Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2017

GIÓ BẤC
Tuệ Chương Hoàng Long Hải



"Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng nam"
                                      (Tục ngữ)
Chẳng ai lấy vợ đàn… ông. Cũng có nghĩa rằng chẳng ai làm nhà quay về hướng khác, nhất là hướng bắc, mà nhà thì phải quay về hướng nam.
Hướng bắc là hướng gió Bấc thổi, lạnh lắm, nên muốn tránh cái lạnh của gió Bấc người ta phải làm nhà hướng về hướng nam.

Câu tục ngữ nói trên là của đồng bào miền Bắc Việt Nam. Đó cũng là kinh nghiệm sống, kinh nghiệm dựng nhà của người ngoài đó. Nhà đã quay về hướng nam, cửa chính cũng không làm rộng, cửa sổ đã nhỏ lại nằm trên cao. Dĩ nhiên, đó là những nhà tranh thuộc các gia đình trung lưu hay nghèo khó, là những nét đặc biệt của lối kiến trúc người Bắc, vừa ngăn cái lạnh của gió Bấc, vừa giữ trộm cắp, nhà lại kín đáo. Người ta thường dấu cái nghèo của mình, cơm cháo, sắn khoai không ai hay.
“Tường và mái nhà thường trùm kín nhà do mưa rất nhiều, hơn nữa cửa đi và cửa sổ mở rất ít do an ninh ngừa trộm cắp nên chiếu sáng tự nhiên, rất tối và kém sáng sủa, nhà ở thường hướng nam (đón gió nồm thổi mát vào mùa hè) và 2 chái phụ ở 2 đầu nhà sẽ là hướng đông tây chống hơi nóng mặt trời sáng và chiều.
Trước nhà trồng cau (cau để đón gió nam mát) sau nhà trồng chuối (lá chuối ngăn bớt gió bấc lạnh mùa đông).
Người đàn bà vắng chồng, đêm đêm ôm con, nghe tàu lá chuối bị gió đập phía sau hè nên buồn lắm. Đó là nguồn hứng khởi của câu ca dao:
“Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh nghe vợ bé, bỏ bè con thơ.”
Người giàu làm nhà ngói, nhà cao cửa rộng, tác giả không bàn ở đây.
Ỏ Mỹ, vùng phía Bắc, hôm nào có tuyết thì không ngại lắm. Có tuyết, trời hơi ấm, mặc dù hàn thử biểu chỉ dưới 32 độ F. 32 độ F bằng 0 độ C.
Nhưng người miền Bắc Hoa Kỳ rất ngại Wind Chill (North wind chill). North wind chill (Wind Chill) là gió từ Bắc Cực, từ Canada, từ Alaska xuống nên lạnh lắm, lạnh tái tê. Mặc quần áo đã dày, đồ nỉ, đồ bông nhưng người ta có cảm tưởng cái lạnh như kim chích. Cái lạnh chui qua vải, qua nỉ mà chích vào da thịt người.
Cái lạnh của gió Bấc ở nước ta không thua gì! Cho nên người Việt đang định cư ở miền Bắc hoặc Đông Bắc Hoa Kỳ, - như vùng tôi ở chẳng hạn -, những ngày có North wind chill lại nhớ da diết gió Bấc ở quê hương mình.
“Cái gì không nhớ, lại nhớ cái gió lạnh tê tái bên bờ sông Thạch Hãn.” Có người trách tôi như vậy. Nhưng quê hương đâu phải chỉ là toàn khế ngọt để trèo hái mà ăn. Yêu quê hương như yêu mẹ. Yêu cả cái xấu của mẹ, tóc bạc, da mồi, ốm o, lụm khụm thì có gì sai?
 Nhớ quê hương và nhớ mẹ, mấy ai lại không nhớ tới “Nhà Mẹ Lê” trong “Gió Đầu Mùa” của Thạch Lam.
“Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ, dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói, mấy đứa nhỏ nhất: con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó. Thằng con lớn thì từ sáng đã cùng thằng Ba ra cánh đồng kiếm con cua, con ốc, hay sau mùa gặt, đi mót những bông lúa còn sót lại trong khe ruộng. Thật là sung sướng, nếu chúng mang về được một lượm, trong những ngày may mắn. Vội vàng bác Lê đẩy con ra, vơ lấy bó lúa, đem để xuống dưới chân vò nát, vét hột thóc giã lấy gạo. Rồi làm một bữa cơm nóng lúc buổi tối giá rét, mẹ con ngồi chung quanh nồi cơm bốc hơi, trong khi bên ngoài gió lạnh rít qua mái tranh.”
Cái lạnh và cái đói hình như có bà con hay hai người yêu quấn quít lấy nhau. Đã lạnh thì dễ đói. Đã đói thì lại càng thêm lạnh. Đó cũng là kinh nghiệm cay đắng của những người miền Nam bị đày ra vùng núi non Bắc Việt như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoàng Liên Sơn… sau năm 1975.
Nếu người ta không đói thì cũng nghèo. Đó là hoàn cảnh Cô Tâm trong Gánh Hàng Xén, tôi cũng trích trong tập truyện ngắn trên, cùng tác giả:
“Cái đòn gánh cong xuống vì hàng nặng, kĩu kịt trên mảnh vai nhỏ bé theo nhịp điệu của bước đi. Chịu khó, chịu khó từng tí một, hết bước nọ sang bước kia, cứ thế mà đi không nghĩ ngợi. Tâm thấy ngày nay cũng như mọi ngày, ngày mai cũng thế nữa; tất cả cuộc đời nàng lúc nào cũng chịu khó và hết sức, như tấm vải thô dệt đều nhau. Có phải đâu chỉ một mình cô; trong những lũy tre xanh kia, bao nhiêu người cũng như cô, cũng phải chịu khó và nhọc nhằn, để kiếm tiền nuôi chồng, nuôi con, nuôi các em. Tâm không chán nản cũng không tự kiêu, chỉ thấy yên tâm chắc chắn, như nhiều người khác cũng làm việc, cũng sống như nàng.”
….
“Lúc Tâm ra về, trời đã tối. Nàng vội vã bước mau để về cho con bú. Sương mù xuống phủ cả cánh đồng, và gió lạnh nổi lên: Tâm thu vạt áo lại cho đỡ rét, lần theo bờ cỏ đi.”
Cơn gió Bấc thường đến bất chợt bởi vì nó phát xuất từ Tây Bá Lợi Á. Cơn gió từ đó thổi đi, thường mang theo cái lạnh của vùng trung tâm lục địa Châu Á. Nó ập vào miền Bắc nước ta như một tên xâm lược, tiến nhanh như gió bão:
“Buổi sáng hôm nay, mùa đông đột nhiên đến, không báo trước. Vừa mới ngày hôm qua giời hãy còn nắng ấm và hanh, cái nắng về cuối tháng mười làm nứt nẻ đất ruộng, và làm ròn khô những chiếc lá rơi. Sơn và chị chơi cỏ gà ở ngoài cánh đồng còn thấy nóng bức, chảy mồ hôi.
“Thế mà qua một đêm mưa rào, trời bỗng đổi ra gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến làm cho người ta tưởng đang ở giữa mùa đông rét mướt.
“Sơn tung chăn tỉnh dậy, nhưng không bước xuống giường ngay như mọi khi, còn ngồi thu tay vào trong bọc, bên cạnh đứa em bé vẫn nắm tay ngủ kỹ. Chị Sơn và mẹ Sơn đã trở dậy, đang ngồi quạt hỏa lò để pha nước chè uống. Sơn nhìn thấy mọi người đã mặc áo rét cả rồi.”
“Sáng sớm hôm sau, trong gió bấc lạnh, Tâm đã mở cổng gánh hàng lên chợ. Sương trắng còn đầy ở các ngõ trong làng; mùi rơm rác và cỏ ướt thoang thoảng bốc lên, mùi quen của quê hương và của đất mầu khiến Tâm thấy dễ chịu và thêm can đảm. Nàng rảo bước cho mau chóng đến chợ.”
Gió Bấc làm cho đời sống dân chúng khổ sở. Bây giờ lại khổ hơn! Và nó cũng đóng một vai trò nào đó trong lịch sử. Sử chép:
Tháng 3 năm Giáp Dần (1794) nhà Tây Sơn tổ chức phản công, tướng Nguyễn Văn Hưng đem bộ binh đánh vào Phú Yên, và tướng Trần Quang Diệu vào vây thành Diên Khánh. Đông cung Cảnh cho người về Gia Định cầu viện. Tống Phúc Đạm liền theo chúa Nguyễn đem đại binh đến đánh giải vây, buộc Trần Quang Diệu phải rút quân về.
Chúa Nguyễn thấy thế Tây Sơn còn mạnh, vã lại đã đến mùa gió bấc lạnh lẽo, nên chúa đem Đông cung Cảnh về Gia Định, để lại Võ Tánh giữ thành Diên Khánh.”
Gió Bấc xuất xứ từ vùng trung tâm lục địa châu Á, thuộc đông-bắc Tây Bá Lợi Á. Qua tháng 1 tháng 2 dương lịch, tức là trước và sau tết âm lịch, vùng trung tâm nầy nhiệt độ xuống thấp lắm, từ 10 độ âm tới 40 độ dưới không độ, có khi xuống tới 50 độ âm. Verkhoïansk, một thành phố nhỏ ở miền đông-bắc Tây Bá Lợi Á được coi là thành phố lạnh nhứt địa cầu, về mùa đông có khi nhiệt độ xuống tới 70 độ (C) âm.
Gió từ Tây Bá Lợi Á, ở phía Bắc biển Thái Bình thổi về phía nam nên người ta mới gọi là gió Bắc, người Bắc gọi trại thành Bấc. Tuy nhiên vì vòng quay của địa cầu, gió Bấc từ biển thổi vào đồng bằng Bắc Việt theo hướng Đông - Bắc chứ không phải hướng Bắc. Khi vào châu thổ sông Hồng Hà, gió Bấc rẻ theo các dãy núi hình nan quạt mà lên Tây Bắc nên vùng Tây Bắc về mùa đông lạnh lắm. Nhiều người đi tù cải tạo ngoài bắc, có đi mà không về cũng vì những cơn gió Bấc tê tái nầy. Toàn bộ phần Nam lục địa, kể cả Tây Nam Á về mùa đông có gió Đông Bắc từ lục địa thổi xuống. Tuy nhiên do ảnh hưởng của các dãy núi cao theo hướng Đông-Tây, gió Đông Bắc từ áp cao Tây Bá Lợi Á không thể tiến tới bán đảo phía Nam được. Vì thế, chỉ có vùng từ đèo Hải Vân trở ra phía bắc mới chịu ảnh hưởng gió Bấc nặng nề. Từ Đà Nẵng xuống phía nam, ở phía nam đèo Hải Vân, không phải chịu cảnh “mưa phùn gió bấc” như các vùng phía ngoài. Cái lạnh cũng bớt đi.
Khi từ lục địa thổi ra, gió lạnh nhưng khô. Tuy nhiên, khi ngọn gió đi qua vùng phía bắc Thái Bình Dương, nó đem theo hơi nước của biển, cộng thêm những tầng mây dày và nặng trên vùng trời nầy, gió lại mang theo cơn mưa của biển. Mưa không nặng hạt, có khi rất nhẹ như lúc mới vào mùa, thường thích hợp cho các bà các cô Hà Thành mặc áo nhung đi dạo phố. Vào cửa hàng, họ chỉ cần cầm vạt áo rủ nhẹ là hạt mưa phùn rơi xuống. Khi vào giữa mùa, hạt mưa nặng hơn, mưa dai dẵng kéo từ ngày nầy sang ngày khác. Mưa chen trong gió hay gió mang theo mưa? Đây là mùa “Mưa phùn gió Bấc”. Mưa rỉ rả, và lạnh, và buồn, và kéo lê nhiều ngày khiến có lần Nguyễn Bính phải than:
“Trời mưa ở Huế sao buồn thế!
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày
Thềm cũ nôn nao đàn kiến đói
Trời mờ ngao ngán một làn mây.
“Trường Tiền vắng ngắt người qua lại
Đập Đá mênh mang bến nước đầỵ
Đò vắng khách chơi nằm bát úp
Thu về lại giở gió heo may...”
Nguyễn Bính hỏi “sao buồn thế?” Đỗ Tấn nói rõ hơn:
“Đêm Huế mưa buồn như em không nói,
Những cây mù u gục đầu. (1)
Lạnh về cắn xé đêm thâu”
Vì mùa “Mưa phùn giáo bấc” nên cái lạnh của xứ Huế ẩm ướt và khó chịu. Không có cái áo mưa nào ngăn nổi những giọt nước của cơn mưa phùn. Mưa thấm qua mũ, thấm qua áo quần và thấm vào đôi bít tất. Những giọt nước ở lại đó, - trong hai chiếc giày, cùng với hơi lạnh, kiên trì dai dẳng làm tê cóng mấy ngón chân.
Những người trẻ ngày nay có thể không biết “cái lồng ấp” là cái gì? Nó đã chết theo thời gian rồi! Người miền Nam cũng không biết nó. Nó là cái trách nhỏ, bằng cái tô, đất nung, trong đựng những cục than đỏ tỏa ra hơi nóng ấm áp. Và một vật trông như cái giỏ tre đan giữ cái trách đất trong lòng nó. Ôm chặt cái trách đất, hình như cái giỏ tre cũng sợ lạnh! Các mẹ, các bà cụ già, mùa đông lạnh, thường giữ kèm cái lồng ấp bên cạnh, hay đặt trước bụng, hơ hai bàn tay trên cái trách đất cho đỡ cóng.
Cái lồng ấp và ngọn gió Bấc thổi về có họ hàng gì với nhau không mà mỗi khi cơn gió Bấc vi vút thổi trên mấy hàng dương liễu bên bờ sông Thạch Hãn thì cái lồng ấp xuất hiện. Người ta mới mua ở chợ hay mới lôi ra từ trên giàn bếp. Không! Cái lồng ấp chống lại cái lạnh của ngọn gió Bấc đấy. Trong khi cái lạnh của cơn gió làm tê cóng hay bàn tay, thì ngọn lửa trong cái lồng ấp làm cho hai bàn tay hồng trở lại, máu lại chạy đều trong mấy ngón tay.
Cái lồng ấp của mẹ tôi đã cũ, ít ra được mua ở chợ hồi năm ngoái. Có nghĩa rằng nó đã thâm niên được một năm, một năm giúp mẹ tôi bớt cóng hai tay. Những nan tre màu trắng của cái lồng ấp nay đã sậm mầu. Miệng cái giỏ tre lồng ấp bị cháy xém đen. Ngọn lửa trong cái trách đất quá nóng hay lửa bùng lên làm cháy những nan tre?
Mấy chục năm nay, kể từ khi khôn lớn rồi lưu lạc tới miền Nam xa xôi thì tôi không còn thấy cái lồng ấp nữa. Miền Nam không có cái lạnh của ngọn gió Bấc để người đàn bà phải cần tới nó. Và thế rồi tôi quên nó, tôi quên cái lồng ấp đã làm cho hai bàn tay mẹ tôi bớt tê cóng. Gần chục năm trong trại cải tạo, nhiều đêm đông gió lạnh cũng tê tái, tôi cũng không nhớ đến cái lồng ấp của mẹ tôi nữa.
Vậy mà sáng hôm nay, trời ở Mass bỗng chuyển North wind chill. Nhìn gió lắc lư trên những ngọn thông màu xanh sẫm sau nhà, tôi bỗng nhớ đến cơn gió Bấc ở quê nhà, nhớ tới mẹ tôi và bất chợt, qua hình ảnh của mẹ tôi mà tôi đã sống gần gủi bên mẹ khi tôi còn niên thiếu, tôi chợt nhớ tới cái lồng ấp của mẹ.
Mẹ tôi chạy giặc khỏi quê nhà năm 1972. Tôi không biết những năm trước đó mẹ tôi còn dùng cái lồng ấp hay không, những cái lồng ấp cũ mẹ tôi đã dùng có lẽ đã tiêu tan vào những thùng rác sau nhà. Nhưng trong tâm hồn tôi, từ thơ ấu đến giờ, hình ảnh cái lồng ấp vẫn còn giữ lại đó, chẳng qua, vì tôi cũng như mọi người, ai cũng thương mẹ.
Những năm tù cải tạo về, tôi biết thêm một danh từ mới của ngư phủ nước ta, sinh sống trong vùng Châu Á Gió Mùa. Mùa đông gió Bấc thổi nhiều ngày, từ tuần nầy qua tháng nọ. Khi gió đang mùa, thuyền vượt biên không ra biển được. Sóng lớn, thuyền vượt biên dễ gặp nguy. Nhưng rồi bỗng mấy hôm, gió Bấc ngừng thổi. Biển lặng. Thời điểm gió Bấc ngưng thổi, người làm nghề đánh cá biển gọi là “Đồng Chung”, là lúc thuyền vượt biên đi được. Ngư phủ có nhiều kinh nghiệm, đoán được những ngày “đồng chung”. Người tổ chức vượt biên cũng dựa theo đó để tính ngày cho khách lên đường.
Gió Bấc thổi vào mùa Đông, nhất là những ngày trọng đông.
Cơn gió lạnh thổi vào mùa thu, người ta đặt cho nó một cái tên khác: Gió heo may. Gió heo may thổi khi trời còn ít mây, có khi còn những cơn nắng chiều mầu tím, và cũng có khi trời nhiều mây nhưng không sũng nước như những tầng mây đen dày mùa đông.
Trịng Công Sơn có cái nhận xét tinh tế đó khi ông viết “Nhìn những mùa thu đi”:
“Nhìn những lần thu đi
Tay trơn buồn ôm nuối tiếc
Nghe gió lạnh về đêm
Hai mươi sầu dâng mắt biếc
Thương cho người rồi lạnh lùng riêng

Gió heo may đã về
Chiều tím loang vĩa hè
Và gió hôn tóc thề
Rồi mùa thu bay đi

Trong nắng vàng chiều nay
Anh nghe buồn mình trên ấy
Chiều cuối trời nhiều mây
Đơn côi bàn tay quên lối
Đưa em về nắng vương nhè nhẹ

Đã mấy lần thu sang
Công viên chiều qua rất ngắn
Độc giả để ý những chữ tôi in nghiêng là những câu  tả cảnh mùa thu ở Huế, có gió heo may: “Gió lạnh về đêm”. Có nghĩa rằng ngày chưa đến nỗi lạnh lắm. Gió cũng thổi không mạnh lắm. Gió thổi mạnh sao có thể “Gió hôn tóc thề”. Nắng thì vàng (nắng vương nhè nhẹ) nhưng chiều thì đã ngã sang mầu tím (chiều tím loang vĩa hè). “Công viên chiều qua rất ngắn”, có nghĩa rằng đã đến “Thu phân”, ngày ngắn lại, trời nhiều mây nên mau tối.
ước ta thuộc “Châu Á Gió Mùa”. Nói một cách đơn giản thì mùa đông có gió Bấc, thường được gọi là “Gió Mùa Đông Bắc”. Đến mùa hè, gió thổi ngược lại, từ hướng nam đi lên, là gió Nam, tên thường được gọi là gió Nồm, mang theo cái mát mẻ của biển. Mùa Đông, người ta sợ gió Bấc, mùa hè, người ta mong được cơn gió Nồm. Đọc bài thơ sau đây của Nguyễn Khuyến, độc giả biết ngay:
“Ai xui con cuốc gọi  mùa hè
Cái  nóng nung người nóng nóng ghê
Ngõ trước vườn  sau um những cỏ
Vàng phai  thắm nhạt ngán cho huê
Đầu cành kiếm bạn oanh xao- xác
Trong tối đua bay đóm lập-loè
Mong được nồm nam cơn gió thổi
Đàn ta, ta gãy khúc Nam nghe.”
Cũng như ngọn gió Bấc đã nói ở phần trên. Nó ngăn giặc! (Chúa Nguyễn thấy thế Tây Sơn còn mạnh, vã lại đã đến mùa gió bấc lạnh lẽo, nên chúa đem Đông cung Cảnh về Gia Định…) thì gió Nồm làm cho giặc “dậy” lên. Nguời dân miền Nam Trung Bộ, khi đã “ngán” nhà Tây Sơn rồi thì họ cầu: 
“Lạy trời cho nổi gió Nồm
Để cho Chúa Nguyễn kéo buồm thẳng ra.”
Trong cuộc chiến tranh giữa Nguyễn Ánh và nhà Tây Sơn, thường chuyển quân bằng thuyền. Khi gió Bấc lạnh lẽo, quân Nguyễn Ánh rút về Nam. Khi gió Nam (Nồm) thổi, thuận gió cho Chúa Nguyễn kéo quân ra miền Trung thì Chúa Nguyễn Ánh bèn ra đánh nhà Tây Sơn.
Chuyện đánh nhau như thế, được ghi trong lịch sử và ca dao. Riêng về thời tiết, về mùa đông, không ít khi cô (hay bà) xướng ngôn viên của đài phát thanh Saigon đọc lên câu sau đây trên làn sóng điện, kết thúc một bản tin: “Hôm nay, gió mùa Đông Bắc thổi mạnh trên biển Nam Hải.”
Nghe mãi thành quen, nó hằn sâu vào tâm hồn tôi lúc nào tôi chẳng hay. Đối với những người làm chính trị, khi đọc diễn văn, họ vẽ ra một quê hương là cái gì đó vĩ đại, lớn lao, cao quí. Nhưng với tôi, đôi khi thấy Wind Chill ở miền Đông-Bắc Mỹ nầy thổi vi vút qua những tàng cây cao, tôi bỗng nhớ câu dự đoán thời tiết ngày trước “Gió mùa Đông-Bắc thổi mạnh trên biển Nam-Hải” qua giọng nói trên đài phát thanh Saigon.
Chỉ mấy tiếng mà sao tôi nhớ lâu quá vậy? Ôi quê hương! Quái lạ không? Đơn giản chỉ là một câu nói của một người nào đó mà tôi chưa từng bao giờ biết tên, gặp mặt./

hoànglonghải

           
(1) Văn Thánh trồng thông
Võ Thánh trồng bàng
Ngó lên xã tắc hai hàng mù u.
(Ca dao Huế. Xem thêm “Mùa Hè ở Huế” cùng tác giả).
  


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét