Thứ Bảy, 16 tháng 9, 2017

Chân Dung Tác Giả

NÓI RÕ THÊM VỀ CÁC NHÀ THƠ LÃNG MẠN TIỀN CHIẾN
Hoàng Long Hải



          Thơ lãng mạn tiền chiến là một thời kỳ rực rỡ trong thi ca Việt Nam. Đó là những tác phẩm có giá trị, những nhà thơ có thc tài. Nhng tác phđó cũng như tên tui người làm ra nó s còn lại với văn học, được ghi lại trong văn học sử.

          Thương thay! Mt s qua đời khi còn quá trẻ, như Hàn Mc T, Bích Khê; mt s may mn, sng  min Nam, như Vũ Hoàng Chương, Đông H, tài năng được phát trin, tác phđược ph biến rng rãi, tự do, bạn đọc tôn vinh họ thành thi bá, thi vương. Mt số đông, ban đầu vì lòng yêu nướđi theo kháng chiến chng Pháp giành độc lp cho dân tc, ri kt li trong chế độ độc tài Cng S Bc Vit Nam, tâm hn h tr nên chai đá, tài năng mai mt;
họ đã chết từ Đại hội đảng Cộng sản lần thứ hai ở Việt Bắc, đại hội nầy đặt vào tay họ, tim óc họ những gông xiềng mà tiêu biểu nhứt là “Luận cương v văn hóa” được Trường Chinh đưa ra trong đại hi văn hóa toàn quc năm 1947. Ngay trong kháng chiến chng Pháp, có ngườđã muốn trốn về vùng quốc gia như Văn Cao; hoc sau hiđịnh Genève 1954, có người mun trn vào Min Nam như Thế L, Lưu Trng Lư nhưng vi nhng gông xing y, làm sao h thoáđược. Đặc bit sau Phong Trào Trăm Hoa Đua Nở” năm 1956, không ít người bị “đánh, bị đưđi ci to, nhng thi sĩ lãng mạn tiền chiến còn đó mà coi như đã chết rồi.

          Sau khi thống nhứt Trung Hoa, năm 213, Lý Tư, quân sư của Tần Thủy Hoàng, theo thuyết quân chủ chuyên chế của thầy là Thương Ưởng, xúi Tđốt sách, chôn hc trò để thống nhứt tư tưởng thiên hạ thành một mối. Từ đó, Trung Hoa có một triều đại duy nhứt, luật pháp duy nhứt, một đường lối tư duy duy nhứt. Có nghĩa là một người suy nghĩ cho tt c, không ai có th có tư tưởng nào khác, nói như Phan Khôi, có nghĩa là “Trăm hoa đua nở” n thành mt th cúc vn th hết thy. Cúc vn th là th cúđem dâng lên vua, chúc thánh hoàng sng lâu ngàn tui (vn th). Cũng sau khi thng nht Trung Hoa, Mao Trch Đông pháđộng Trăm Hoa đua nở”, xem th có hoa nào n ngoài tư tưởng Mao thì cho đó là phản động, phải trừ bỏ, triệt tiêu. Hồ Chí Minh cũng dùng cái bẫy đó đối với những văn nghệ sĩ theo kháng chiến và hầu hết, đều bị “đánh”, bị tù. Chỉ còn lại một thứ hoa vạn thọ sau đây: 
                   Hoan hô Staline,
                   Đời đời cây vạn thọ
                   Rợp bóng mát hòa bình
                   Đứng đầu sóng ngọn gió
                   Hoan hô Hồ Chí Minh
                   Cây hải đăng mặt biển
                   Bão táp chẳng rung rinh
                    (Bài ca tháng Mười, T Hu)
Hoặc là:
                   Sta-lin, Sta-lin,    
                   Yêu biết mấy khi nghe con tập nói
                   Tiếng đầu lòng con gọi Xít-ta-lin

                   Ông Xít-ta-lin
                   Ông Xít-talin
                   Hỡi ơông mđất tri có không
                   Thương cha, thương m thương chng      
                   Thương mình thương mt,
                   thương ông thương mười
                   Ơn ny nhớ để hai vai
                   Một vai ơn Bác, mt vai ơn Người
                   Con còn bé dại con ơi!
                   Mai sau con nhé, trọn đời nhớ Ông
                              (Đời đời nhớ Ông, Tố Hữu)
         
          Trong cuốn “Trăm Hoa Đua nở trên đất Bắc”, tác giả Hoàng Văn Chì nhận xét: “Tố Hữu là thần tượng thi ca Cng Sn Vit Nam, cũng như Mayakoski ngày xưa là thn tượng ca thi ca Liên XôÔng là mt trong 18 Trung Ương y viêđảng Lao động Vit Nam (tên trá hình của đảng Cọng sản Việt Nam). Thực chất, các nạn nhân trong vụ “Trăm Hoa Đua Nở” gọi ông là “Cai văn nghệ”, “Cặp rằn văn nghệ”. 
          Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, quê ở Thừa Thiên, mới học trường KhĐịnh được vài năm thì bỏ học đi theo Cọng Sản. Từ khi còn trẻ, ông đã có tài làm thơ, nhưng không phi là th thơ nnh như sau ny. Trong cun sách ca hc gi Hoàng Văn Chì, ông trích trọn cả hai bài thơ nói trên. Tôi không đủ can đảm làm viy, chỉ trích li nhng câu vô liêm sĩ nht trong ngh thut nnh hót ca thi ca Cng Sn Vit Nam. Cũng đáng ph nh như thế, khi Breznev, tng bí thư đảng Cng Sn Liên Xô mt, NguyĐình Thi, tổng thư ký hội Nhà Văn Việt Nam (Cọng sản) bắt chước Tố Hữu, làm một bài thơ khóc than. Xuân Diu, mt thi sĩ ni tiếng trong làng thơ mi, mt ngườđược các nhà phê bình văn học mệnh danh là Thi sĩ của Tình yêu và Tuổi trẻ, sau khóa học tập chính trị ba tháng, đã viết những câu được gọi là thơ như sau:

                   Hôm nay học hết kỳ chỉnh Đảng
                   Thấy bốn phương ánh sáng ùa vào
                   Bướđầu tuy cha là bao
                   Nhưng nghe đã rộng, đã cao vô ngần
                   Đảng còn tranh đấu không thôi
                   Ta còn theo Đảng đời đời tiến lên
                                                (Xuân Diệu)

          Có thể gọi đó là thơ được sao hay là vè, hay là mt thut ghép ch cho có vn? Còn tư tưởng thì đã có đảng vạch ra rồi và nghệ sĩ chỉ là những tên nịnh hót.
          Nhớ lại thơ Xuân Diu trước 1945, tôi vn tiếc cho ông. Phi chi ông đừng theo Cng sn thì sự nghiệp thi ca của ông đâu có bị hoen ố, còn có thể phát triển hơn.                
          Sau khi Mặt Trận Bình Dân lên cầm quyền ở Pháp năm 1936, chính sách cai trị của họ ở Đông Dương có nới lõng đôi chút. Lợi dụng cơ hội ấy, Cọng Sản Việt Nam bèn ra hoạt động bán công khai. Trường Chinh, tức Đặng Xuân Khu, (con nhà quan ở làng Hành Thiện, Nam Định, học trò lớp 9 trường Bá Công Nam Định (K thut) bị đui hc vì tham gia vụ chận xe Toàn quyền Varenne để đưa thỉnh nguyện thư nhân đám tang cụ Phan Chu Trinh), ra hoạt động bán công khai, chủ trương tờ “Tin Tức”, đưa ra lập trường duy vật biện chứng, nghệ thuật phải phục vụ con người (thực chất là phục vụ chính trị) đã kích báo chí thời bấy giờ. Sự phản ứng của báo giới thời đó, tạo thành một cuộc tranh luận mệnh danh là “Nghệ thuật vị nghệ thuật, nghệ thuật vị nhân sinh”. Xuân Diệu lúc bấy giờ là nhà thơ lãng mạn, chống lại lập trường ca Trường Chinh bng bài thơ sau đây:

                   Tôi là con chim đến từ núi lạ
                   Ngứa cổ hát chơi
                   Khi nắng sớm vào reo um khóm lá   
                   Khi trăng khuya lên ủ mộng chân trời
                   Chim ngậm suối đậu trên cành bịn rịn
                   Kêu tự nhiên nào biết bởi sao ca!
                   Tiếng to như không xui giùm trái chín
                   Khúc huy hoàng không giúp nở bông hoa
                   Hát vô ích thế mà chim vỡ cổ
                   Héo tim non cho quá độ tài tình
                   Ca ánh sáng bao lần rây máu đỏ
                   Rồi một ngày sa rụng giữa bình minh
                                                (Xuân Diệu)

          Người ngh sĩ t ví mình như mt con chim t mt min xa l nàđó đến vi cuđời ny, ging như Lý Bạch từ trời bị đày xuống trần gian (trích tiên). Con chim đến đây hót vì nó thích hót, khi thấy bình minh rực rỡ hay vì cảnh đêm trăng thơ mộng. Chim không hót vì ai, không phục vụ cho ai mà chỉ vì xúc cảm của tự nó mà thôi; cũng như người ngh sĩ, thích làm thơ thì làm thơ cho mình, không do ai yêu cầu, không ai ra lệnh, đặt hàng. Tiếng chim hót trong như tiếng sui (ngm sui) và chim cũng không biết ti sao nó hót (kêu t nhiên nào biết... ). Chim hót cho đến hơi th cui cùng và chết li cũng chng vì ai cả. Tiếng chim hót không làm cho trái cây mau chín để ăn, không làm cho bông hoa nở sớm để đẹp. Chim hót vỡ cổ, máu tuôn ra, như con chim quốc mang hồn Thục Phán:

                   Năm canh máu chảy đêm hè vắng
                   Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ
                   (Quốc kêu cảm hứng, Nguyễn Khuyến)

          Đâu có riêng một mình Xuân Diệu, trước 1945, Nguyn Bính cũng ví người ngh sĩ như con tm mang tơ cho đời nhưng vi nó ch là mt hành động rút rut t nhiên như người ngh sĩ rút lòng ra với đời vậy, không nghĩ mình phục vụ cho ai cả:
                   Một ngàn năm, một vạn năm
                   Con tằm vẫn kiếp con tằm vương tơ.
                                                (Nguyễn Bính)

          Một người như Lưu Trng Lưđược Hoài Thanh gi là rt mơ mng, như “con nai vàng ngơ ngác, sng bng thn thánh trăng vàng, thì nay làm những câu gọi là thơ như sau đây:

                   Bây giờ có Đảng về đây
                   Chúng tôi có Đảng nắm tay dắt dìu
                   Nông dân theo Đảng quyết liều
                   Đấu cho ngã gục bổ nhào chúng đi
                                                (Lưu Trng Lư)

          Khi tôi còn ở trong trại cải tạo, gặp lúc Tết ta và kỷ niệm ngày thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam, cán bộ buộc mỗi người phải viết một bài văn hay thơ cho báo tường. Anh Trần văn D. kỹ sư điện là người t cho rng chng biết văn thơ gì hết, cả ngày than phiền:
          - “Tui biết gì đâu mà biểu tui viết. Trời ơi, thơ thn ra làm sao!?
          Có ngườđùa:      
          - “Tết nầy trại làm thịt heo. Không đóng góp bài là mất phần thịt đấy”.
          Nghe thế, anh càng than vãn dữ. Có ngườđùa:
- “Có gì phải kêu la, cứ ghép biểu ngữ của chúng nó lại là thành thơ. Ghép như thế ny: 
                   Việt Nam có đảng vinh quang
                   Trẻ già trai gái sắp hàng tiến lên
                   Công ơđảng báđừng quên
                   Hạnh phúc góp sức xây nền tự do

Vậy là xong, có thịt heo rồi đấy nhé”.
          Anh ta chép lại câu đó, nộp cho cán bộ. Câu đó sau được cán bộ cho là câu hay nhứt, viết to ngay trên đầu tờ bích báo, khiến ai cũng cười.
          Xuân Diệu, Lưu Trng Lư cũng viếđùa, mai ma như chúng tôi hay thành khn?!
          Dù là gì đi nữa thì sau khi theo Cộng sản, người thơ nơi họ đã chết rồi.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét