DU LỊCH TRUNG QUỐC
THÁI QUỐC MƯU
phần 3
* Nhà Tống:
Nhà Tống lần lượt đẹp tan thời Ngũ Đại và
Thập Quốc.
Trên mọi phương diện, Nhà Tống được người
dân Trung Quốc xếp ngang hàng hoặc vượt cao hơn hai triều đại Nhà Hán và Nhà
Đường.
Trên ba trăm năm thống trị Trung Quốc, Nhà
Tống, vào thời kỳ đó, đã đưa đất nước nầy lên tột đỉnh vinh quang. Tất cả mọi
lãnh vực kinh tế, kỹ thuật, khoa học, trí thức, nghệ thuật... đều thi nhau tiến
hành tốt đẹp.
Thời kỳ nầy, các sử gia so sánh giống như
thời kỳ Phục Hưng ở châu Âu.
* Bắc Tống:
Triệu Khuông Dẫn lên ngôi, đóng đô ở Biện
Kinh. Với nhiều kinh nghiệm chiến trường vị vua nầy nổ lực tổ chức một quân đội
“không có và không thể đảo chánh”. Giới lãnh đạo binh nghiệp, là những người
chịu kiểm soát chặt chẽ từ trung ương. Nhà vua nổ lực cải tổ hệ thống hành
chánh, tuyển dụng quan lại và tổ chức thi cử chọn nhân tài. Thay thế giới lãnh
đạo quân sự từ hàng quý tộc, chuyển sang những người có thực tài, nhờ đó đất
nước được ổn định và phát huy được nhiều mặt trong nhiều năm.
Từ năm 1086 về sau bất đầu có sự suy thoái
do sự bất đồng ở tầng lớp quan lại cùng với các cuộc nổi dậy của nông dân.
Trong khi đó, ba nước đối nghịch với Tống là
Liêu, Kim và Tây Hạ luôn đe dọa và xâm phạm biên cương. Đến năm 1126 quân Kim
bao vây rồi chiếm Biện Kinh. Năm 1127 vua Tống bị hạ bệ. Kết thúc triều Bắc
Tống. Nhà Bắc Tống lập quốc từ năm 960 đến năm 1127 thì mất nước. Trị vì được
167 năm.
* Nhà Nam Tống:
Khi quân Kim bắt vua Khâm Tôn và gia quyến
về Kim. Cao Tôn trốn xuống phương Nam tiếp tục triều đại Nhà Tống. Sử gọi là
Nam Tống. Thực chất, triều Nam Tống không có quyền lực, luôn bất ổn và chỉ kiểm
soát được vùng phía Nam sông Dương Tử. Cao Tôn là ông vua nhu nhược, phá vỡ mọi
nổ lực cải tổ và tấn công của Tể Tướng Lý Cương. Trong khi đó, ở phía Bắc Trung
Quốc, ba nước Mông Cổ, Kim và Tây Hạ luôn thù địch, đấu đá nhau khốc liệt.
Khi quân Kim tràn xuống phía Nam sông Dương
Tử, Cao Tôn phải nghị hòa, chấp nhận triều cống.
Chẳng bao lâu, quân Mông Cổ đánh bại quân
Kim, sau cùng chiếm hẳn nước Kim. Vua Mông Cổ bắt đầu ghé mắt đến Nhà Tống. Năm
1276, Mông Cổ chiếm được Lâm An. Kết thúc Tống trào.
* Nhà Nguyên:
Sau khi thôn tính Nhà Tống, Hốt Tất Liệt lên
ngôi Hoàng Đế, nhưng ông ta không phải là người chính trị giỏi, nên việc cai
trị vẫn theo đường lối chính trị của các nhà vua Trung Quốc.
Trong thời gian 1340 đến 1350, chính trị Nhà
Nguyên bất ổn. quần thần chia rẽ trầm trọng, loạn lạc dấy lên, thiên tai hoành
hành. Những tay buôn lậu và nông dân do Chu Nguyên Chương cầm đầu đứng lên lật
đổ Nhà Nguyên. Vua cuối cùng Nhà Nguyên tháo chạy về Mông Cổ, trong khi quan
chức và dân Mông Cổ vẫn ở lại Trung Hoa, dần dần bị đồng hóa thành dân tộc Hán.
Nhà Nguyên xâm chiếm và trị vì Trung Quốc
được 89 năm (từ năm 1279 đến năm 1368), với 11 đời vua.
* Nhà Minh:
Sau khi lật đổ Nhà Nguyên, Chu Nguyên Chương
lên ngôi, ban đầu đóng đô ở Nam Kinh, sau di dời sang Bắc Kinh. Đây là triều
đại cuối cùng người Trung Quốc tự cai quản đất nước mình.
Vào thế kỷ thứ 15, Nhà Minh đạt được đỉnh
cao quyền lực: chiếm Mông Cổ, chinh phục Mãn Châu, cai quản Tây Tạng. Triều
Minh cũng là một trong các triều đại thịnh vượng nhất Trung Quốc.
Để ngăn giặc Bắc phương, Nhà Minh cho sửa
chữa và xây dựng hoàn tất Vạn Lý Trường Thành đã bị dở dang từ các triều đại
trước.
Năm 1644, Lý Tự Thành nổi dậy chiếm Bắc
Kinh. Khi ông còn đang thương lượng với tướng Nhà Minh là Ngô Tam Quế, thì tên
nầy rước quân Mãn Châu vào. Kết thúc Nhà Minh.
Triều đại Nhà Minh có 16 đời vua, trị vì
được 276 năm (từ năm 1368 đến năm 1644
* Nhà Thanh:
Nhà Thanh vốn tộc Mãn Châu từng được người
Nữ Chân xây dựng và tuyên bố là Hậu Kim Triều năm 1616 tại Mãn Châu, năm 1636,
đổi tên thành "Thanh", và mở rộng vào lục địa Đông Á và các lãnh thổ
xung quanh, lập nên Đại Thanh Quốc. Bao gồm các quốc gia: Trung Quốc
(1644-1659), Đài Loan (1683), Mông Cổ (1691), Tây Tạng (1751), Tân Cương (1759)
Đại Thanh thống trị Trung Quốc từ năm 1644
đến năm 1911 (268 năm). Đây là triều đại phong kiến cuối cùng ở Trung Quốc. Sau
khi lật đổ Nhà Minh, vua Thanh cho thi hành chính sách trả lại đất đai, ruộng
vườn cho dân, đồng thời giảm tất cả các loại thuế khóa. Nhờ đó, nền kinh tế
nông thôn Trung Quốc phát triển nhanh chóng.
Trong các vì Vua Thanh cai trị Trung Quốc, đều
nổi tiếng tài ba lỗi lạc. Đặc biệt, Càn Long là vị vua chăm lo cho dân nhất.
Khi Khang Hy còn tại vị đã có ý khuyên Thanh
Thế Tông Ung Chính (con trai Khang Hy) về sau nên trao ngôi cho Hoằng Lịch (弘曆). Sau khi tức vị, Hoằng
Lịch, xưng vương hiệu là Thanh Cao Tông (清高宗), dùng niên hiệu là Càn Long (乾隆), vì vậy được quần thần
tôn là Càn Long Đế (乾隆帝).
Nhưng…
Theo truyền thuyết dân gian thì Càn Long là
con của Trần Thế Quán, thường gọi là Trần Các Lão, quê ở Hải Ninh, Chiết Giang.
Quán là một viên quan người Hán có quan hệ thân thiết với Ung Thân Vương Dận
Chân (Hoàng tử Ung Chính, sau là Hoàng đế Thanh Thế Tông).
Khi vương phi Ung Thân Vương Dận Chân hạ
sinh một đứa con gái lại là lúc phu nhân Trần Thế Quán hạ sinh một đứa con
trai. Nghe tin ấy, Ung Thân Vương liền truyền Trần Thế Quán cho người đem đứa
trẻ mới sanh sang phủ Ung Thân Vương để ông ta xem mặt. Lâu sau, đứa trẻ được
trả về, bỗng nhiên trở thành… con gái. Trong khi có tin đồn thổi vương phi Ung
Thân Vương Dận Chân vừa hạ sanh vương tử và đang rầm rộ tổ chức ăn mừng.
Trần Thế Quán biết chuyện gì đã xảy ra,
nhưng sợ vương quyền, bèn cáo lão từ quan về ở ẩn tại quê nhà thuộc Hải Ninh
Thị (thị xã Hải Ninh), tỉnh Chiết Giang (浙江).
Hệ văn học sử chính của Trung Quốc không
chấp nhận truyền thuyết nầy.
(Xin
nói thêm: Hải Ninh Thị cách Hàng Châu khoảng 62 cây số và, cách Thượng Hải 125
cây số. Diện tích trên 731 cây số vuông, dân số 640.000 người. Có 4 nhai đạo, 8
trấn.
Nhai đạo là danh xưng trong cơ cấu hành
chánh tương đương như Khu Phố lớn (không phải Khu ở dưới cấp Thôn, Ấp)
Trong các triều đại ở Trung Quốc, chỉ có vua Càn Long chăm lo đời sống người dân đến
mức những dũng sĩ trong phong trào “Phù Minh, diệt Thanh” khi nhận lệnh ám sát
Càn Long đã vào đến cung điện nghe huấn dụ của Càn Long phải hết lòng cứu đói,
cứu lụt lội,… lại trở ra đành phải buông kiếm thốt lên: “Ông vua nào cũng là
vua, tại sao ta phải giết hại một ông vua hết lòng chăm sóc lo lắng cho dân ta?”
Những vị vua cuối cùng của Nhà Thanh bất
tài, kiêu ngạo và bạo ngược vì thế năm 1911 Bác sĩ Tôn Dật Tiên (Tôn Trung Sơn)
làm cuộc cách mạng, lật đổ Nhà Thanh. Nhà Thanh cai trị Trung Quốc 268 năm với
10 đời vua.
*
Nước Cộng Hòa Trung Quốc. (từ năm 1911
đến năm 1949) do Thống Chế Tưởng Giới Thạch cầm đầu trong cương vị Tổng Thống.
Năm 1950 (?) Tưởng Giới Thạch bị Mao Trạch
Đông đánh bại phải chạy sang đảo Đài Loan.
Sau khi chiếm lĩnh Trung Quốc, Mao Trạch
Đông đổi quốc hiệu thành Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, gọi tắt là Trung
Quốc. Áp đặt chế độ cai trị hà khắc lên tộc Hán từ ấy đến nay.
Như vậy, người khai sáng ra Nước Cộng Hòa Nhân
Dân Trung Quốc là Mao Trạch Đông. Nhưng, hiện nay người dân ở Trung Quốc, xếp
hạng những nhà lãnh đạo đất nước họ như sau:
- Thứ nhất: Quốc phụ Tôn Trung Sơn (Tôn Dật
Tiên)
- Thứ hai: Đặng Tiểu Bình
- Thứ ba: (không nhớ)
Và thứ tư:
- Mao Trạch Đông.
Thế mới biết, bất cứ người lãnh đạo nào đem
đến cho người dân cuộc sống ấm no, sang giàu, người đó sẽ được nhân dân tôn
thờ. Ở Trung Quốc Đặng Tiểu Bình làm được điều đó. Còn ở Việt Nam - Ai đây?

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét