CÕI ÂM TRONG THƠ
Hoàng Long Hải
Tôi tính
chấm dứt bài viết về mùa thu, nhưng nghĩ lại, tới thu thì âm thịnh dương suy, không nói về ma quỉmột chút thì e rằng bỏ qua
một khía cạnh độc đáo của thi ca nói về mùa thu. Quả thật, các mùa khác, ít ai
làm thơ ma.
Có lẽ người Trung Hoa làm thơ ma trước ta khá lâu. Đời nhà Thanh, khi Bồ Tùng Linh viết “Liêu Trai ChíDị” (3), có Vương Ngư Dương đề thơ như sau:
Cô
vọng ngôn chi, cô thính chi
Đậu
bằng qua giá, vũ như ti
Liệu ưng yếm tác nhân gian ngữ
Ái
thính thu phần quỷ xướng thi
(Vương Ngư Dương)
Tản Đà dịch
như sau:
Nói
láo mà chơi, nghe láo chơi
Giàn
dưa lún phún hạt mưa rơi
Chuyện
đời chán hẵn, không thèm nhắc
Thơ thẩn nghe ma đọc mấy lời
Đào Trinh
Nhất dịch như sau:
Cứ
nói tràn, cứ nghe tràn
Đêm
mưa thánh thót trên giàn đậu dưa
Chuyện
đời đã ngán xưa giờ
Thích
nghe ma quỉ dưới mồ ngâm thơ!
Việt Nam,
khoảng giữa thế kỷ 20, có một người làm thơ nổi tiếng rất “liêu trai”, có một tập thơ nghe rờn rợn, đó là tập “Mê Hồn Ca”. Thơ ma của ông, Đinh Hùng, có bài sau đây hay nhứt:
BÀI THƠ CHIÊU
NIỆM
Trời
cuối thu rồi em ở đâu
Nằm
trong đất lạnh chắc em sầu
Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy
Ta
muốn vào thăm nấm mộ sâu!
Em
mộng về đâu!?
Em
mất về đâu!?
Từng
đêm tôi nguyện, tôi cầu
Ấy
mầu sương khói là mầu mắt xưa
Em
đã về chưa
Em
sắp về chưa
Trăng
sao tắt ngọn đèn mờ
Ta
nằm nhỏ lệ, khóc thơ gọi hồn
Thần
chết cười trong bộ ngực điên
Ta
nghe em thở tiếng ưu phiền
Nắm
xương khô lạnh còn ân ái
Bộ
ngực bi thương vẫn rợn tình
Hỡi
hồn tuyết trinh
Hỡi
người tuyết trinh
Nghe
ta em thoát thân hình
Nhập
hồn cây cỏ đa tình mỗi đêm
...
... ...
Các thi sĩ
của ta xưa nay chưa ai viết về thơ ma ghê rợn như ông. Ma đang ngũ trong nấm mồ lạnh lẽo, ông biểu đánh thức ma dậy để ông vào thăm nói chuyện chơi. Ông không chơi với ma đói, ma khát, ma què, ma chết trận chết đường, ma Kinh tế mới (4) mà chỉ chơi với ma con gái, ma đẹp; hèn chi trong “Liêu Trai Chí Dị”, hồ ly hiện hình là biến
thành một cô gái dung nhan mỹ miều để mê hoặc những người dại gái. Trong bộ ngực vẫn rợn tình của cô gái
Liêu Trai là tiếng cười của thần chết.
Cả hai tập
thơ của ông “Mê Hồn Ca” in năm 1954 và “Đường Vào Tình Sử” in năm
1961, tập nào cũng phảng phất ma quỉ ghê rợn, ai nhát gan không nên đọc một
mình lúc đêm khuya:
..
.. .. .. .. ..
Nếp
nhàu vai áo sang thu
Xin
em đừng khóc gối mưa giận hờn
Gầy
hao lửa nến linh hồn
Nhìn
gương sợ bóng cô đơn lạ người
Giật
mình biến động mù khơi
Gió
mưa chợt vắng tiếng đời xót thương
Tượng sầu nguyện khói pha sương
Dỡ
vuông khăn liệm, mùi hương còn nồng
(Nếp
áo sang thu, Đinh Hùng)
Rời
tay nhịp phách đoạn trường
Hồn
đêm nay thấm mùi hương năm nào?
Sầu
che nửa mặt chiêm bao
Dòng
mưa thu lệ chìm vào phấn
son
Nét
mày cong vút núi non
Mênh
mông xiêm trắng linh hồn vào thu
(Vào
Thu, Đinh Hùng)
Nắng
trôi vàng chảy về đâu
Hôm
nay mới thực bắt đầu vào thu
Chiều
xanh trắng bóng mây xưa
Mây
năm xưa đã phiêu du trở về
Rung
lòng dưới bước em đi
Lá
vàng gợi lại phân ly mất rồi
Trời
hồng chắc má em tươi
Nước trong chắc miệng em cười thêm xinh
Em
đi, hoài cảm một mình
Hai
lòng riêng để mối tình cô đơn
Hôm
nay tưởng mắt em buồn
Đã
trông thấp thoáng
ngọn
cồn bóng sương
Lạnh
lùng chăng gió tha phương
Em
về bên ấy ai thương em cùng
(Bài
hát vào thu, Đinh Hùng)
Cả mấy bài
nói trên của Đinh Hùng, chỉ có bài “Bài thơ Chiêu Niệm” là hay, ý tưởng mới lạ và nồng nàn. Các bài khác nặng tính chơi chữ, dùng chữ thật kêu nhưng ý tưởng chẳng có gì mới mẻ
khác lạ cả. Chỉ được có một câu hay: “Nắng trôi vàng chảy về đâu?” Nắng như một
chất lỏng màu vàng trôi trên mặt đất không biết chảy về đâu? Còn những ý như lá vàng, phân ly là những ý xưa nay vẫn có.
Hai đoạn
trích trước mang vẽ liêu trai, đó là nét đặc biệt trong thơ Đinh Hùng. Ngọn lửa
nến hiu hắt, hao gầy, vàng vọt, như ẩn hiện linh hồn người chết đâu đó. Khăn vuông đã liệm mặt, thân
thể đã lạnh giá mà mùi hương hình như vẫn còn nồng, “Giở vuông khăn liệm mùi hương còn nồng”. Cũng mùi hương đó Đinh Hùng nhắc lại trong bài sau: “Hồn đêm nay thấm mùi hương năm nào!?”
Người chết đã mấy năm còn mùi hương, ấy là linh hồn còn quanh quất
đâu đó, chưa chịu đi xa. Nét lông mày cong vút như núi, nói như thế thì cũng như Nguyễn Du tả “Làn thu thủy, nét xuân sơn”.
Thực ra, trước Đinh Hùng, Chế Lan Viên cũng đã nói tới ma: “Muôn
ma Hời sờ soạng dắt nhau đi”. Hời là người Chàm, nhưng ý tưởng của Chế Lan Viên không ghê rợn, “liêu trai”, kinh dị như trong thơ Đinh Hùng. (Đinh Hùng là đệ tử của nàng tiên nâu, trên hương án có đặt một cái đầu lâu khi nào cũng khói hương nghi ngút).
Theo quan
điểm của người xưa thì khi xuân tới là dương bắt đầu thịnh, âm suy dần. Tới mùa thu thì ngược lại, dần dần âm thịnh dương suy.
Rằm tháng
bảy có lễ Mục Kiền Liên báo hiếu cho mẹ, Phật tử gọi là “Mùa Báo Hiếu”. Rằm
tháng Bảy, người Việt cũng có tục cúng cô hồn. Hôm ấy, những ai đã chết rồi đều được
xá tội (xá tội vong nhân), cửa địa ngục mở ra để những linh hồn bị giam giữ
được lên dương gian kiếm ăn. Ngoài ra, những người vô danh vị quốc vong thân, những người chết bất đắc kỳ tử, chết đường chết chợ, chết oan ức và những linh hồn không có con cháu thờ phượng đều tụ họp nhau lại trên dương thế. Đình chùa miếu mạo
và nhà tư nhân đều cúng vong. Có nơi làm lễ lớn, gọi là cúng “trận vong tướng sĩ”, hay “tế thập loại chúng sinh”, những người hay chữ, thường viết các bài văn tế. Sau đây là một đoạn trong “Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh” của Nguyễn Du:
Tiết
tháng Bảy mưa dầm sùi sụt
Toát
hơi may lạnh buốt xương khô
Não
người thay buổi chiều thu
Ngàn
lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng
Đường
bạch dương bóng chiều man mác
Dặm
đường lê lác đác mưa sa
Lòng
nào lòng chẳng thiết tha
Cõi
dương còn thế nữa là
cõi âm
(Nguyễn
Du)
Ông Phan Huy
Tiến cũng có một bài văn tế tướng sĩ rằm tháng bảy, xin trích vài câu:
Gươm Linh Bảo mười năm sẵn có
Đấng
anh hùng mưa gió chưa thôi
Dám
nhung trận một phút như không
Con
tạo hóa ghét chi lắm thế
Nhớ
tôn linh xưa
Hào
kiệt ấy tài
Kinh
luân là chí
Nặng
vai nửa gánh giang sơn
Chắp
cánh bốn phương hồ thỉ
Quốc
bộ gặp cơn binh bách
Phép
nhung bào từng lắm trận uy linh
Thiên
tài mong học chước Vệ Hầu,
Chế
pháo đạn biết bao chừng cơ trí
Thà
chết mà trọn tay địch khái
về
theo tổ phụ cùng vinh
Kìa
sống như mấy mặt hàng thần,
ở
lại giang sơn thêm bẻ bàng
(Phan
Huy Tiến)
Trong cuộc chiến tranh chống Pháp giành độc
lập và trong cuộc Nam Bắc nội chiến ở nước ta, biết bao người vì nước quên mình, hy sinh một cách anh dũng. Cho đến những ngày cuối cùng của cuộc
tương tàn cũng có biết bao người không chịu nhục, noi gương Võ Tánh, Ngô
Tùng Chu, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu. Làm tướng thành mất thì chết theo
thành. Đó là các anh hùng Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê văn Hưng, Trần văn
Hai, Lê Nguyên Vỹ, bên văn cũng có Trần Chánh Thành quyên sinh. Còn hàng trăm
người khác nữa, không sống nhục trong ngày quốc hận.
Than ôi! Tháng bảy mưa dầm sùi sụt, các vị anh hùng ấy, ngày nay linh hồn siêu thoát về đâu? Thân xác vềđâu? Chỉ còn lại đây
là những xót xa của người vọng quốc.
Ba mươi năm nội chiến, hàng triệu người hy sinh, chết oan. Sau nầy, dân tộc chúng ta nên chọn một ngày quốc lễ, ngày rằm tháng Bảy, để tưởng nhớ chung cho tất cả những người đã mất trong cuộc tương tàn.
(1)
Hình như lúc nầy ông yêu Thương Thương, nhà ở phố Gia Hội, Huế. Thương Thương là cháu thi sĩHoàng Diệp, bạn của Hàn Mặc Tử.
(2)
Ngoại trừ Gia Long và Bảo Đại (vua đầu và cuối) các đời khác không lập ngôi
hoàng hậu. Lệ nầy do Minh Mạng đặt ra, gọi là “Ngũ bất lập”: Bất lập hoàng hậu,
đông cung, tể tướng, phong vương và trạng nguyên.
(3)
Bồ Tùng Linh muốn chống nhà Thanh, nhưng bấy giờ phe “Phản Thanh Phục Minh” thế cùng lực kiệt, nên chẳng làm được gì nữa. Bồ Tùng Linh bèn mượn chuyện ma để viết “Liêu Trai Chí Dị”, phản đối nhà Thanh một cách tiêu cực. Người Trung Hoa thường tự hào về dân tộc họ, nhưng trong lịch sử Trung Hoa, hai lần họ bịngoại thích cai trị (không phải là người Hán) một lần nhà Nguyên (Mông Cổ), một lần nhà Thanh (người Mãn Châu) cai trị hằng mấy trăm năm mà đành chịu im.
(4)
Khi Võ Văn Kiệt làm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP/HCM, một đêm y ra công trường “Hồ Con Rùa” với ý định xem dân
chúng cúng rằm tháng bảy để có biện pháp bài trừ “mê tín dị đoan”. Y
thấy có ba con ma đang hỏi chuyện nhau. Một con ma tự giới thiệu:
-
“Tôi chết hồi Pháp Việt chiến tranh”.
Con
ma thứ hai cũng tự giới thiệu:
-
“Tôi chết oan trong một vụ pháo kích hồi chế độ cũ”.
Thấy
con ma thứ ba không nói gì cả, hai con ma kia bèn hỏi. Con ma nầy trả lời:
-
“Tôi không phải là ma. Tôi mới trốn từ vùng Kinh tế Mới về”.
CHANSON D' AUTOMNE
của
PAUL VERLAINE:
Les
sanglots longs,
Des
violons
De
l' Automne
Blessent
mon coeur
D'
une langueur
Monotone.
Tout
suffocant
Et
blême, quand
Sonne
l' heure
Je
me souviens,
Des
jours anciens.
Et
je pleure.
Et
je m'en vais
Au
vent mauvais
Qui
m' emporte
Deça,
Dela
Pareil
a la
Feuille
morte.
THU
của XUÂN-DIỆU
của XUÂN-DIỆU
Nõn
nà sương ngọc quanh thềm đậu;
Nắng
nhỏ bâng khuâng chiếu lỡ
thì.
Hư vô bóng khói trên đầu hạnh;
Cành
trúc run run chân ý nhi.
Gió
thầm, mây lặng, dáng thu xa;
Mới
tạnh mưa trưa, chiều đã tà.
Buồn
ở sông xanh nghe đã lại,
Mơ hồ trong một tiếng chim qua.
Bên
cửa ngừng kim thêu bức gấm,
Hây
hây thục nữ mắt như huyền;
-
Gió thu hoa cúc vàng lưng giậu,
Sắc
mạnh huy hoàng áo trạng nguyên.
THU RỪNG
của HUY-CẬN
Bỗng
dưng buồn bã không gian,
Mây
bay lũng thấp giăng màn âm u.
Nai
cao gót lẫn trong mù,
Xuống
rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về.
Sắc
trời trôi nhạt dưới khe;
Chim
đi, lá rụng, cành nghe lạnh
lùng.
Sầu
thu lên vút, song song
Với
cây hiu quạnh, nới lòng quạnh hiu.
Non
xanh nhạt cả buồn chiều
-
Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia.
hoànglonghải
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét