HOÀNG LONG HẢI
Ý THU
Những chút hồn buồn trong lá rụng
Bị nhầu ai tưởng dưới trăm chân
Bông hoa rứt cánh, rơi không tiếng
Chẳng hái mà hoa cũng hết dần
Dưới gốc nào đâu thấy xác ve
Thế mà ve đã tắt theo hè
Chắc rằng gió cũng đau thương chứ
Gió vỡ ngoài kia, ai có nghe
Hôm nay tôi đã chết trong người
Xưa hẹn nghìn năm yêu mến tôi
Với bóng hình xưa, tăm tiếng cũ
Cách xa chôn hết nhớ thương rồi
Yên vui, xây dựng bởi nguôi quên
Muốn bước trong đời phải dẫm trên
Muôn tiếng kêu than thầm lẵng lặng
Nhưng hoa có thể cứ lâu bền
Ờ nhỉ! Sao hoa lại phải rơi
Đã xa sao lại hứa yêu hoài
Thực mà dị quá! Mà tôi nữa
Sao nghĩ làm chi chuyện nhạt phai!
(Xuân
Diệu)
Cái ý thu của Xuân Diệu
chính là chiếc lá có linh hồn, có phải ông chịu ảnh hưởng từ La Mélacholie de René của Chateaubriand (*). Lá rụng xuống đất, tưởng như có trăm bàn chân dày xéo lên nó. Hoa âm thầm rụng. Chẳng ai hái mà hoa cũng không còn trong vườn. Những con ve chưa chết, không thấy xác chúng dưới gốc; sao tiếng ve đã tắt? Gió mang đau
thương về, và vỡ ở ngoài kia. Bài nầy chỉ có hai đoạn đầu là hay.
Ít ai như Xuân Diệu, ông thường sợ mất hiện tại. Tiếng thu nầy là tiếng thu cũ, tất cả rồi qua, sẽ phai nên Xuân Diệu cũng sợ hiện tại phôi pha. “Ý thu” của Xuân
Diệu là xa cách, ly biệt, là nhớ thương. Dẫm đạp lên từng chiếc lá là dẫm đạp lên nỗi đau khổ của lòng. Ông nói tới
sự lâu bền của hoa. Ý hoa mà Xuân Diệu nói có lẽ là tình yêu, như một đóa hoa nảy nở trong lòng người, có thể chỉ có hoa đó, hoa tình yêu, mới
lâu bền. Bài nầy khác với bài “Đây Mùa Thu Tới”, nói tới “cảnh thu” thì ít mà
nói tới “ý thu” thì nhiều, y như đề bài: Yêu đương, đau khổ và ly biệt thì nhiều, quả
thật đó là ý nghĩa của mùa thu vậy.
Nói tới thu, người ta phải nói tới trăng vì vào mùa thu
bao giờ trăng cũng đẹp. Có lẽ vì thế mà có tết Trung Thu. Trong các thi sĩ tiền
chiến, ai cũng ít nhiều nói đến trăng nhưng nói nhiều nhất có lẽ là Hàn Mặc Tử.
Ông viết cả tập văn xuôi “Chơi Giữa Mùa Trăng” và trăng xuất hiện trong rất
nhiều bài thơ của ông.
Tuy nhiên, trước khi nói tới trăng của Hàn Mặc Tử, ta hãy trở lại
với trăng Xuân Diệu:
Cũng trong bài
“Nguyệt Cầm”, Xuân Diệu có mấy câu khá hay:
Trăng
nhập vào đây cung nguyệt lạnh
Trăng
thương, trăng nhớ hỡi trăng ngần
Đàn
buồn, đàn lặng, ơi đàn chậm
Mỗi
giọt rơi tràn như lệ ngân
Mây
trắng trời trong đêm thủy tinh
Lung
linh bóng nguyệt bỗng rung mình
Vì
nghe nương tử trong câu hát
Đã
chết đêm rằm thu nước xanh
(Xuân
Diệu)
Ông dùng ba chữ trăng
trong một câu và hai chữ đàn trong một câu khác là có ý nhấn mạnh tới ánh trăng
và tiếng đàn trong đêm trăng đó.
Nói tới ngón đàn của người kỷ nữ đêm nào trên bến Tầm Dương, Tỳ Bà Hành viết là:
Tiếng
cao thấp lựa chen lần gảy,
Mâm
ngọc đâu lần nảy hạt châu
Trong
hoa oanh ríu rít nhau
Nước tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh
Nước suối lạnh giây manh ngừng đứt
Ngừng
đứt nên phút bật tiếng tơ
Âm
thầm đau giận ngẫn ngơ
Xem
ra lặng lẽ bây giờ càng hay
(Tỳ-Bà-Hành)
Từ ý đó trong Tỳ Bà
Hành, thơ Xuân Diệu nảy ra ý lạ: Trăng
nhập vào cung đàn lạnh. Trăng rất sáng (trăng ngần) mang cả niềm thương nỗi
nhớ, không phải nhớ thương người đi xa mà nhớ thương tuổi trẻ đã qua, vì chính trong Tỳ Bà Hành có câu tả thân phận kỷ nữ
khi già:
Về
già phải kết duyên cùng khách thương
Khách
trọng lợi khinh đường ly cách
Mãi
buôn chè sớm tếch ngàn khơi
Thuyền
không đổ bến mặc ai
Quanh
thuyền trăng dãi nước trôi lạnh lùng.
(Tỳ-Bà-Hành)
Trong Tỳ Bà Hành, Bạch Cư Dị tả tiếng đàn của kỷ nữ nghe như tiếng ngọc (hạt châu) rơi trên mâm ngọc. Xuân Diệu thì ví như giọt nước mắt rơi xuống, không nói có rơi xuống mâm ngọc hay không, dĩ nhiên, giọt nuớc mắt rơi không tạo thành tiếng như viên ngọc rơi trên mâm ngọc.
Phải nói là trí tưởng tượng của Xuân Diệu khá phong phú, ông vừa chịu ảnh hưởng cổ văn, vừa chịu ảnh hưởng thơ văn Pháp, có cách diễn đạt mới hơn, thoáng hơn.
Bài “Chiều” của Xuân
Diệu, tôi đoán tác giả tả một cảnh chiều thu vì mở đầu Xuân Diệu nói ngay đến
sương. Chiều thu rất nhiều sương:
Sương trinh rơi kín từ nguồn yêu thương
Phất
phơ hồn của bông hường
Trong
hơi phiêu bạt còn vương máu hồng
Nghe
chừng gió nhớ qua sông
E
bên lau lách thuyền không vắng bờ
Không
gian như có giây tơ
Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu
Êm
êm trời ngẫn ngơ chiều
Lòng
không sao cả hiu hiu sẽ buồn!
(Xuân
Diệu)
Đúng là cái lãng mạn thi
ca tiền chiến. Người ta buồn là phải có lý do. Xuân
Diệu buồn chẳng có cớ nào hết. Chỉ là một buổi chiều êm, ngẫn ngơ, lòng buồn hiu
hiu. Đúng là tính chất đặc biệt của thời kỳ lãng mạn mà trước và sau nó, ít khi thấy có. “Gió nhớ” (qua sông) là một ý rất lạ và rất
hay. Không phải một lần Xuân Diệu nói như thế, ông nói nhiều lần:
Hôm
nay trời nhẹ lên cao
Tôi
buồn không hiểu vì sao tôi buồn
Lá
hồng rơi lặng ngõ thuôn
(Xuân
Diệu)
Lá hồng rơi, có nghĩa hôm nay là mùa thu. Cảnh thu làm ông buồn vớ vẫn.
Xuân Diệu (?) có hai câu
thơ tả cảnh thu, được đánh giá là hai câu hay nhứt trong thi ca lãng
mạn:
Ô
hay vàng rơi cây ngô đồng
Vàng
rơi, vàng rơi thu mênh mông!
Trong các thi sĩ tiền
chiến, không ai nói thu vui, tươi sáng. Họ chịu ảnh hưởng cả hai nền văn học Tàu và Tây; Tây thì có
Chauteaubrian, Lamartine, Verlaine, Valery... với những nỗi buồn mênh mông và
sâu sắc của anh chàng René trong Melamcholie De René, của Chanson d’ Automne
thì làm gì có vui, mà rặt một thứ buồn lãng mạn, vô cớ; Tàu thì có “Phong Kiều
Dạ Bạc” của Trương Kế, thơ của Thôi Hiệu, của Lý Bạch, “Tỳ bà
Hành” của Bạch Cư Dị, mùa thu bao giờ cũng nhuốm đầy cả màu quan tái, bẽ bàng, lạnh lẽo.
Điều đáng nói hơn nữa,
cái buồn của thi sĩ tiền chiến khác với thơ xưa của ta hay của Tàu ở chỗ nó thê
lương hơn, ảm đạm hơn, buồn đến nỗi như Hàn Mặc Tử không nói “được nửa lời”:
Ấp
úng không ra được nửa lời
Tình
thu bi thiết lắm thu ơi
Vội
vàng cánh nhạn bay đi trớt
Heo
hắt hơi may thoảng lại rồi
Nằm
gắng đã không thành mộng được
Ngâm
tràn cho đỡ chút buồn thôi
Ngàn
trùng bóng liễu trông xanh ngắt
Cảnh
sắp về đông, mắt sẽ vơi.
(Hàn
Mặc Tử)
Cảnh thu buồn bi thiết,
ông muốn nhờ chim nhạn đưa thư cho “ai đó” (1) ở Gia Hội (Huế) mà nhạn đã bay
đi mất rồi (“Vội vàng chi lắn nhạn lưng mây, chầm chậm cho mình gởi chút
đây” -Gởi nhạn. HMT). Gió heo may thổi lại rồi, cảnh mênh mông toàn là bóng
liễu...
Như đã nói, thu thường đi với trăng, trăng trung thu tròn
và đẹp, nhưng khi trăng còn chỉ một nửa, người thơlại trách:
Hôm
nay có một nửa trăng thôi
Một
nửa trăng ai cắn vỡ rồi.
Dùng chữ “cắn vỡ”
(trăng) như ông là mới lắm, xưa nay chưa ai nói vậy. Dùng chữ “ai” (cắn vỡ) không những là hỏi mà hàm ý trách!
Mùa thu là mùa ly cách,
lạnh lẽo, cô đơn và buồn bã. Đó là tính ước lệ trong thơ cũ cũng như thơ mới:
Đây
bãi cô liêu lạnh hững hờ
Với
buồn phơn phớt, nắng trơ vơ
(Cuối
thu HMT)
Người ta nói buồn dìu dịu, buồn nhẹ nhàng, buồn bâng khuâng. Ông nói buồn phơn phớt. Có lẽ Hàn Mặc Tử làm bài thơ nầy khi về sống ở bãi biển Qui
Hòa (tục gọi là Ghềnh Ráng) sau khi bị bệnh phung. Thời bấy giờ, khu này rất vắng
vẻ làm cho Hàn Mặc Tử thấy cô đơn và buồn. Gia đình dựng cho Hàn Mặc Tử một cái
chòi lá bên bờ biển, để ông ở đó một mình. Bãi cô liêu ông nói trong câu thơ trên là bãi biển Qui
Hòa nầy chăng? Theo thi sĩ Quách Tấn kể lại, mái lá căn chòi bị thủng nhiều
chỗ, Hàn Mặc Tử phải lấy bìa che lại. “Bãi cô liêu” hay “vũng cô liêu” như trong bài thơ sau đây:
Ai
đi lẵng lặng bên làn nước
Với
lại ai ngồi khít cạnh tôi
Cớ
sao ngậm cứng thơ đầy miệng
Không
nói không rằng nín cả hơi
Chao ơi ghê quá trong tư tưởng
Một
vũng cô liêu cũ vạn đời
(Hàn
Mặc Tử)
Có người viết là “bãi cô liêu”. “Bãi
cô liêu” là nói về chiều rộng, “vũng cô liêu” là nói về chiều sâu. Nỗi cô liêu
của Hàn Mặc Tử lớn như thế, có khi ông cảm nhận nó bằng nỗi rộng mênh mông, có khi bằng nỗi sâu hun hút.
Mây biến thành mưa, Hàn Mặc Tử không nói thế, ông viết là:
Mây
vở hằng hà sa số lệ
Là
nguồn ly biệt giữa cô đơn
Sao
không tô điểm nên sương khói
Trong
cõi lòng tôi buổi chập chờn.
(Hàn-Mặc-Tử
– Cuối Thu)
Mưa đem ly biệt tới, trong khi đã cô đơn rồi. Có thể Hàn Mặc Tử rơi vào cảnh cô đơn cùng cực. Lúc nầy, với ông, cái chết đã gần kề nên thơ ông có nhiều hình ảnh kinh
khiếp: “Và ai gánh máu đi trên tuyết”. Có lẽ ông thấy máu đó trên trên tay chân
bệnh tật của ông ta chăng? Tội nghiệp, ông qua đời lúc mới 28 tuổi.
Không những cảnh thu
muộn đang héo hon mà chính lòng ông, đang bị ám ảnh vì cái chết, cũng đang héo
hon vậy:
Thu
héo nấc thành những tiếng khô,
Một
vì sao lạc mọc phương mô
Người thơ chưa thấy ra đời nhỉ
Trinh
bạch ai chôn tận đáy mồ.
(Hàn
Mặc Tử)
Đúng là lời nói của một
người sắp chết, “Điểu chi tương tử kỳ minh giả ai, nhân chi tương tử kỳ ngôn giả thiện”. Thơ ông, khi ông sắp chết, trở nên bí hiểm mà đó cũng là điều thiện chăng? Các nhà phê bình văn học
cho rằng khi biết mình còn sống chẳng bao lâu nữa, thơ của ông thành bí hiểm. Sự bí hiểm đó nằm trong tôn giáo, cũng là điều thiện vậy. Người ta nói thu mênh mông sương khói, ông thì tả cảnh thu
héo, cành khô và có tiếng nấc trong cành cây lá cỏ khô héo đó. Ông tìm một vì
sao lạ, một vì sao lạ trong kinh thánh hay một vì sao bạc mệnh của đời ông, như
Vũ Trọng Phụng viết: “Tôi sinh ra đi dưới một ngôi sao xấu”. Vì sao đó là bản
mệnh của mỗi chúng ta. Trong những năm cuối đời, bị đau khổ tinh thần cũng như
thể xác dằn vặt, bị ám ảnh bởi cái chết, và mong cầu một cuộc đời hạnh phúc mai
sau, thơ ông mang màu sắc tôn giáo, -Thiên chúa giáo-, khá đậm. Vì sao lạ tượng trưng cho thánh thần xuất hiện. Hàn Mặc Tử tìm một vì
sao lạ nhưng lại để mong cầu một nhà thơ.
Đặc biệt thơ ông hay nói
tới máu, là nói tới máu khô ở những vết thương trên da thịt ông đó chăng? Máu ởđây không phải là máu trong đấu tranh chém giết như những nhà thơ Cọng Sản.
Máu
đã khô rồi, thơ cũng khô
Tình
ta chết yểu tự bao giờ
(Trút
linh hồn - Hàn Mặc Tử)
Thơ ông là máu, nên khi máu khô thì thơ cũng khô, thơ cũng không còn. Nếu máu là
tượng trưng cho đau khổ thì thơ ông cũng vậy. Nó làm cho Hàn Mặc Tử trở thành điên dại:
Thưa tôi không dám say mê
Một
mai tôi chết bên khe ngọc tuyền
Bây
giờ tôi dại tôi điên
Chắp
tay tôi lạy khắp miền không gian!
(Hàn
Mặc Tử)
Như đã nói, thơ mới chịu ảnh hưởng thi ca lãng mạn Pháp khá đậm. Muốn cho tình cảm thật dạt dào, sôi
động, thắm thiết, nhiều khi người ta vay mượn tình cảm, vay mượn đề tài, vay mượn nỗi buồn, nỗi nhớ của người khác để rên xiết than vãn, như Chế Lan Viên chẳng hạn. Ông là người kinh, họ Phan (Phan Ngọc Hoan, quê ở Cam Lộ, Quảng Trị), lấy bút hiệu là Chế Lan Viên, để người ta lầm tưởng ông là người Chiêm (Có thời ông làm thông phán ở Phan
Rang) để dễ khóc với “Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi”.
Vay mượn, người ta cũng gọi là “thương vay khóc mướn” thì không hay
dù có khi người ta cố viết cho thật não nùng:
Tôi có
chờ đâu, có đợi đâu
Đem
chi xuân lại gợi thêm sầu
Với
tôi tất cả như vô nghĩa
Tất
cả không ngoài nghĩa khổ đau
Ai
đi trở lại mù thu trước
Nhặt
lấy cho tôi những lá vàng
Cùng
với lá vàng tan tác rụng
Về
đây đem chắn nẻo xuân sang.
(Chế
Lan Viên)
Ông không chờ mùa xuân
vui tươi, ông chỉ muốn mùa thu có lá vàng rụng tan tác.
Trong khi đó, Hồ Dzếnh,
một người không phải là một trăm phần trăm Việt Nam (bố ông là người Tàu, không nói sỏi tiếng Việt) thì thơ của ông lại rất Việt Nam:
Trời
không nắng, cũng không mưa
Chỉ
hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung
Đúng
là cảnh dịu dàng của mùa thu!
Đâu
hình tàu chậm quên ga,
Buâng
khuâng gió nhớ về qua lá dày
(Mùa
thu năm ngoái, Hồ Dzếnh)
Làm gì có tàu quên ga,
chỉ ông có khi quên mất đường về vì cái tính giang hồ lãng đãng của nghệ sĩ thì
có. Nhớ về trong gió và qua lá cây. Ý đó thật lạ! Ông lấy ý của Xuân Diệu hay
Xuân Diệu lấy ý của ông. Xuân Diệu viết “Gió nhớ qua sông” còn ông thì viết:
“Gió nhớ về qua lá dày”.
Chữ “năm ngoái” ở đề bài
thơ là một chữ rất Việt Nam và rất dễ yêu. Nguyễn Khuyến cũng có “Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái”. Trong truyện Kiều thì “Hoa đào năm
ngoái còn cười gió đông”.
Cái đặc biệt trong thơ
Hồ Dzếnh là sự chừng mực, không có cái gì quá lắm, đúng là cái dìu dịu của thu:
“Không nắng cũng không mưa”, rét cũng vừa phải: “hiu hiu rét”. Thương nhớ cũng chừng mực: “vừa” (nhớ thương). Nhưng cái dìu dịu vừa phải
của Hồ Dzếnh thì lại có một kết quả sâu sắc: “quên ga”, như trong câu đầu.
Bài “Thu” của ông, bốn
câu trên không được hay lắm, nhưng các đoạn sau thì ý tưởng thật mới lạ mà thơ thì rất nhẹ nhàng:
...
tất cả một mùa thơ
Tất
cả lều tranh, cả khói mờ
Cả
gió mây đưa buồn lắng xuống
Cả
lòng tôi với cả lòng cô
Có
một nghìn cây rũ rượi buồn
Một
nghìn sông rét, vạn hoàng hôn
Dăm
thân thiếu nữ gầy như trúc
Đứng
chịu tang trời đổ bóng đơn
Thu
xa bằng gió bằng mây
Không
gian thở nhẹ
buồn
vây chìm chìm
Lòng
không ai cấm mà im
Không
dưng bỗng nhớ,
không
tìm bỗng mong
Nơi tôi còn ít lá lòng
Chiều
nay rơi nốt
trong
lá rừng.
(Hồ
Dzếnh)
Khổ thơ giữa thật hay. Rừng có một nghìn cây là một
rừng cây buồn, một nghìn sông rét, vạn hoàng hôn. Hai câu nầy tả cảnh toàn bộ
không gian và thời gian, tất cả đều buồn, đều rét. Những cây tre vươn lên qua
các lều tranh có khói mờ bốc lên, giữa cảnh cô đơn, ảm
đạm.
Có một độ, trước năm
1945, trên con đường lưu lạc Bắc Nam, Nguyễn Bính ghé lại Huế. Ông thấy người ở
hoàng thành còn mang màu cổ kính:
Mùa
thu hoa cúc vàng lưng giậu
Thiếu
nữ mơ màng áo trạng nguyên.
(Nguyễn
Bính)
Hoa cúc nở vào mùa thu
mà ở Huế, trước 1945, còn rất
nhiều vườn, nhiều phủ của các ông hoàng bà chúa, quan quyền. Hoa cúc nở vàng bờ giậu khiến các cô thiếu nữ mơ màng việc lấy chồng, mơ được làm vợ một ông trạng nguyên (áo trạng nguyên màu vàng và quan trạng được vua chọn làm phò mã (?), dù
các khoa thi đình của triều đình Huế không chấm trạng nguyên (2). Người Huế đổi thay kể từ khi Pháp đặt nền đô hộ, và họ càng thay đổi nhiều hơn nữa khi vị vua cuối cùng triều Nguyễn không còn ở trong Tử
Cấm Thành. Cùng với vua quan và cung phi mỹ nữ, hoa cúc vàng cũng lui sâu vào
dĩ vãng, và chiếc áo màu vàng của quan trạng trở thành huyền sử cố đô.
Ngay từ thời kỳ đó, khi
bước chân giang hồ của Nguyễn Bính dừng lại Huế, ông cũng chỉ để thấy:
Trường Tiền vắng ngắt người qua lại
Đập
đá mênh mông bến nước đầy
Đò
vắng khách chơi nằm bát úp
Thu
về mang lại gió heo may
(Nguyễn
Bính)
Cầu Trường Tiền vắng khách, đò vắng khách, đập
đá mênh mông nước, gió heo may đã về. Cơn lạnh của gió heo may xô người ta vào trong nhà, đóng cửa lại. Ai từng ở Huế, mới biết cái lạnh của Huế khá đặc biệt, thấm thía. Trong cái lạnh của Huế, nhiệt độ không xuống thấp như ở Bắc Mỹ nầy, nhưng sao nó lại nhức buốt xương tủy, xót xa da thịt đến làm vậy?!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét