốc đến năm 24 sau Công nguyên. Sử sách gọi thời kỳ nầy là Nhà Tây Hán.

Trong thời gian trị vì Trung Quốc, Lưu Bang rút ưu khuyết điểm của Nhà Tần mà kiện toàn quốc sách. Về mặt chính trị, đáng chú ý nhất là ban hành đạo luật giải phóng nô lệ, giảm bớt sự phụ thuộc của nông dân vào thương nhân, loại bỏ những sự rườm rà từ luật pháp Nhà Tần để kiện toàn luật pháp Nhà Hán. Kêu gọi quân lính giải ngũ về quê và cấp nhà cửa ruộng vườn cho họ sinh sống.

Khuyết điểm của Lưu Bang là ban phát nhiều lãnh địa tự trị cho họ hàng và các tướng lãnh. Vì vậy, về sau mới có cuộc “Nổi loạn của Bảy Vương Quốc”. Thời may, Hán Đế dẹp tan loạn nầy.
Vũ Đế, nối nghiệp Cao Tổ, mở rộng bờ cõi, đồng thời chinh phạt, đánh tan giặc ngoại xâm. Khi đánh đuổi quân Hung Nô ra khỏi biên giới, đẩy chúng đến tận sa mạc Gobi phía Bắc.

Vũ Đế là người sáng lập ra “Con Đường Tơ Lụa”, để chuyển hàng hóa hai chiều Đông - Tây và ngược lại. Nhờ con đường tơ lụa nầy mà hai dòng tư tưởng Đông - Âu gặp nhau.

Những năm cuối của Nhà Tây Hán, nhiều vị hoàng đế còn thiếu niên đã ngồi trên ngai vàng, quyền thế lọt vào tay các nhiếp chính. Vì thế, xảy ra nạn quần thần tranh giành quyền lực, vương quyền bắt đầu suy sụp. Các cuộc nổi dậy chống Nhà Hán tràn ngập khắp Trung Nguyên. Đến năm thứ 8, sau Công nguyên, Vương Mãng - một người có họ hàng với hoàng hậu, đứng lên xưng vương. Năm 23, (sau Công nguyên) Vương Mãng bị quân nổi loạn giết chết. Năm 25 sau Công nguyên, Lưu Tú là cháu nhiều đời của Hán Cao Tổ, đứng lên kêu gọi con cháu quần thần còn trung thành với Hán Đế và nông dân nổi dậy, lập ra nhà Đông Hán.

* Nhà Đông Hán:
   
Sau khi lên ngôi, Lưu Tú đóng đô ở Lạc Dương, nổ lực cải tổ nền cai trị, nhưng gặp thời không may, hạn hán xảy ra nhiều nơi, người dân trở nên đói khổ, Lưu Tú tận lực giải quyết bằng cách miễn và hạ mức thuế xuống mức tối đa, tiếp tục thi hành luật giải phóng nô lệ, giảm bớt quyền lực của thái giám và đào kinh dẫn nước, khuyến học, chẳng bao lâu nền kinh tế phục hồi.

Ngoài ra, qua “con đường tơ lụa” Lưu Tú đã phát triển ngoại giao với 50 nước phương Tây. Tiếp nhận nền khoa học, kỹ thuật mới. Thời ấy, Trung Quốc đã biết gây mê trong phẫu thuật, giấy đã sản xuất theo công nghệ. Hồi giáo, Phật Giáo cũng theo con đường tơ lụa xâm nhập Trung Quốc. Trong 32 năm trị vì, Lưu Tú đã làm cho Trung Quốc trở nên cường thịnh.

Cuối thời Đông Hán, “giặc” Khăn Vàng và nông dân nhiều nơi nổi dậy. Trong khi ở phương Bắc, Tào Phi (con Tào Tháo) lại xưng vương nhà Ngụy. Trung Quốc lâm vao tình trạng phân chia.
    
* Thời Tam Quốc:
    
Năm 220 (sau Tây lịch), Tào Phi xưng Đế ở phương Bắc. Năm 221, Lưu Bị xưng Đế ở đất Thục. Đến năm 229 thì Tôn Quyền xưng đế ở nước Ngô. Thế là, Trung Quốc bị chia cắt làm ba vùng cai trị khác nhau. Sử sách gọi đó là “Thời Tam Quốc”.
   
Sau khi Tào Tháo thua trận Xích Bích (do Lưu Bị và Tôn Quyền hợp lại đánh), kéo quân thẳng về phương Bắc mở mang nông trại cho quân dân, xóa bỏ quyền lực của các đại điền chủ, của hoàng tộc và những đặc quyền của thái giám, tận dụng nhân tài... Tào Tháo thật sự là một nhà chính trị đại tài. Nhưng sử sách Nhà Hán gọi Tào Tháo là gian hùng, bởi vì, quan Ngự Sử là người hưởng lộc của triều Hán. Hiện nay, các nhà sử học Trung Quốc đang nghiên cứu và viết lại thực chất của Tào Tháo trong lịch sử Hán Triều. Khi Tào Tháo mất, Tào Phi tiếm quyền xưng đế.
   
Trong khi ở Thục Hán Lưu Bị cũng cố gắng xây dựng đất nước và kết hợp tốt với nhiều dân tộc thiểu số, thì ở  Đông Ngô, Tôn Quyền phát triển mạnh nghề biển.
   
Năm 263 nước Ngụy đánh tan nước Thục Hán, Nhà Thục Hán chỉ tồn tại 42 năm, với hai đời vua. Năm 265, quan trọng thần của Ngụy là Tư Mã Viêm lật đổ nước Ngụy xong, đánh chiếm luôn nước Ngô (năm 280) lập thành Nhà Tấn. Thời Tam Quốc cáo chung.

* Nhà Tấn:
    
Sau khi đánh tan Ngụy và Ngô (nước Thục đã bị Ngụy thôn tính trước rồi) Nhà Tấn đóng đô ở Lạc Dương. Sử sách gọi là Nhà Tây Tấn.
   
Nhà Tây Tấn chỉ tồn tại có 51 năm (từ năm 265 - đến năm 316, sau Tây lịch), đây là một triều đại rất nhiều hỗn loạn. Những xung đột giữa các dân tộc và giữa bọn quan lại càng ngày càng dữ dội. Ở trung ương họ ganh đua của cải; tranh nhau cách xa hoa. Trong cung đình bọn quan lại tha hồ tranh nhau về quyền lực, chia phe cánh. Cuộc chiến tranh “không đổ máu” nầy kéo dài 16 năm, làm suy sụp kinh tế, xã hội và ngay cả vương quyền.

Trong khi bọn quan lại địa phương đa số là lũ thất học, bọn bất nhân gặp thời, ỹ thế cậy quyền hiếp đáp, cướp bóc tài sản, đất đai của người dân bán cho ngoại nhân để thủ lợi riêng tư, khiến cho người người căm phẫn chực chờ thời cơ nổi dậy.
   
Trong khi bên ngoài, năm 308 “rợ” Hung Nô tự xưng là con cháu nhà Hán, hưng binh đánh chiếm Lạc Dương. Những người trốn thoát, chạy đến Tràng An, lập ra vua mới. Năm 316, quân Hung Nô lại tràn ngập Tràng An, chấm dứt nhà Tây Tấn.
   
Nhà Tây Tấn có 4 vì vua, trị vì 51 năm.
    
* Nhà Đông Tấn:
    
Sau khi Tây Tấn tan rã, một số hoàng thân quốc thích và cựu thần cũ chạy về phía Đông sông Dương Tử. Một người trong hoàng tộc xưng đế (năm 317) lập nên Nhà Đông Tấn. Chọn Kiên Khang làm Kinh Đô.

Những kẻ có công giúp dựng nên nhà Đông Tấn là những người có đặc quyền đặc lợi, nhưng họ xuất thân từ những vùng khác nhau, nên việc tranh chấp quyền bính, thế lực vô cùng hiểm ác. Họ trừ khử lẫn nhau.

Những cuộc nổi loạn bên ngoài tràn ngập, nhưng không được chính quyền quan tâm. Những bộ tộc đấu đá nhau tranh giành từng mảnh đất đai, không ai giải quyết.

Khi tướng Lưu Du dẹp yên các cuộc nổi loạn, bèn giết vua, tự xưng vương, lập nên Nhà Tống.

Nhà Đông Tấn có 10 đời vua, trị vì được 103 năm thì mất về tay Lưu Du.

Bấy giờ, Trung Quốc bước vào thời kỳ phân chia mới, kéo dài suốt 272 năm.
    
* Nam Bắc Triều:
    
Sau đời Tấn, Trung Quốc hoàn toàn bị phân rã. Hai cực Nam, Bắc có nhiều thể chế khác nhau. Từ năm 420 đến năm 589, lịch sử đất nước nầy, Trung Quốc đã chứng kiến nhiều cuộc hưng thịnh, suy tàn nhiều nhất.

Ở phương Nam trong vòng 160 năm có bốn nước kế tục nhau là Tống, Tề, Lương và Trần. Bốn nước nầy đều lấy Nam Kinh làm Thủ Đô, nên sử sách gọi chung là Nam Triều.
   
Trong 160 năm ấy, những vì vua của các nước trên thực sự có quyền lực trong khi các nhà phú hào, quý tộc lần hồi bị diệt vong. Những nhà học giả, trí thức có đất dụng võ. Họ được trọng dụng.
   
Trên phương Bắc, Hoàng Đế Bắc Ngụy thống nhất vùng sông Hoàng Hà (năm 439), lập ra Bắc Triều.
   
Người Bắc Triều thuộc giòng giống Thát Bạt, nhưng rất yêu chuộng văn hóa Hán. Các vị vua Bắc triều lại khuyến khích dân chúng nên ăn mặc theo người Hán, lấy vợ gã chồng cho người Hán, đồng thời cũng cất nhắc người Hán làm quan trong triều. Vô hình trung, người Thát Bạt bị Hán hóa lúc nào không hay.
   
Năm 581, tướng Dương Kiên ép vua Ngụy nhường ngôi, lập nên nhà Tùy.
    
* Nhà Tùy:
    
Dương Kiên lên làm vua, xưng là Văn Đế, năm 581 và dời đô về Lạc Dương. Sau khi lên ngôi, Văn Đế liền quyết tâm thống nhất đất nước, nổ lực kiện toàn quân bị, năm 589 đánh bại nước Trần phương Nam, thống nhất Nam, Bắc. Khi lên ngôi, Văn Đế bỏ tất cả các đặc quyền đặc lợi của hàng quý tộc và hoàng thân quốc thích, xóa khoảng cách giữa kẻ giàu người nghèo, cắt đất đai người giàu cho bần nông theo tỷ lệ số người trong nhà, đồng thời mở và kiện toàn khoa thi cử, chọn người hiền đức ra giúp nước. Hệ thống thi cử của Nhà Tùy tồn tại suốt 1.300 năm sau.
   
Thời kỳ nầy, Phật Giáo phát triển mạnh mẽ, những vị Đại Sư kiến thức uyên bác, đạo hạnh sâu rộng xuất phát nhiều nơi ở Trung Nguyên.
   
Đáng tiếc, đến đời Dạng Đế, vì ăn chơi sa đọa, loạn lạc nổi lên, đến năm 618 Dạng Đế bị Lý Uyên, kẻ tùy tùng thân tính giết chết.
   
Nhà Tùy chỉ tồn tại có 38 năm với 2 đời vua. Đây là một trong những triều đại ngắn nhất Trung Quốc.
    
*  Nhà Đường:
    
Nhà Đường là một đế quốc hùng mạnh, giàu có, phát triển nhất chẳng những trong lịch sử Trung Quốc mà cả trên thế giới vào thời kỳ đó. Ảnh hưởng Nhà Đường trải rộng đến các lục địa Âu, Á và châu Phi. Tràng An trở thành Trung Tâm Văn Hóa Đông - Tây.
   
Về phương diện Văn Hóa, Văn Học đã đưa triều đại nầy vượt lên cao hơn tất cả các triều đại trước.
   
Nhà vua tước quyền cai trị thị tộc của các địa phương. Hệ thống thi cử được hoàn thiện, việc thi cử được mở rộng tạo điều kiện cho mọi tầng lớp đều có cơ hội tham gia thi cử...
   
Bộ Luật Nhà Đường được hoàn chỉnh năm 624. Đây là Bộ luật hoàn chỉnh đầu tiên của Trung Quốc.
   
Đến đời vua Chiêu Tôn, vì không biết cai trị, triều chính bị nhiễu loạn, kinh tế suy sụp. Toàn Trung sai bộ hạ giết Chiêu Tôn rồi lập Ai Đế làm vua. Sau đó, Toàn Trung ép Ai Đế nhường ngôi cho mình. Lập nên Nhà Hậu Lương.
   
Nhà Đường trị vì được 290 năm (từ năm 618 đến năm 907). Bị mất về tay Toàn Trung.
    
* Thời kỳ Ngũ Đại và Thập Quốc:
    
Sau khi đế quốc Nhà Đường sụp đổ, Trung Quốc thêm một lần nữa bị chia năm, xẻ bảy. Ở Miền Bắc có năm nước nhỏ, gồm: Hậu Lương (907-923); Hậu Đường (923-936); Hậu Tấn (936-946); Hậu Hán (947-950) và Hậu Chu (951-960). Mỗi nước chỉ cai trị một thời gian ngắn ngủi.
   
Trong khi ở phương Nam chia thành 10 nước, gồm: Ngô, Nam Đường, Ngô Việt, Mân, Nam hán, Nam Bình, Tiền Thục, Hậu Thục và Bắc Hán.

So với các nước phương Bắc, những nước phương Nam tình hình chung được ổn định hơn nhiều.
   
Trong tất cả các nước ở hai cực, nước Ngô Việt cai trị lâu nhất, 85 năm.
   
Sách sử gọi đó là thời kỳ Ngũ Đại và Thập Quốc.
   
Trong suốt 53 năm (từ năm 907 đến năm 960) ấy, Trung Quốc lâm vào cảnh hoàn toàn suy sụp. 

Từ năm 955, Phật giáo ở phía Bắc rất lớn mạnh, nhiều thanh niên vào chùa để trốn lính (giống như thời kỳ trước 4/75, thanh niên trốn quân dịch, dưới sự bao che của các linh mục ở xứ đạo, các nhà sư ở chùa (!). Vì thế, chính quyền quyết định thế tục hóa trên 30 ngàn ngôi chùa. Đẩy bọn trọc đầu gian trá ra đi...
   
Đến năm 960, tướng Triệu Khuông Dẫn tiến hành cuộc bạo loạn, lên ngôi vua, xưng là Tống Thái 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét