Thứ Bảy, 16 tháng 9, 2017

HOÀNG LONG HẢI


Ý THU                                

Những chút hồn buồn trong lá rụng
Bị nhầu ai tưởng dưới trăm chân
Bông hoa rứt cánh, rơi không tiếng
Chẳng hái mà hoa cũng hết dần

 Dưới gc nàđâu thy xác ve
Thế mà ve đã tắt theo hè
Chắc rằng gió cũng đau thương chứ
Gió vỡ ngoài kia, ai có nghe


Hôm nay tôi đã chết trong người
Xưa hn nghìn năm yêu mến tôi
Với bóng hình xưa, tăm tiếng cũ
Cách xa chôn hết nhớ thương ri

Yên vui, xây dựng bởi nguôi quên
Muốn bước trong đời phi dm trên
Muôn tiếng kêu than thầm lẵng lặng
Nhưng hoa có th c lâu bn

Ờ nhỉ! Sao hoa lại phải rơi
Đã xa sao lại hứa yêu hoài
Thực mà dị quá! Mà tôi nữa
Sao nghĩ làm chi chuyện nhạt phai!
                                  (Xuân Diệu)

        Cái ý thu của Xuân Diệu chính là chiếc lá có linh hồn, có phải ông chịu ảnh hưởng t La Mélacholie de René ca Chateaubriand (*). Lá rng xung đất, tưởng như có trăm bàn chân dày xéo lên nó. Hoa âm thm rng. Chng ai hái mà hoa cũng không còn trong vườn. Nhng con ve chưa chết, không thy xác chúng dưới gc; sao tiếng ve đã tắt? Gió mang đau thương về, và vỡ ở ngoài kia. Bài nầy chỉ có hai đoạn đầu là hay.
         
        Ít ai như Xuân Diu, ông thường s mt hin ti. Tiếng thu ny là tiếng thu cũ, tt c ri qua, s phai nên Xuân Diu cũng s hin ti phôi pha. Ý thu” của Xuân Diệu là xa cách, ly biệt, là nhớ thương. Dđạp lên tng chiếc lá là dđạp lên nđau kh ca lòng. Ông nói tới sự lâu bền của hoa. Ý hoa mà Xuân Diệu nói có lẽ là tình yêu, như mđóa hoa ny n trong lòng người, có th ch có hoa đó, hoa tình yêu, mới lâu bền. Bài nầy khác với bài “Đây Mùa Thu Tới”, nói tới “cảnh thu” thì ít mà nói tới “ý thu” thì nhiều, y như đề bài: Yêđương, đau kh và ly bit thì nhiều, quả thật đó là ý nghĩa của mùa thu vậy.

        Nói tới thu, người ta phi nói ti trăng vì vào mùa thu bao giờ trăng cũng đẹp. Có lẽ vì thế mà có tết Trung Thu. Trong các thi sĩ tiền chiến, ai cũng ít nhiều nói đến trăng nhưng nói nhiều nhất có lẽ là Hàn Mặc Tử. Ông viết cả tập văn xuôi “Chơi Giữa Mùa Trăng” và trăng xuất hiện trong rất nhiều bài thơ công.   
         Tuy nhiên, trước khi nói ti trăng ca Hàn Mc T, ta hãy trở lại với trăng Xuân Diệu:
         Cũng trong bài “Nguyệt Cầm”, Xuân Diệu có mấy câu khá hay:

                   Trăng nhập vào đây cung nguyệt lạnh
                   Trăng thương, trăng nhớ hỡi trăng ngần
                   Đàn buồn, đàn lặng, ơđàn chm
                   Mỗi giọt rơi tràn như l ngân

                   Mây trắng trời trong đêm thủy tinh
                   Lung linh bóng nguyệt bỗng rung mình
                   Vì nghe nương t trong câu hát
                   Đã chết đêm rằm thu nước xanh
                                                (Xuân Diệu)

        Ông dùng ba chữ trăng trong một câu và hai chữ đàn trong một câu khác là có ý nhấn mạnh tới ánh trăng và tiếng đàn trong đêm trăng đó.
         
        Nói tới ngón đàn của người k nữ đêm nào trên bến Tm Dương, T Bà Hành viết là:

                   Tiếng cao thấp lựa chen lần gảy,
                   Mâm ngọc đâu lần nảy hạt châu
                   Trong hoa oanh ríu rít nhau
                   Nước tuôn róc rách chy mau xung ghnh
                   Nước sui lnh giây manh ngng đứt
                   Ngừng đứt nên phút bật tiếng tơ
                   Âm thầm đau giận ngẫn ngơ
                   Xem ra lặng lẽ bây giờ càng hay
                                                     (Tỳ-Bà-Hành)
         
        Từ ý đó trong Tỳ Bà Hành, thơ Xuân Diu ny ra ý lạ: Trăng nhập vào cung đàn lạnh. Trăng rất sáng (trăng ngần) mang cả niềm thương nỗi nhớ, không phải nhớ thương người đi xa mà nhớ thương tui trẻ đã qua, vì chính trong Tỳ Bà Hành có câu tả thân phận kỷ nữ khi già:

                   Về già phải kết duyên cùng khách thương
                   Khách trọng lợi khinh đường ly cách
                   Mãi buôn chè sớm tếch ngàn khơi
                   Thuyền không đổ bến mặc ai
                   Quanh thuyền trăng dãi nước trôi lnh lùng.
                                                                (Tỳ-Bà-Hành)

        Trong Tỳ Bà Hành, Bạch Cư D tả tiếng đàn ca k n nghe như tiếng ngc (ht châu) rơi trên mâm ngc. Xuân Diu thì ví như git nước mt rơi xung, không nói có rơi xung mâm ngc hay không, dĩ nhiên, git nuc mt rơi không to thành tiếng như viên ngc rơi trên mâm ngc.
         
        Phải nói là trí tưởng tượng ca Xuân Diu khá phong phúông va chnh hưởng c văn, va chnh hưởng thơ văn Pháp, có cách diđạt mi hơn, thoáng hơn.

        Bài “Chiều” của Xuân Diệu, tôi đoán tác giả tả một cảnh chiều thu vì mở đầu Xuân Diệu nói ngay đến sương. Chiều thu rất nhiều sương:

                   Sương trinh rơi kín t ngun yêu thương
                   Phất phơ hn ca bông hường
                   Trong hơi phiêu bt còn vương máu hng
                   Nghe chừng gió nhớ qua sông
                   E bên lau lách thuyền không vắng bờ
                   Không gian như có giây tơ
                   Bướđi sẽ đứt, động h s tiêu
                   Êm êm trời ngẫn ngơ chiu
                   Lòng không sao cả hiu hiu sẽ buồn!
                                                       (Xuân Diệu)

        Đúng là cái lãng mạn thi ca tiền chiến. Người ta bun là phi có lý do. Xuân Diệu buồn chẳng có cớ nào hết. Chỉ là một buổi chiều êm, ngẫn ngơ, lòng buồn hiu hiu. Đúng là tính chất đặc biệt của thời kỳ lãng mạn mà trước và sau nóít khi thy cóGió nhớ” (qua sông) là mt ý rất lạ và rất hay. Không phải một lần Xuân Diệu nói như thếông nói nhiu ln:

                   Hôm nay trời nhẹ lên cao
                   Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn
                   Lá hồng rơi lng ngõ thuôn
                                                (Xuân Diệu)   
      
        Lá hồng rơi, có nghĩa hôm nay là mùa thu. Cnh thu làông bun v vn.
        Xuân Diệu (?) có hai câu thơ t cnh thu, đượđánh giá là hai câu hay nht trong thi ca lãng mạn:

                   Ô hay vàng rơi cây ngô đồng
                   Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông!

        Trong các thi sĩ tiền chiến, không ai nói thu vui, tươi sáng. H chnh hưởng c hai nn văn hc Tàu và Tây; Tây thì có Chauteaubrian, Lamartine, Verlaine, Valery... với những nỗi buồn mênh mông và sâu sắc của anh chàng René trong Melamcholie De René, của Chanson d’ Automne thì làm gì có vui, mà rặt một thứ buồn lãng mạn, vô cớ; Tàu thì có “Phong Kiều Dạ Bạc” của Trương Kế, thơ ca Thôi Hiu, ca Lý Bạch, “Tỳ bà Hành” của Bạch Cư D, mùa thu bao gi cũng nhuđầy c màu quan tái, b bàng, lnh lo.
         
        Điều đáng nói hơn nữa, cái buồn của thi sĩ tiền chiến khác với thơ xưa của ta hay của Tàu ở chỗ nó thê lương hơn, đạm hơn, buđến ni như Hàn Mc T không nó“được na li:
         
                   Ấp úng không ra được nửa lời
                   Tình thu bi thiết lắm thu ơi     
                   Vội vàng cánh nhạn bay đi trớt
                   Heo hắt hơi may thong li ri
                   Nằm gắng đã không thành mộng được
                   Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi
                   Ngàn trùng bóng liễu trông xanh ngắt
                   Cảnh sắp về đông, mắt sẽ vơi.
                                                (Hàn Mặc Tử)
         
        Cảnh thu buồn bi thiết, ông muốn nhờ chim nhạn đưa thư cho “ai đó” (1) ở Gia Hội (Huế) mà nhạn đã bay đi mất rồi (“Vội vàng chi lắn nhạn lưng mây, chm chm cho mình gởi chút đây” -Gởi nhạn. HMT). Gió heo may thổi lại rồi, cảnh mênh mông toàn là bóng liễu...
         
        Như đã nói, thu thường đi vi trăng, trăng trung thu tròn và đẹp, nhưng khi trăng còn chỉ một nửa, người thơli trách:

                   Hôm nay có một nửa trăng thôi
                   Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi.

        Dùng chữ “cắn vỡ” (trăng) như ông là mới lắm, xưa nay chưa ai nói vy. Dùng chữ “ai (cn v) không nhng là hi mà hàm ý trách!
         
        Mùa thu là mùa ly cách, lạnh lẽo, cô đơn và buồn bã. Đó là tính ước l trong thơ cũ cũng như thơ mi:
                  
                    Đây bãi cô liêu lạnh hững hờ
                   Với buồn phơn pht, nng trơ vơ
                                            (Cuối thu HMT)

        Người ta nói bun dìu dịu, buồn nhẹ nhàng, buồn bâng khuâng. Ông nói buồn phơn pht. Có l Hàn Mc T làm bài thơ ny khi v sng  bãi biển Qui Hòa (tục gọi là Ghềnh Ráng) sau khi bị bệnh phung. Thời bấy giờ, khu này rất vắng vẻ làm cho Hàn Mặc Tử thấy cô đơn và buồn. Gia đình dựng cho Hàn Mặc Tử một cái chòi lá bên bờ biển, để ông ở đó một mình. Bãi cô liêu ông nói trong câu thơ trên là bãi biển Qui Hòa nầy chăng? Theo thi sĩ Quách Tấn kể lại, mái lá căn chòi bị thủng nhiều chỗ, Hàn Mặc Tử phải lấy bìa che lại. “Bãi cô liêu” hay “vũng cô liêu” như trong bài thơ sau đây:

                   Ai đi lẵng lặng bên làn nước
                   Với lại ai ngồi khít cạnh tôi
                   Cớ sao ngậm cứng thơ đầy ming
                   Không nói không rằng nín cả hơi
                   Chao ơi ghê quá trong tư tưởng
                   Một vũng cô liêu cũ vạn đời
                                            (Hàn Mặc Tử)
         
        Có người viết là “bãi cô liêu”. “Bãi cô liêu” là nói về chiều rộng, “vũng cô liêu” là nói về chiều sâu. Nỗi cô liêu của Hàn Mặc Tử lớn như thế, có khi ông cm nhn nó bng ni rng mênh mông, có khi bng ni sâu hun hút.
        Mây biến thành mưa, Hàn Mc T không nói thếông viết là:

                   Mây vở hằng hà sa số lệ
                   Là nguồn ly biệt giữa cô đơn
                   Sao không tô điểm nên sương khói
                   Trong cõi lòng tôi buổi chập chờn.
                              (Hàn-Mặc-Tử – Cuối Thu)

        Mưđem ly bit ti, trong khi đã cô đơn rồi. Có thể Hàn Mặc Tử rơi vào cnh cô đơn cùng cc. Lúc ny, vông, cái chếđã gần kề nên thơ ông có nhiu hình ảnh kinh khiếp: “Và ai gánh máu đi trên tuyết”. Có lẽ ông thấy máu đó trên trên tay chân bệnh tật của ông ta chăng? Tội nghiệp, ông qua đời lúc mới 28 tuổi.
         
        Không những cảnh thu muộn đang héo hon mà chính lòng ông, đang bị ám ảnh vì cái chết, cũng đang héo hon vậy:

                   Thu héo nấc thành những tiếng khô,
                   Một vì sao lạc mọc phương mô
                   Người thơ chưa thy ra đời nh        
                   Trinh bạch ai chôn tận đáy mồ.
                                                (Hàn Mặc Tử)

        Đúng là lời nói của một người sp chết, “Điu chi tương t k minh gi ai, nhân chi tương t k ngôn gi thin. Thơ ông, khi ông sp chết, tr nên bí him mà đó cũng là điu thin chăng? Các nhà phê bình văn học cho rằng khi biết mình còn sống chẳng bao lâu nữa, thơ công thành bí him. S bí hiđó nm trong tôn giáo, cũng là điu thin vy. Người ta nói thu mênh mông sương khói, ông thì tả cảnh thu héo, cành khô và có tiếng nấc trong cành cây lá cỏ khô héo đó. Ông tìm một vì sao lạ, một vì sao lạ trong kinh thánh hay một vì sao bạc mệnh của đời ông, như Vũ Trọng Phụng viết: “Tôi sinh ra đi dưới một ngôi sao xấu”. Vì sao đó là bản mệnh của mỗi chúng ta. Trong những năm cuối đời, bị đau khổ tinh thần cũng như thể xác dằn vặt, bị ám ảnh bởi cái chết, và mong cầu một cuộc đời hạnh phúc mai sau, thơ ông mang màu sắc tôn giáo, -Thiên chúa giáo-, khá đậm. Vì sao lạ tượng trưng cho thánh thn xut hin. Hàn Mc T tìm một vì sao lạ nhưng lđể mong cu mt nhà thơ.
         
        Đặc biệt thơ ông hay nói tới máu, là nói tới máu khô ở những vết thương trên da thông đó chăng? Máởđây không phi là máu trong đấu tranh chém giết như nhng nhà thơ Cng Sn.
           
                   Máu đã khô rồi, thơ cũng khô
                   Tình ta chết yểu tự bao giờ
                             (Trút linh hồn - Hàn Mặc Tử)

        Thơ ông là máu, nên khi máu khô thì thơ cũng khô, thơ cũng không còn. Nếu máu là tượng trưng cho đau kh thì thơ ông cũng vy. Nó làm cho Hàn Mc T tr thành điên di:

                   Thưa tôi không dám say mê
                   Một mai tôi chết bên khe ngọc tuyền
                   Bây giờ tôi dại tôi điên
                   Chắp tay tôi lạy khắp miền không gian!
                                                (Hàn Mặc Tử)

        Như đã nói, thơ mi chnh hưởng thi ca lãng mạn Pháp khá đậm. Muốn cho tình cảm thật dạt dào, sôi động, thắm thiết, nhiều khi người ta vay mượn tình cảm, vay mượđề tài, vay mượn ni bun, ni nh ca người kháđể rên xiết than vãn, như Chế Lan Viên chng hn. Ông là người kinh, họ Phan (Phan Ngc Hoan, quê ở Cam L, Qung Tr), ly bút hiu là Chế Lan Viên, để người ta lm tưởng ông là người Chiêm (Có thông làm thông phá Phan Rang) để d khóc vMuôn ma Hi s song dt nhau đi.       
         
        Vay mượn, người ta cũng gi là “thương vay khóc mướn thì không hay dù có khi người ta c viết cho tht não nùng:

          Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
          Đem chi xuân lại gợi thêm sầu
          Với tôi tất cả như vô nghĩa
          Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau

          Ai đi trở lại mù thu trước
          Nhặt lấy cho tôi những lá vàng
          Cùng với lá vàng tan tác rụng
          Về đây đem chắn nẻo xuân sang.
                              (Chế Lan Viên)

        Ông không chờ mùa xuân vui tươi, ông ch mun mùa thu có lá vàng rng tan tác.
        Trong khi đó, Hồ Dzếnh, một người không phải là một trăm phần trăm Việt Nam (bố ông là người Tàu, không nói si tiếng Vit) thì thơ công li rt Vit Nam:

                   Trời không nắng, cũng không mưa
                   Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung
                   Đúng là cảnh dịu dàng của mùa thu!
                   Đâu hình tàu chậm quên ga,
                   Buâng khuâng gió nhớ về qua lá dày
                    (Mùa thu năm ngoái, Hồ Dzếnh)

        Làm gì có tàu quên ga, chỉ ông có khi quên mất đường về vì cái tính giang hồ lãng đãng của nghệ sĩ thì có. Nhớ về trong gió và qua lá cây. Ý đó thật lạ! Ông lấy ý của Xuân Diệu hay Xuân Diệu lấy ý của ông. Xuân Diệu viết “Gió nhớ qua sông” còn ông thì viết: “Gió nhớ về qua lá dày”.
         
        Chữ “năm ngoái” ở đề bài thơ là mt ch rt Vit Nam và rt d yêu. Nguyn Khuyến cũng có “My chùm trước giu hoa năm ngoái. Trong truyn Kiu thì “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
         
        Cái đặc biệt trong thơ Hồ Dzếnh là sự chừng mực, không có cái gì quá lắm, đúng là cái dìu dịu của thu: “Không nắng cũng không mưa, rét cũng va phi: hiu hiu rét. Thương nh cũng chng mc: va (nh thương). Nhưng cái dìu dịu vừa phải của Hồ Dzếnh thì lại có một kết quả sâu sắc: “quên ga”, như trong câđầu.
         
        Bài “Thu” của ông, bốn câu trên không được hay lắm, nhưng các đoạn sau thì ý tưởng tht mi l mà thơ thì rất nhẹ nhàng:

                   ... tất cả một mùa thơ
                   Tất cả lều tranh, cả khói mờ
                   Cả gió mây đưa buồn lắng xuống
                   Cả lòng tôi với cả lòng cô

                   Có một nghìn cây rũ rượi bun
                   Một nghìn sông rét, vạn hoàng hôn
                   Dăm thân thiếu nữ gầy như trúc
                   Đứng chịu tang trời đổ bóng đơn

                   Thu xa bằng gió bằng mây
                   Không gian thở nhẹ
                   buồn vây chìm chìm
                   Lòng không ai cấm mà im
                   Không dưng bng nh,
                   không tìm bỗng mong
                   Nơi tôi còn ít lá lòng
                   Chiều nay rơi nt
                   trong lá rừng.
                    (Hồ Dzếnh)

        Khổ thơ gia tht hay. Rng có mt nghìn cây là một rừng cây buồn, một nghìn sông rét, vạn hoàng hôn. Hai câu nầy tả cảnh toàn bộ không gian và thời gian, tất cả đều buồn, đều rét. Những cây tre vươn lên qua các lều tranh có khói mờ bốc lên, giữa cảnh cô đơn, ảm đạm.       
         
        Có một độ, trước năm 1945, trên con đường lưu lạc Bắc Nam, Nguyễn Bính ghé lại Huế. Ông thấy người ở hoàng thành còn mang màu cổ kính:

                   Mùa thu hoa cúc vàng lưng giu
                   Thiếu nữ mơ màng áo trng nguyên.
                                                (Nguyễn Bính)

        Hoa cúc nở vào mùa thu mà ở Huế, trước 1945, còn rất nhiều vườn, nhiu ph ca cáông hoàng bà chúa, quan quyn. Hoa cúc n vàng b giu khiến các cô thiếu n mơ màng vic ly chng, mơ được làm v mông trng nguyên (áo trng nguyên màu vàng và quan trng được vua chn làm phò mã (?), dù các khoa thi đình của triều đình Huế không chấm trạng nguyên (2). Người Huế đổi thay k t khi Pháđặt nđô h, và h càng thay đổi nhiu hơn na khi v vua cui cùng triu Nguyn không còn ở trong Tử Cấm Thành. Cùng với vua quan và cung phi mỹ nữ, hoa cúc vàng cũng lui sâu vào dĩ vãng, và chiếc áo màu vàng của quan trạng trở thành huyền sử cố đô.
         
        Ngay từ thời kỳ đó, khi bước chân giang hồ của Nguyễn Bính dừng lại Huế, ông cũng chỉ để thấy:

                   Trường Tin vng ngt người qua li
                   Đập đá mênh mông bến nướđầy    
                   Đò vắng khách chơi nm báúp
                   Thu về mang lại gió heo may
                                              (Nguyễn Bính)

        Cầu Trường Tin vng khách, đò vắng khách, đập đá mênh mông nước, gió heo may đã về. Cơn lnh ca gió heo may xô người ta vào trong nhàđóng ca li. Ai tng  Huế, mi biết cái lnh ca Huế khá đặc bit, thm thía. Trong cái lnh ca Huế, nhiđộ không xung thp như ở Bc M ny, nhưng sao nó li nhc but xương ty, xót xa da thđến làm vy?!



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét