NGUYỄN LIÊM
SỰ THẬT LỊCH SỬ
Ngược lại giòng lịch sử, thời "Bắc Thuộc": sau khi Gia
Long thắng Tây Sơn 1802; Ngài sai Thượng Thư Binh
Bộ Lê Quang Định như Chánh Sứ sang Tàu thần phục
phong Vương và đề nghị đổi Quốc hiệu Việt Nam. Năm
1804TL, Tổng Đốc Trung Nguyên lệnh Quan Án Sát Sứ
Tề Bố Sâm Tỉnh Quảng Tây sang Việt Nam tuyên
phong Vua Gia Long và chấp thuận thần phục ban
Quốc hiệu Việt Nam. Lệ Triều cống cứ 3 năm Nhà
Nguyễn phải cử Chánh Sứ dâng nạp cống phẩm như:
Vàng= 200 lượng + Bạc= 1000 lượng
Lụa cấp mỗi thứ là 100 cây
Sừng tê giác 2 bộ, Ngà Voi và Quế mỗi thứ 100 cân.
Những năm hạn hán mất mùa,
Triều đình không dâng
nạp đủ cống phẩm, quân Tàu xua quân sang nước ta
chinh phạt. Là kẻ sĩ phu hữu trách không ai không lấy
làm đau buồn, tủi nhục trước cảnh quốc phá, gia vong.
Các bạn có biết rằng: trong qúa trình phát triễn lịch sử,
--các Vương, Quan ngày xưa đã phải giả "nghệch", giả
"nghèo" giữ nước không?
GIẢ NGHỆCH: 1/ Viết chữ Tàu, ca tụng văn chương
Việt Nam như nền Văn học Hán học và thơ văn Đường
luật...
GỈA NGHÈO: 2/ Nếu các bạn có dịp về Việt Nam viếng
thăm Kinh Đô Thăng Long, và Cổ Loa Thành;-- các
bạn sẽ hiểu tại sao các Vương, Quan ngày xưa đã giả
nghèo giữ nước. --Không xây Cung Điện đồ sộ như sử
sách của chúng ta trước năm 75 đã một thời phô diễn về
Thành Cổ Loa và Kinh Đô Thăng Long là nguy nga,
tráng lệ. Mãi về sau nhờ sự yễm trợ của Đế Quốc Pháp,
Kinh Đô dời về Trung và Cổ Thành Huế của Triều
Nguyễn mới thành hình từ đó. Điện Thái Hòa khởi
công 21-2-1805 và hoàn thành tháng 10 năm 1805. Đến
năm 1806, mới chính thức làm lễ đăng quang tại Điện
Thái Hòa. Thời đó, dân chúng có câu: "Tây giăng giây
thép, họa đồ Việt Nam"!
Ngày nay nước ta không còn Bắc thuộc; -- không còn
thi hành thông lệ Triều cống, không còn trước cảnh
ngoài lễ vật Triều cống; phải luồn cúi qui lụy đút lót
vàng bạc châu báu cho quan Án Sát Sứ Tề Bố Sâm trở
về Tàu làm bảng trình tấu tốt để Vương, Quan nước ta
được yên thân. Ngày nay không vì bất cứ hoàn cảnh
hoặc lý do gì mà chúng ta phải tự trói mình nhận
rằng Tổ Tiên chúng ta đã vay mượn tiếng nói của
Trung Quốc. Từ đó cứ khăng khăng khẳng định rằng :
“tác phẩm của mình là tác phẩn Hán học” như luận
điệu của các quan lại gìa nua lẫm cẫm thời xưa đã tự áp
đặt và viết sách để lại cho chúng ta học: “Không
Đúng”!!!
Xuyên qua đề tài văn học: Ngôn ngữ Việt Nam có vay
mượn từ tiếng Trung Hoa Hán hay không? Tôi đã lập
đi lập lại nhiều lần: tác giả Gió Ngàn Phương đã phân
tích, đối chiếu dẫn chứng về cấu trúc và âm tiết của
câu nói giữa hai ngôn ngữ Việt Nam và Trung Hoa
Hán hoàn toàn khác biệt. Như vậy tác giả đề tài chưa
phân tách đủ những yếu tố ắt có và đủ về sự khác biệt
giữa hai ngôn ngữ Việt Nam và Trung Hoa Hán hay
sao?
LÀ NGƯỜI VIỆT NAM THẬT SỰ YÊU NƯỚC VÀ
YÊU TIẾNG NÓI:
Tất cả chúng ta phải lấy làm sung sướng và hãnh diện
rằng: Trong qúa trình phát triễn lịch sử, văn hóa Việt
Nam và các nước nhược tiểu khác trên thế giới dần dần
biến đổi. Tuy nhiên tinh thần dân tộc Việt Nam bất
khuất mà ngôn ngữ Việt đã chứng tỏ một sức trường
tồn mãnh liệt.
Chúng ta thố lộ tâm tư nào là yêu quê hương đất nước,
yêu tiếng nói, nào là chúng ta có sĩ diện; có thể diện tinh
thần Quốc Gia dân tộc, nhưng mâu thuẩn thay: các Vị
trí thức uyên thâm, hoặc văn nhân, thi sĩ yêu nước lại
ưu thời mẩn thế chỉ có tính cách nhất thời: làm thơ
phỏng dịch viết tiếng cổ văn Việt Nam 100%; nhưng vì
tinh thần nô lệ cố hữu đã tự trói mình và cứ khăng
khăng hãnh diện rằng tác phẩm của mình là văn
chương Hán học; thơ văn Đường luật. Nếu đem nguyên
tác chữ Hán cũng như tác phẩn mình chữ Gua Yu
Mandarin trình bày đến giới trí thức Trung Hoa: họ sẽ
lắc đầu và không hiểu mình muốn nói gì? Ví như đờn
khẩy tai trâu, nước đổ đầu vịt. Bởi vì Trung Quốc có
trên 5000 thứ tiếng nói khác nhau hiểu qua một thứ chữ
một thứ tiếng Mandarin.
Có một số văn nhân thi sĩ ca tụng: Triều Đại Đường có
một nền văn chương thi phú xuất chúng. Chúng ta phải
thấm nhuần thơ văn Đường luật và văn chương Hán
Học. Vì chữ Hán đã làm giàu cho tiếng Việt. Chúng ta
đang sử dụng ngôn ngữ Việt Nam hơn phân nữa tổng số
từ tiếng Hán. Tiếng Hán Việt đã làm tăng gía trị của
ngôn ngữ Việt Nam. Tiếng Việt Nam đã vay mượn từ
tiếng Trung Hoa Hán 60%, 70% đến 100%??? Lập
luận sai lầm này chúng ta đã vô tình gieo rắc tinh thần
tự ty mặc cảm; hiểu lầm và đánh mất đi tâm tư tự hào
về nguồn gốc dân tộc Việt Nam; cũng như của một số
giới trẻ là con cháu của chúng ta trưởng thành trên đất
Mỹ. Trường hợp các cháu còn có chút tình nghĩ đến
Việt Nam là quê cha đất tổ của ông cha; rồi các cháu lên
Internet: tìm hiểu nguồn gốc dân tộc, từ đó luận về
tiêng nói Việt Nam đã vay mượn ngoại nhân; chắc chắn
các cháu sẽ thất vọng và chối từ rằng: các cháu không
phải là người Việt Nam. --Vì tổ tiên của chúng ta không
nên thân, --chỉ có tiếng nói phải vay mượn từ tiếng Hán
Trung Quốc!
Nếu chúng ta thật sự yêu Tổ Quốc, ngay từ bây giờ
bằng đủ mọi cách bằng đủ mọi giá, chúng ta phải giải
thể ngay lập luận sai lầm rằng: Ngôn ngữ Việt Nam của
chúng ta đã vay mượn từ tiếng Trung Hoa Hán! Chúng
ta phải lột bỏ ngay cái ách Hán học danh hiệu mà các
Vua tôi ngày xưa vì hoàn cảnh Bắc thuộc mà áp đặt:
“gán ép” như cựu Khoa Trưởng Đại Học Văn Khoa
Saigon trước năm 1975 đã viết: Hệ thống văn học mà ta
đã mượn của họ, Hán học có nhiều điểm bất nhất và bất
tiện, ta có cần mượn luôn cả cái bất nhất bất tiện đó vào
văn học của ta hay không? Cũng như cựu Khoa Trưởng
Đại Học Văn Khoa Saigon đã viết: --từ mộc tồn (con
chó) là tiếng Hán Việt (mộc là cây – tồn là còn) nếu nói
lái sẽ là cây còn là: con cầy!
Là người Việt Nam, ai trong chúng ta cũng có tinh thần
Tổ Quốc dân tộc và yêu thương tiếng nói. Đề tài: Ngôn
ngữ Việt Nam có vay mượn từ tiếng Trung Hoa Hán
hay không? Chúng tôi đưa ra nhận xét về sự khác biệt
giữa hai ngôn ngữ Việt Nam và Trung Hoa, dựa trên
những dữ kiện lịch sử về nhưng chiến thắng oai hùng
của dân tộc Việt Nam, những anh hùng liệt sĩ đã hy
sinh mạng sống lớp này gục ngã, lớp khác đứng lên hầu
bức xiềng nô lệ cho dân tộc và giải phóng cho quê
hương. Các Vị Vua tôi Việt Nam thời Bắc thuộc luôn
luôn áp dụng phương thức: nhu thắng cương, mềm
mỏng với kẻ thù, nhưng khi cần cũng sử dụng sức mạnh
quân sự để đối phó. Một lãnh thổ nhỏ bé, một dân số ít
ỏi, nước Việt Nam, Đại Hàn và Nhật Bản trong thời Bắc
thuộc: cùng một vị thế lãnh thổ nằm tiếp cận một nước
Tàu vĩ đại, với dân số đông đảo, với một quân lực trùng
điệp. Nếu các Vị Vua tôi của các nước nhược tiểu trong
thời Bắc thuộc không khéo léo áp dụng phương thức
nhu thắng cương thì không thể nào bảo tồn được giang
sơn gấm vóc. Cùng hoàn cảnh lịch sử như nhau: Tiếng
Việt (việt ngữ), tiếng Cao Li (Hàn ngữ), tiếng Nhật Bản
(Nhật ngữ) chỉ là những ngôn ngữ đồng văn với Hoa
ngữ. Vì cả bốn Trung Quốc, Việt Nam, Đại Hàn, Nhật
Bản đều sử dụng tiếng Gua Yu Mandarin của Trung
Quốc để diễn đạt tư tưởng của mình đến đối tượng. --
Thật ra bốn ngôn ngữ đó không có quan hệ thân tộc họ
hàng gì với nhau cả. Tiếng Việt Nam chẳng những với ý
đẹp văn hay mà ngôn ngữ Việt Nam lại có tính chất
phong phú, sâu sắc dồi dào âm điệu hơn cả tiếng Trung
Hoa. Ví du: "Đại Điểm Quần Thần" tiếng Việt Nam
“Ta Chung Chén Tái Chánh” tiếng Gủa Yu Mandarin;
đồng nghĩa là khen một Vị quan to đứng đầu Triều
đình. Thủ Tướng N.V.T mừng rỡ nhận bức hoành phi
treo trước Dinh Thủ Tướng: chỉ cái ác: "đại" có nghĩa
là: "to"; điểm là: "chấm" nếu nói lái sẽ thành: chấm to
là chó T.; quần thần có nghĩa là: bày tôi là
"Bồi Tây" làm "Bồi" cho Pháp.
Trước kia nước Việt Nam trong thời Bắc thuộc (Trung
Quốc) cũng như sau đó nhiều thế kỉ đã sử dụng chữ
Hán (Gua Yu Mandarin) làm thứ văn tự quan phương
được dùng trong lĩnh vực: Hành chánh, tôn giáo, giáo
dục, thi cử và cả trong đơn từ, khế ước bằng khoán giữa
tư nhân với nhau. Câu hỏi đặt ra: Tại sao chúng ta
không sử dụng chữ Nôm đã được ổn định vào thế kỉ thứ
13, 14 xuyên qua 254 bài thơ Nôm của Cụ Ức Trai
Nguyễn Trải trong quốc âm thi tập. Điều đán lưu ý,
mặc dù chữ Nôm đã được hoàn chỉnh chậm lắm là ở thế
kỉ thứ 14, nhưng chữ Nôm đã không được truyền bá
rộng rãi; chỉ được sử dụng bán chính thức và chữ Nôm
chưa bao giờ được công nhận là quốc ngữ của Việt
Nam. Đây cũng là một phương thức giả : "Nghệch" của
Vua tôi dưới thời Bắc thuộc Trung Nguyên để dựng
nước và giữ nước. Chữ Hán (Gua Yu Mandarin) chỉ
chấm dứt khi gót giầy xâm lược của đế quốc Pháp đã
hoàn toàn đặt nền thống trị trên lãnh thổ Việt Nam. Và
văn tự mới là chữ Pháp phải tức khắc được thay thế
chữ Hán (Gua Yu Mandarin). Chữ Pháp phải được sử
dụng và giáo dục cho cả ba bậc: Tiểu, Trung và Đại Học
Việt Nam.
Vì danh dự Tổ Quốc và dân tộc Việt Nam, đã đến lúc
chúng ta cần phải làm sáng tỏ một vấn đề ngữ học lịch
sử liên quan đến tiếng nói và chữ viết của người Việt.
Chúng tôi hy vọng những bạn trẻ hải ngoại lưu ý đến
việc bảo tồn di sản văn hóa Việt Nam. “Tiếng Việt còn,
tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét