GIÓ BẤC
Tuệ Chương Hoàng Long Hải
"Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng
nam"
(Tục ngữ)
Chẳng ai lấy vợ đàn… ông. Cũng có nghĩa
rằng chẳng ai làm nhà quay về hướng khác, nhất là hướng bắc, mà nhà thì phải
quay về hướng nam.
Hướng bắc là hướng gió Bấc thổi, lạnh lắm,
nên muốn tránh cái lạnh của gió Bấc người ta phải làm nhà hướng về hướng nam.
Câu tục ngữ nói trên là của đồng bào miền
Bắc Việt Nam .
Đó cũng là kinh nghiệm sống, kinh nghiệm dựng nhà của người ngoài đó. Nhà đã
quay về hướng nam, cửa chính cũng không làm rộng, cửa sổ đã nhỏ lại nằm trên
cao. Dĩ nhiên, đó là những nhà tranh thuộc các gia đình trung lưu hay nghèo
khó, là những nét đặc biệt của lối kiến trúc người Bắc, vừa ngăn cái lạnh của
gió Bấc, vừa giữ trộm cắp, nhà lại kín đáo. Người ta thường dấu cái nghèo của
mình, cơm cháo, sắn khoai không ai hay.
“Tường và mái nhà thường trùm kín nhà do
mưa rất nhiều, hơn nữa cửa đi và cửa sổ mở rất ít do an ninh ngừa trộm cắp nên
chiếu sáng tự nhiên, rất tối
và kém sáng sủa, nhà ở thường hướng nam (đón gió nồm thổi mát vào mùa hè) và 2
chái phụ ở 2 đầu nhà sẽ là hướng đông tây chống hơi nóng mặt trời sáng và
chiều.”
“Trước nhà trồng cau (cau để đón gió nam
mát) sau nhà trồng chuối (lá chuối ngăn bớt gió bấc lạnh mùa đông).”
Người đàn bà vắng chồng, đêm đêm ôm con,
nghe tàu lá chuối bị gió đập phía sau hè nên buồn lắm. Đó là nguồn hứng khởi
của câu ca dao:
“Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh nghe vợ bé, bỏ bè con
thơ.”
Người giàu làm nhà ngói, nhà cao cửa rộng,
tác giả không bàn ở đây.
Ỏ Mỹ, vùng phía Bắc, hôm nào có tuyết thì
không ngại lắm. Có tuyết, trời hơi ấm, mặc dù hàn thử biểu chỉ dưới 32 độ F. 32
độ F bằng 0 độ C.
Nhưng người miền Bắc Hoa Kỳ rất ngại Wind
Chill (North wind chill). North wind chill (Wind Chill) là gió từ Bắc Cực, từ Canada , từ Alaska xuống nên lạnh lắm, lạnh tái tê. Mặc
quần áo đã dày, đồ nỉ, đồ bông nhưng người ta có cảm tưởng cái lạnh như kim
chích. Cái lạnh chui qua vải, qua nỉ mà chích vào da thịt người.
Cái lạnh của gió Bấc ở nước ta không thua
gì! Cho nên người Việt đang định cư ở miền Bắc hoặc Đông Bắc Hoa Kỳ, - như vùng
tôi ở chẳng hạn -, những ngày có North wind chill lại nhớ da diết gió Bấc ở quê
hương mình.
“Cái gì không nhớ, lại nhớ cái gió lạnh tê
tái bên bờ sông Thạch Hãn.” Có người trách tôi như vậy. Nhưng quê hương đâu
phải chỉ là toàn khế ngọt để trèo hái mà ăn. Yêu quê hương như yêu mẹ. Yêu cả
cái xấu của mẹ, tóc bạc, da mồi, ốm o, lụm khụm thì có gì sai?
Nhớ quê hương và nhớ mẹ, mấy ai lại
không nhớ tới “Nhà Mẹ Lê” trong “Gió Đầu Mùa” của Thạch Lam.
“Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã
gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ, dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc
khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà
nhịn đói, mấy đứa nhỏ nhất: con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng
nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím
lại vì rét như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm lấy con trong ổ rơm, để mong lấy
cái ấm của mình ấp ủ cho nó. Thằng con lớn thì từ sáng đã cùng thằng Ba ra cánh
đồng kiếm con cua, con ốc, hay sau mùa gặt, đi mót những bông lúa còn sót lại
trong khe ruộng. Thật là sung sướng, nếu chúng mang về được một lượm, trong
những ngày may mắn. Vội vàng bác Lê đẩy con ra, vơ lấy bó lúa, đem để xuống
dưới chân vò nát, vét hột thóc giã lấy gạo. Rồi làm một bữa cơm nóng lúc buổi
tối giá rét, mẹ con ngồi chung quanh nồi cơm bốc hơi, trong khi bên ngoài gió
lạnh rít qua mái tranh.”
Cái lạnh và cái đói hình như có bà con hay
hai người yêu quấn quít lấy nhau. Đã lạnh thì dễ đói. Đã đói thì lại càng thêm lạnh.
Đó cũng là kinh nghiệm cay đắng của những người miền Nam bị đày ra vùng núi non
Bắc Việt như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoàng Liên Sơn… sau năm 1975.
Nếu người ta không đói thì cũng nghèo. Đó
là hoàn cảnh Cô Tâm trong Gánh Hàng Xén, tôi cũng trích trong tập truyện ngắn
trên, cùng tác giả:
“Cái đòn gánh cong xuống vì hàng nặng, kĩu
kịt trên mảnh vai nhỏ bé theo nhịp điệu của bước đi. Chịu khó, chịu khó từng tí
một, hết bước nọ sang bước kia, cứ thế mà đi không nghĩ ngợi. Tâm thấy ngày nay
cũng như mọi ngày, ngày mai cũng thế nữa; tất cả cuộc đời nàng lúc nào cũng
chịu khó và hết sức, như tấm vải thô dệt đều nhau. Có phải đâu chỉ một mình cô;
trong những lũy tre xanh kia, bao nhiêu người cũng như cô, cũng phải chịu khó
và nhọc nhằn, để kiếm tiền nuôi chồng, nuôi con, nuôi các em. Tâm không chán
nản cũng không tự kiêu, chỉ thấy yên tâm chắc chắn, như nhiều người khác cũng
làm việc, cũng sống như nàng.”
….
“Lúc Tâm ra về, trời đã tối. Nàng vội vã
bước mau để về cho con bú. Sương mù xuống phủ cả cánh đồng, và gió lạnh nổi
lên: Tâm thu vạt áo lại cho đỡ rét, lần theo bờ cỏ đi.”
Cơn gió Bấc thường đến bất chợt bởi vì nó
phát xuất từ Tây Bá Lợi Á. Cơn gió từ đó thổi đi, thường mang theo cái lạnh của
vùng trung tâm lục địa Châu Á. Nó ập vào miền Bắc nước ta như một tên xâm lược,
tiến nhanh như gió bão:
“Buổi sáng hôm nay, mùa đông đột nhiên đến,
không báo trước. Vừa mới ngày hôm qua giời hãy còn nắng ấm và hanh, cái nắng về
cuối tháng mười làm nứt nẻ đất ruộng, và làm ròn khô những chiếc lá rơi. Sơn và
chị chơi cỏ gà ở ngoài cánh đồng còn thấy nóng bức, chảy mồ hôi.
“Thế mà qua một đêm mưa rào, trời bỗng đổi
ra gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến làm cho người ta tưởng đang ở giữa mùa đông
rét mướt.
“Sơn tung chăn tỉnh dậy, nhưng không bước
xuống giường ngay như mọi khi, còn ngồi thu tay vào trong bọc, bên cạnh đứa em
bé vẫn nắm tay ngủ kỹ. Chị Sơn và mẹ Sơn đã trở dậy, đang ngồi quạt hỏa lò để
pha nước chè uống. Sơn nhìn thấy mọi người đã mặc áo rét cả rồi.”
…
“Sáng sớm hôm sau, trong gió bấc lạnh, Tâm
đã mở cổng gánh hàng lên chợ. Sương trắng còn đầy ở các ngõ trong làng; mùi rơm
rác và cỏ ướt thoang thoảng bốc lên, mùi quen của quê hương và của đất mầu
khiến Tâm thấy dễ chịu và thêm can đảm. Nàng rảo bước cho mau chóng đến chợ.”
Gió Bấc làm cho đời sống dân chúng khổ sở.
Bây giờ lại khổ hơn! Và nó cũng đóng một vai trò nào đó trong lịch sử. Sử chép:
“Tháng 3 năm Giáp Dần (1794) nhà Tây Sơn tổ chức phản công, tướng
Nguyễn Văn Hưng đem bộ binh đánh vào Phú Yên, và tướng Trần Quang Diệu vào vây thành Diên Khánh.
Đông cung Cảnh cho người về Gia Định cầu viện. Tống Phúc Đạm liền theo chúa
Nguyễn đem đại binh đến đánh giải vây, buộc Trần Quang Diệu phải rút quân về.
Chúa Nguyễn
thấy thế Tây Sơn còn mạnh, vã lại đã đến mùa gió bấc lạnh lẽo, nên
chúa đem Đông cung Cảnh về Gia Định, để lại Võ Tánh giữ thành Diên Khánh.”
Gió Bấc xuất
xứ từ vùng trung tâm lục địa châu Á, thuộc đông-bắc Tây Bá Lợi Á. Qua tháng 1
tháng 2 dương lịch, tức là trước và sau tết âm lịch, vùng trung tâm nầy nhiệt
độ xuống thấp lắm, từ 10 độ âm tới 40 độ dưới không độ, có khi xuống tới 50 độ
âm. Verkhoïansk, một thành phố nhỏ ở miền đông-bắc Tây Bá Lợi Á được coi là
thành phố lạnh nhứt địa cầu, về mùa đông có khi nhiệt độ xuống tới 70 độ (C)
âm.
Gió từ Tây Bá
Lợi Á, ở phía Bắc biển Thái Bình thổi về phía nam nên người ta mới gọi là gió
Bắc, người Bắc gọi trại thành Bấc. Tuy nhiên vì vòng quay của địa cầu, gió Bấc
từ biển thổi vào đồng bằng Bắc Việt theo hướng Đông - Bắc chứ không phải hướng
Bắc. Khi vào châu thổ sông Hồng Hà, gió Bấc rẻ theo các dãy núi hình nan quạt
mà lên Tây Bắc nên vùng Tây Bắc về mùa đông lạnh lắm. Nhiều người đi tù cải tạo
ngoài bắc, có đi mà không về cũng vì những cơn gió Bấc tê tái nầy. Toàn bộ phần
Nam lục địa, kể cả Tây Nam Á về mùa đông có gió Đông Bắc từ lục địa thổi
xuống. Tuy nhiên do ảnh hưởng của các dãy núi cao theo hướng Đông-Tây, gió Đông
Bắc từ áp cao Tây Bá Lợi Á không thể tiến tới bán đảo phía Nam được. Vì thế,
chỉ có vùng từ đèo Hải Vân trở ra phía bắc mới chịu ảnh hưởng gió Bấc nặng nề.
Từ Đà Nẵng xuống phía nam, ở phía nam đèo Hải Vân, không phải chịu cảnh “mưa
phùn gió bấc” như các vùng phía ngoài. Cái lạnh cũng bớt đi.
Khi từ lục địa
thổi ra, gió lạnh nhưng khô. Tuy nhiên, khi ngọn gió đi qua vùng phía bắc Thái
Bình Dương, nó đem theo hơi nước của biển, cộng thêm những tầng mây dày và nặng
trên vùng trời nầy, gió lại mang theo cơn mưa của biển. Mưa không nặng hạt, có
khi rất nhẹ như lúc mới vào mùa, thường thích hợp cho các bà các cô Hà Thành
mặc áo nhung đi dạo phố. Vào cửa hàng, họ chỉ cần cầm vạt áo rủ nhẹ là hạt mưa
phùn rơi xuống. Khi vào giữa mùa, hạt mưa nặng hơn, mưa dai dẵng kéo từ ngày
nầy sang ngày khác. Mưa chen trong gió hay gió mang theo mưa? Đây là mùa “Mưa
phùn gió Bấc”. Mưa rỉ rả, và lạnh, và buồn, và kéo lê nhiều ngày khiến có lần
Nguyễn Bính phải than:
“Trời mưa ở
Huế sao buồn thế!
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày
Thềm cũ nôn nao đàn kiến đói
Trời mờ ngao ngán một làn mây.
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày
Thềm cũ nôn nao đàn kiến đói
Trời mờ ngao ngán một làn mây.
“Trường Tiền
vắng ngắt người qua lại
Đập Đá mênh mang bến nước đầỵ
Đò vắng khách chơi nằm bát úp
Thu về lại giở gió heo may...”
Đập Đá mênh mang bến nước đầỵ
Đò vắng khách chơi nằm bát úp
Thu về lại giở gió heo may...”
Nguyễn Bính
hỏi “sao buồn thế?” Đỗ Tấn nói rõ hơn:
“Đêm Huế mưa buồn như em không nói,
Những cây mù u gục đầu. (1)
Lạnh về cắn xé đêm thâu”
Vì mùa “Mưa
phùn giáo bấc” nên cái lạnh của xứ Huế ẩm ướt và khó chịu. Không có cái áo mưa
nào ngăn nổi những giọt nước của cơn mưa phùn. Mưa thấm qua mũ, thấm qua áo
quần và thấm vào đôi bít tất. Những giọt nước ở lại đó, - trong hai chiếc giày,
cùng với hơi lạnh, kiên trì dai dẳng làm tê cóng mấy ngón chân.
Những người
trẻ ngày nay có thể không biết “cái lồng ấp” là cái gì? Nó đã chết theo thời
gian rồi! Người miền Nam cũng không biết nó. Nó là cái trách nhỏ, bằng cái tô,
đất nung, trong đựng những cục than đỏ tỏa ra hơi nóng ấm áp. Và một vật trông
như cái giỏ tre đan giữ cái trách đất trong lòng nó. Ôm chặt cái trách đất,
hình như cái giỏ tre cũng sợ lạnh! Các mẹ, các bà cụ già, mùa đông lạnh, thường
giữ kèm cái lồng ấp bên cạnh, hay đặt trước bụng, hơ hai bàn tay trên cái trách
đất cho đỡ cóng.
Cái lồng ấp và
ngọn gió Bấc thổi về có họ hàng gì với nhau không mà mỗi khi cơn gió Bấc vi vút
thổi trên mấy hàng dương liễu bên bờ sông Thạch Hãn thì cái lồng ấp xuất hiện.
Người ta mới mua ở chợ hay mới lôi ra từ trên giàn bếp. Không! Cái lồng ấp
chống lại cái lạnh của ngọn gió Bấc đấy. Trong khi cái lạnh của cơn gió làm tê
cóng hay bàn tay, thì ngọn lửa trong cái lồng ấp làm cho hai bàn tay hồng trở
lại, máu lại chạy đều trong mấy ngón tay.
Cái lồng ấp
của mẹ tôi đã cũ, ít ra được mua ở chợ hồi năm ngoái. Có nghĩa rằng nó đã thâm
niên được một năm, một năm giúp mẹ tôi bớt cóng hai tay. Những nan tre màu
trắng của cái lồng ấp nay đã sậm mầu. Miệng cái giỏ tre lồng ấp bị cháy xém
đen. Ngọn lửa trong cái trách đất quá nóng hay lửa bùng lên làm cháy những nan
tre?
Mấy chục năm
nay, kể từ khi khôn lớn rồi lưu lạc tới miền Nam xa xôi thì tôi không còn thấy
cái lồng ấp nữa. Miền Nam không có cái lạnh của ngọn gió Bấc để người đàn bà
phải cần tới nó. Và thế rồi tôi quên nó, tôi quên cái lồng ấp đã làm cho hai
bàn tay mẹ tôi bớt tê cóng. Gần chục năm trong trại cải tạo, nhiều đêm đông gió
lạnh cũng tê tái, tôi cũng không nhớ đến cái lồng ấp của mẹ tôi nữa.
Vậy mà sáng hôm nay, trời ở Mass bỗng
chuyển North wind chill. Nhìn gió lắc lư trên những ngọn thông màu xanh sẫm sau
nhà, tôi bỗng nhớ đến cơn gió Bấc ở quê nhà, nhớ tới mẹ tôi và bất chợt, qua
hình ảnh của mẹ tôi mà tôi đã sống gần gủi bên mẹ khi tôi còn niên thiếu, tôi
chợt nhớ tới cái lồng ấp của mẹ.
Mẹ tôi chạy giặc khỏi quê nhà năm 1972. Tôi
không biết những năm trước đó mẹ tôi còn dùng cái lồng ấp hay không, những cái
lồng ấp cũ mẹ tôi đã dùng có lẽ đã tiêu tan vào những thùng rác sau nhà. Nhưng
trong tâm hồn tôi, từ thơ ấu đến giờ, hình ảnh cái lồng ấp vẫn còn giữ lại đó,
chẳng qua, vì tôi cũng như mọi người, ai cũng thương mẹ.
Những năm tù cải tạo về, tôi biết thêm một
danh từ mới của ngư phủ nước ta, sinh sống trong vùng Châu Á Gió Mùa. Mùa đông
gió Bấc thổi nhiều ngày, từ tuần nầy qua tháng nọ. Khi gió đang mùa, thuyền
vượt biên không ra biển được. Sóng lớn, thuyền vượt biên dễ gặp nguy. Nhưng rồi
bỗng mấy hôm, gió Bấc ngừng thổi. Biển lặng. Thời điểm gió Bấc ngưng thổi,
người làm nghề đánh cá biển gọi là “Đồng Chung”, là lúc thuyền vượt biên đi
được. Ngư phủ có nhiều kinh nghiệm, đoán được những ngày “đồng chung”. Người tổ
chức vượt biên cũng dựa theo đó để tính ngày cho khách lên đường.
Gió Bấc thổi vào mùa Đông, nhất là những
ngày trọng đông.
Cơn gió lạnh thổi vào mùa thu, người ta đặt
cho nó một cái tên khác: Gió heo may. Gió heo may thổi khi trời còn ít mây, có
khi còn những cơn nắng chiều mầu tím, và cũng có khi trời nhiều mây nhưng không
sũng nước như những tầng mây đen dày mùa đông.
Trịng Công Sơn có cái nhận xét tinh tế đó
khi ông viết “Nhìn những mùa thu đi”:
“Nhìn những lần thu đi
Tay trơn buồn ôm nuối tiếc
Nghe gió lạnh về đêm
Hai mươi sầu dâng mắt biếc
Thương cho người rồi lạnh lùng riêng
Gió heo may đã về
Chiều tím loang vĩa hè
Và gió hôn tóc thề
Rồi mùa thu bay đi
Trong nắng vàng chiều nay
Anh nghe buồn mình trên ấy
Chiều cuối trời nhiều mây
Đơn côi bàn tay quên lối
Đưa em về nắng vương nhè nhẹ
Đã mấy lần thu sang
Công viên chiều qua rất ngắn
Tay trơn buồn ôm nuối tiếc
Nghe gió lạnh về đêm
Hai mươi sầu dâng mắt biếc
Thương cho người rồi lạnh lùng riêng
Gió heo may đã về
Chiều tím loang vĩa hè
Và gió hôn tóc thề
Rồi mùa thu bay đi
Trong nắng vàng chiều nay
Anh nghe buồn mình trên ấy
Chiều cuối trời nhiều mây
Đơn côi bàn tay quên lối
Đưa em về nắng vương nhè nhẹ
Đã mấy lần thu sang
Công viên chiều qua rất ngắn
Độc giả để ý những chữ tôi in nghiêng là
những câu tả cảnh mùa thu ở Huế, có gió heo may: “Gió lạnh về đêm”. Có
nghĩa rằng ngày chưa đến nỗi lạnh lắm. Gió cũng thổi không mạnh lắm. Gió thổi
mạnh sao có thể “Gió hôn tóc thề”. Nắng thì vàng (nắng vương nhè nhẹ) nhưng
chiều thì đã ngã sang mầu tím (chiều tím loang vĩa hè). “Công viên chiều qua
rất ngắn”, có nghĩa rằng đã đến “Thu phân”, ngày ngắn lại, trời nhiều mây nên
mau tối.
ước ta thuộc “Châu Á Gió Mùa”. Nói một cách
đơn giản thì mùa đông có gió Bấc, thường được gọi là “Gió Mùa Đông Bắc”. Đến
mùa hè, gió thổi ngược lại, từ hướng nam đi lên, là gió Nam , tên thường được gọi là gió
Nồm, mang theo cái mát mẻ của biển. Mùa Đông, người ta sợ gió Bấc, mùa hè,
người ta mong được cơn gió Nồm. Đọc bài thơ sau đây của Nguyễn Khuyến, độc giả
biết ngay:
“Ai xui con cuốc gọi mùa hè
Cái nóng nung người nóng nóng ghê
Ngõ trước vườn sau um những cỏ
Vàng phai thắm nhạt ngán cho huê
Đầu cành kiếm bạn oanh xao- xác
Trong tối đua bay đóm lập-loè
Mong được nồm nam cơn gió thổi
Đàn ta, ta gãy khúc Nam nghe.”
Cái nóng nung người nóng nóng ghê
Ngõ trước vườn sau um những cỏ
Vàng phai thắm nhạt ngán cho huê
Đầu cành kiếm bạn oanh xao- xác
Trong tối đua bay đóm lập-loè
Mong được nồm nam cơn gió thổi
Đàn ta, ta gãy khúc Nam nghe.”
Cũng như ngọn gió Bấc đã nói ở phần trên.
Nó ngăn giặc! (Chúa Nguyễn thấy thế Tây Sơn còn mạnh, vã
lại đã đến mùa gió bấc lạnh lẽo, nên chúa đem Đông cung Cảnh
về Gia Định…) thì gió Nồm làm
cho giặc “dậy” lên. Nguời dân miền Nam Trung Bộ, khi đã “ngán” nhà Tây Sơn rồi
thì họ cầu:
“Lạy trời cho nổi gió Nồm
Để cho Chúa Nguyễn kéo buồm
thẳng ra.”
Trong cuộc chiến tranh giữa Nguyễn Ánh và
nhà Tây Sơn, thường chuyển quân bằng thuyền. Khi gió Bấc lạnh lẽo, quân Nguyễn
Ánh rút về Nam .
Khi gió Nam
(Nồm) thổi, thuận gió cho Chúa Nguyễn kéo quân ra miền Trung thì Chúa Nguyễn
Ánh bèn ra đánh nhà Tây Sơn.
Chuyện đánh nhau như thế, được ghi trong
lịch sử và ca dao. Riêng về thời tiết, về mùa đông, không ít khi cô (hay bà)
xướng ngôn viên của đài phát thanh Saigon đọc
lên câu sau đây trên làn sóng điện, kết thúc một bản tin: “Hôm nay, gió mùa
Đông Bắc thổi mạnh trên biển Nam Hải.”
Nghe mãi thành quen, nó hằn sâu vào tâm hồn
tôi lúc nào tôi chẳng hay. Đối với những người làm chính trị, khi đọc diễn văn,
họ vẽ ra một quê hương là cái gì đó vĩ đại, lớn lao, cao quí. Nhưng với tôi,
đôi khi thấy Wind Chill ở miền Đông-Bắc Mỹ nầy thổi vi vút qua những tàng cây
cao, tôi bỗng nhớ câu dự đoán thời tiết ngày trước “Gió mùa Đông-Bắc thổi mạnh
trên biển Nam-Hải” qua giọng nói trên đài phát thanh Saigon.
Chỉ mấy tiếng mà sao tôi nhớ lâu quá vậy?
Ôi quê hương! Quái lạ không? Đơn giản chỉ là một câu nói của một người nào đó mà
tôi chưa từng bao giờ biết tên, gặp mặt./
hoànglonghải
(1)
Văn Thánh trồng thông
Võ
Thánh trồng bàng
Ngó
lên xã tắc hai hàng mù u.
(Ca
dao Huế. Xem thêm “Mùa Hè ở Huế” cùng tác giả).

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét