ĐOÀN
CHUẨN,
Lãng Mạn Tiểu Tư Sản,
“Khi xưa ta là Đường Minh Hoàng”
Lãng Mạn Tiểu Tư Sản,
“Khi xưa ta là Đường Minh Hoàng”
TUỆ CHƯƠNG
HOÀNG LONG HẢI
HOÀNG LONG HẢI
Đoàn Chuẩn
Khá nhiều người đã viết về nhạc Đoàn Chuẩn,
bởi một lý do đặc biệt, tính chất lãng mạn tiểu tư sản trong nhạc của ông.
Có người cứ nghĩ rằng tính cách lãng mạn đó
chỉ trong lời ca mà thôi. Hầu hết lời ca đó là do Từ Linh viết. Những bản nhạc
của Đoàn Chuẩn xuất bản đầu tiên hồi những năm đầu thập niên 1950 (1951, 1952),
ghi rõ Nhạc: Đoàn Chuẩn, lời: Từ Linh. Thực ra Từ Linh không trực tiếp tham gia
sáng tác, nhưng Đoàn Chuẩn ghi tên chung hai người để tôn vinh người bạn tri âm
của mình, tôn vinh tình bạn đã góp phần tạo cảm hứng nghệ thuật.
Sau nầy, khoảng thập niên 1960, 70 khi
những bản nhạc đó tái bản ở Saigon , thấy ghi
như thế nầy: nhạc và lời Đoàn Chuẩn.
Thật ra, ông con nhà tư sản chứ không phải
tiểu tư sản. Hình như, - tôi nói “hình như” - ông mồ côi cha sớm, nhưng mẹ ông
là người giỏi buôn bán, dựng được một nhà máy sản xuất nước mắm ở Hải Phòng,
thành ra “cậu công tử” Đoàn Chuẩn chơi nhiều hơn học. Ở tuổi thanh niên, trước
1945, ông có mặt thường xuyên ở các nhà hàng Dancing Hà Nội, Hải Phòng, yêu
thích âm nhạc, chơi đàn Hạ Uy Cầm khá hay. Tiếng Hạ Uy Cầm réo rắt ảnh hưởng
đến nhạc của ông sâu đậm. Thật vậy, nhạc của ông cũng réo rắt, giai điệu tuy
đơn giản nhưng êm đềm và sâu lắng.
Ông không tự khoe khoang ông là nhạc sĩ,
chỉ là một tài tử. Tác phẩm của ông cũng không nhiều, chỉ khoảng 10 bài được
phổ biến, nhưng 10 bài đó đã làm say mê nhiều thế hệ - những thế hệ mang tính
tiểu tư sản - yêu thích âm nhạc.
Một vài tài liệu cho biết bài hát đầu tiên
ông viết ra nhan đề là ‘Tình Nghệ Sĩ”, năm 1948. Cũng có vài tài liệu cũ cho
biết ông có tham gia kháng chiến chống Pháp thời kỳ đầu. Trong thời kỳ nầy, ông
đã viết “Đường Về Việt Bắc.” Việt Bắc là khu kháng chiến của Việt Minh trong
kháng chiến chống Pháp.
Theo kháng chiến một thời gian, ông bỏ
kháng chiến về Hải Phòng. Bà vợ ông cũng là một người đảm đang như mẹ chồng,
cai quản cơ sở làm ăn, nên ông lại nhàn hạ, quay trở lại các vũ trường và có một
cuộc sống rất phong nhã, bay bướm. Đây là thời kỳ ông sáng tác mạnh nhứt.
Nhân dịp con trai ông là Đoàn Chỉnh ra hồi
chánh với chính quyền miền Nam năm 1965 hay 66 gì đó, một vài người trong giới
nghệ sĩ Hà Nội di cư vào Nam sau hiệp định Genève 1954, giải thích lý do tại
sao ông “Không đi Nam” là vì ông hiểu lầm Cộng Sản. Trước năm 1954, ông có thực
hiện một vài công tác do Việt Minh giao phó. Do đó, ông những tưởng mình “Có
công với cách mạng”, sẽ được sống yên ổn ở quê hương mình nếu Việt Minh kiểm soát
vùng bắc vĩ tuyến 17. Ông đã lầm, và ông cũng đã bị “đánh tư sản” như hầu hết
các nhà tư sản ở miền Nam
sau 1975 vậy. [.....................]
Tỉnh cơn mê, ông đã khuyến khích con ông
hãy “hồi chánh” sau khi theo đơn vị bộ đội [....................] vào miền Nam .
Nếu nói tới tính cách lãng mạn trong ca
nhạc Việt Nam
thì hiện tượng đó rất phổ biến. Đa số các nhạc phẩm được sáng tác trước 1945
hoặc sau đó, trong vùng quốc gia (trước 1954) hoặc ở miền Nam sau di cư, có lẽ
rất ít tác phẩm thiếu tính chất lãng mạn, dù là do các nhạc sĩ nổi tiếng hay
các nhạc sĩ mới nổi lên sáng tác, dù một tác phẩm nói về cuộc sống của giới
nghệ sĩ - nghệ sĩ thường lãng mạn!!! - của thanh niên thiếu nữ vùng quê mà ngay
cả việc mô tả lại cuộc sống gian khổ của những người lính miền Nam thuộc tất
cả các binh chủng, các ngưòi lính lãng mạn đang chiến đấu ngày đêm ngoài mặt
trận.
Loại âm nhạc nầy, ở miền Nam, rất phong
phú, có lẽ tôi không cần dẫn chứng, bởi vì độc giả thử hát bất cứ một bản nhạc
“vàng”(!!!???) nào cũng có thể thấy điều tôi nói, từ thơ Phạm Thiên Thư, Phạm
Văn Bình, Nguyễn Tất Nhiên… được phổ nhạc, cho tới những bài hát của Trúc
Phương, Hoàng Trọng, Hoàng Thi Thơ, Hoàng Nguyên…
Tính chất lãng mạn trong nhạc Đoàn Chuẩn đã
có người bàn đến trong những nhận xét về “mùa thu”, về “màu xanh – tà áo xanh”
- trong nhạc của ông.
Thông thường các bản nhạc “vàng”(???!!!) đó
chỉ lãng mạn ở lời ca. Nhạc Đoàn Chuẩn khác hơn. Nó lãng mạn ngay cả trong cái
“air” nhạc – có phải vì ông ta chịu ảnh hưởng tiếng đàn Hạ Uy Cầm mà ông chơi
khá hay???!!! –
Ví dụ: Khi chúng ta hát câu: “Gởi gió cho
mây ngàn bay” thì cái lãng mạn đâu phải chỉ ở “gió” và “mây ngàn”, “gió thôi
mây trôi” hay “bèo giạt mây trôi” như trong hát Quan Họ. Người hát phải đưa hơi
mạnh vào chữ “gió” và chữ “bướm” trong câu hát kế tiếp. Nhựng chữ sau chữ “gió”
và “bướm” hát nhẹ hơn, thành ra người ta nói nhạc ông “sâu lắng” chính là ở
những câu hát như thế đấy.
Đây không chỉ là một lần trong các bài hát
của Đoàn Chuẩn. Chẳng hạn như câu “Với bao tà áo xanh…” Chữ “Với” người ta phải
hát mạnh, tha thiết, như muốn nói lên một tình cảm mãnh liệt và tha thiết nào
đó. Trong bài “Tà Áo Xanh”, nó không lãng mạn ở “áo xanh” nhưng cách hát tiếng
“Gió” (bay từ muôn hướng) và chữ “Tới đây” (ngập hồn anh) nó cũng tương tự như
cách hát vừa nói trên.
Cái “air” nhạc như thế ít thấy trong các
bài hát khác. Hình như Đoàn Chuẩn bị ấn tượng khi ông ta đánh các móng sắt trên
tay ông vào sợi giây đàn, và tay kia vuốt nhẹ dọc theo sợi giây đồng, tạo nên
một âm thanh vừa mạnh, vừa chải chuốt, vừa uyển chuyển, xoáy sâu vào tâm hồn
người nghe.
Tiếng Hạ Uy Cầm “sang” hơn tiếng đàn
Accordeon, đàn Bangjo, Mandoline… Và cả Tây Ban Cầm, cây đàn “gốc” của Hạ Uy
Cầm. Thông thường, mỗi loại đàn thích hợp hợp từng hoàn cảnh khác nhau. Trong
nhà thờ, cảnh tượng thâm nghiêm vừa cao vừa sâu, thì tiếng đàn vừa réo rắt vừa
du dương, êm đềm phải từ cây đàn harmonium phát ra. Tin Lành là một tôn giáo
cải cách từ Thiên Chúa giáo La Mã thì tiếng đàn accordeon mạnh bạo thay cho cây
đàn harmonuium du dương. Trong khung cảnh múa hát nhộn nhịp vui tươi thì tiếng
đàn phải phát ra từ cây đàn arcordeon hay Tây Ban Cầm.
Cũng từ căn bản âm thanh của tiếng đàn Hạ
Uy Di, cái lãng mạn của Đoàn Chuẩn “tiểu tư sản” hơn, “sang” hơn các bài hát
lãng mạn khác. Đó cũng chính là lý do khiến các người trẻ, đám thanh niên, học
sinh, sinh viên thời ấy thích nhạc Đoàn Chuẩn hơn các bài ca lãng mạn khác.
Nhìn các cô gái Hạ Uy Di ăn mặc đặc biệt, múa may mềm mại theo tiếng đàn Hạ Uy
Cầm trong khung cảnh bãi cát rộng, dừa xanh, núi thẳm, người ta thấy khác với
các cô gái Nam Mỹ nhảy múa náo nhiệt theo tiếng đàn accordeon dưới mặt trời bốc
lửa vùng sa mạc. Do đó, những bản nhạc của Đoàn Chuẩn thườngg theo điệu blue
của Hạ Uy Di, trong khi các bản nhạc của Hoàng Thi Thơ, Trúc Phuơng, v.v… theo
điệu bolero Nam Mỹ.
Những điểm đặc sắc như tôi nói: tiểu tư sản
hơn, trí thức hơn, “sang” hơn các bài ca lãng mạn khác đã hạn chế số lượng tác
phẩm do Đoàn Chuẩn làm ra. Số lượng nhiều hơn sẽ làm cho cái “sang” hơn nó
loảng đi, cái “trí thức” hơn, “tiểu tư sản” hơn sẽ “bình dân” hơn. Thành ra,
nhờ ông soạn nhạc ít đi nên nhạc ông còn đó, còn hơn là soạn thật nhiều mà cái
còn lại chẳng bao nhiêu.
Trong cái tiểu tư sản của Đoàn Chuẩn, như
vài nhà phê bình đã viết, có tà áo xanh của cô thiếu nữ, những “tà áo bay theo
gió ngập hồn anh”, có nhiều áo tím của các cô gái tuổi còn thanh xuân (Chiều
nay áo tím ra nhiều quá), có “tà áo xanh về với giấc mơ”, có “hương thu với mầu
tím buồn”. Tuy nhiên, cái tiểu tư sản đặc biệt nhứt của thời đại ông là áo
nhung tím (Em tôi ngập ngừng trong tấm áo nhung) và chiếc khăn soan trên vai
thiếu nữ (Khăn soan bay lả lơi trên hai vai). Tiếc rằng, vì là nhạc, ông không
thể mô tả đủ những giọt mưa thu đầu mùa đọng trên những vạt áo nhung mà người
mặc chỉ cần rủ nhẹ vạt áo là chẳng còn giọt nào nữa cả.
Trong một vài bài hát, ông nhắc lại một vài
điển tích Tầu như Phù Dung, Cô Tô, Phù Sai, Bao Tự, Dương Quí Phi… Nhạc của ông
là tình yêu, là những mối tình mất nước và mất… mạng. Kết thúc những mối tình
ông nhắc tới là những cái chết vì tình. Có thể nào ông yêu một ai đó, yêu cho
đến chết như người xưa được hay sao?!
Phù Dung là loài hoa Lý Bạch sánh với sắc
đẹp của Duơng Quí Phi: “Phù Dung như diện liễu như mi” (mặt như hoa phù dung,
mày như liễu). Đường Minh Hoàng yêu Dương Quí Phi như thế nhưng đành đứt ruột
đồng ý cho lệnh treo cổ Dương Quí Phi để cứu cơ nghiệp nhà Đường. Phù Sai vì
yêu Tây Thi nên mất nước, mất mạng. Châu U Vương vì yêu Bao Tự nên nhà Chu dứt nghiệp. Cô Tô hay Tô Châu là thành phố cổ trên
sông Dương Tử, một thời là kinh đô nhà Ngô, một nơi xảy nhiều trận huyết chiến
giữa quân Ngô và các nước chung quanh để tranh giành đất đai và người đẹp.
Người ta cũng nghe cả tiếng Cô Tô trong tiếng chuông chùa Hàn Sơn (Cô Tô thành
ngoại Hàn Sơn tự)
Như vừa nói, nhạc Đoàn Chuẩn trích dẫn
không ít điển tích cũ. Độc giả thử hát câu sau đây:
“Dòng đời thôi đã về chiều mà lòng mến còn
nhiều, đâp gương xưa tìm bóng. ”
Ta thấy gì qua câu hát nầy?
Cái đa tình của vua Tự Đức (có người nói là
của Nguyễn Gia Thiều) khóc Bằng Phi, cũng muốn “đâp gương xưa” tìm bóng người
yêu đã khuất:
Ới Thị Bằng ơi,
đã mất rồi!
Ới tình, ới nghĩa, ới duyên ôi!
Mưa hè, nắng chái, oanh ăn nói;
Sớm ngõ, trưa sân, liễu đứng ngồi.
Đập cổ kính ra tìm lấy bóng;
Xếp tàn y lại để dành hơi.
Mối tình muốn dứt càng thêm bận,
Mãi mãi theo hoài cứ chẳng thôi.
Ới tình, ới nghĩa, ới duyên ôi!
Mưa hè, nắng chái, oanh ăn nói;
Sớm ngõ, trưa sân, liễu đứng ngồi.
Đập cổ kính ra tìm lấy bóng;
Xếp tàn y lại để dành hơi.
Mối tình muốn dứt càng thêm bận,
Mãi mãi theo hoài cứ chẳng thôi.
Cái hay trong nhạc Đoàn Chuẩn không hay
thêm nhờ nhắc tới “tứ đại giai nhân” (Tây Thi, Chiêu Quân, Điêu Thuyền và Dương
Quí Phi) của nước Tầu, nhưng có lẽ ông muốn nói tình yêu say đắm của người xưa,
yêu cho đến chết, yêu cho nước mất nhà tan, yêu cho nghiêng nước nghiêng thành.
Có lẽ tình yêu của Đoàn Chuẩn dành cho ai đó, ông cũng muốn được yêu và yêu cho
đến… chết (?) như người xưa.
Với người đời nay, có thể người ta không
yêu như thế, không thích như thế, nhưng với thời đại của Đoàn Chuẩn, yêu và
được yêu như người xưa là điều nhiều người ước muốn.
Có lẽ vậy thật đấy! Trong tâp thơ “Diễm
Trang” của Vũ Hân, xuất bản ở Huế năm 1956 (hay 57), tôi thấy có hai câu thơ
sau đây:
“Khi xưa ta là
Đường Minh Hoàng.
Ta mơ em là Dương Quí Phi!”
Ta mơ em là Dương Quí Phi!”
Nếu là người lãng mạn, khó ai không muốn
như Vũ Hân.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét