MÙA THU VIỆT NAM
Hoàng Long Hải
Tôi muốn nhắc lại đây một mùa thu rất xưa, bài Vịnh Thu của bà Ngô Chi Lan:
Gió
vàng hiu hắt cảnh tiêu sơ
Lẻ
tẻ bên trời bóng nhạn thưa
Giếng
ngọc sen tàn bông hết thắm
Rừng
phong lá rụng tiếng như mưa
(Ngô-Chi-Lan/
Vịnh Thu)
Kể từ bài nầy cho đến
những bài tả cảnh thu về sau như trong truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc, Hoa tiên, v, v... bài nào tả cảnh thu cũng hay nhưng rất ước lệ, nghe như có vẽ là thu bên Tàu: Cógiếng ngọc (ngọc tỉnh), có lá ngô đồng, có rừng phong, có bóng nhạn. v v... Ngay cả những tác phẩm thi ca lãng mạn,
cũng không hoàn toàn thoát khỏi những ước lệ đó.
Ví dụ như trong thơ Hàn Mặc Tử ta thấy:
Vội
vàng chi lắm nhạn lưng mây
Hoặc:
Trước sân anh thơ thẩn,
Đăm
đăm trông nhạn về
(Gái
quê)
Vậy trong
văn thơ Việt Nam, không có mùa Thu Việt Nam chăng?
Bạn đọc hãy
đọc ba bài sau đây của Nguyễn Khuyến:
THU
ĐIẾU
(Mùa
thu câu cá)
Ao
thu lạnh lẽo nước trong veo
Một
chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Nước biếc theo làn hơi gợn tí
Lá
vàng trước gió sẽ đưa vèo
Tầng
mây lơ lững trời xanh ngắt
Ngõ
trúc quanh co khách vắng teo
Tựa
gối ôm cần lâu chẳng được
Lá
vàng trước gió sẽ đưa vèo
THU
VỊNH
(Vịnh
cảnh thu)
Trời
thu xanh ngắt mấy từng cao
Ngõ
trúc quanh co gió hắt hiu
Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song
thưa để mặc bóng trăng vào
Mấy
chùm trước giậu hoa năm ngoái
Một
tiếng trên không ngỗng nước nào
Nhân
hứng cũng vừa toan cất bút
Nghĩ
ra lại thẹn với ông Đào.
THU
ẨM
(Mùa
thu uống rượu)
Năm
gian nhà cỏ thấp le le
Ngõ
tối đêm khuya đốm lập lòe
Lưng giậu phất phơ làn khói nhạt
Làn
ao lóng lánh bóng trăng loe
Lưng trời ai nhuộm mà xanh ngắt
Mắt
lão không viền cũng đỏ hoe
Rượu tiếng rằng hay hay chẳng mấy
Độ
năm ba chén đã say nhè.
Nguyễn
Khuyến mô tả ba cái thú vui đặc biệt của người Việt trong mùa thu: câu cá, uống
rượu và làm thơ. Đó là những thú vui thanh cao
ngày xưa. Câu cá là thú vui cô đơn. Vần “eo” là một vần nghèo (ít chữ), lại khó gieo. Cảnh câu cá ở đây là một cảnh rất quen thuộc ở miền quê nước ta, nhất là vùng trung châu Bắc bộ và vùng quê Trung bộ, vùng có nhiều hồ ao. Đây là ao làng, nơi dân làng có thể ra đó tắm giặt, lấy nước. Cảnh Nguyễn Khuyến mô tả ở đây như một bức tranh quê Việt Nam. Những chi tiết trong tranh đơn sơ, giản dị, bình thường. Hình ảnh cũng
như màu sắc rất quen thuộc. Một chiếc thuyền câu trên mặt ao màu xanh. Phải là thiên tài mới vẽđược cái lạnh lẽo trên mặt hồ thu; mặt nước lăn tăn sóng (gợn tí), có chiếc lá vàng (tương phản mặt hồ xanh) bay
nhanh trên mặt nước (đưa vèo). Bầu trời xanh ngắt, vắt ngang qua đó là mấy tầng mây.
Để tiện lấy
nước sinh hoạt, làng quê Việt Nam thường nằm bên một con sông hay một hồ nước. Do đó, ngồi trên hồ, tác giả thấy cái ngõ làng quanh
co, vắng bóng người. Tất cả hình ảnh
trên, rất thường thấy ở miền quê Việt Nam, ngay cả cái ngõ trúc cũng
không lạ gì với chúng ta. Những người ở thành phố cũng có thể thấy ngõ làng qua “Xóm
Giếng Ngày Xưa” của Tô Hoài:
Những hình
ảnh đó vắng, buồn và lặng lẽ; lặng lẽ đến nỗi tác giả nghe được cả tiếng cá lâu
lâu móng nước dưới chân bèo. Âm thanh và màu sắc được phối trí rất hài hòa. Thi
sĩ không cần sáng tạo vì âm thanh đó, màu sắc đó là những cái rất tự nhiên ở
làng quê. Cái tài của tác giả là nhận xét và phô diễn ra bằng lời. Cái tĩnh
lặng của miền quê Việt Nam là cái tĩnh lặng của cuộc sống, của thiên nhiên cả
ngàn năm không có gì thay đổi trước khi có cuộc “Cách mạng mùa thu”, tiếp sau
là cuộc “Cải cách ruộng đất” mà tiếng than khóc và máu đỏ tuôn ra tương phản
với không khí tĩnh lặng của ruộng đồng, các lũy tre làng êm ả.
Bài “Thu
Vịnh” vừa tả cảnh vừa tả tình. Đó cũng là cảnh thu Việt Nam, một cảnh thu ở
miền quê giống như bài “Thu điếu”. Trời xanh cao, ngõ xóm
vắng vẻ, gió thổi nhẹ (hắt hiu), cửa sổ mở cho bóng trăng chiếu vào (song thưa). “Mặc” là chữ nôm (Song thưa để mặc) đưa vào thơ khó hay. Tuy vậy, sau nầy Thế Lữ lại dùng cũng khá hay (“Điềm nhiên mặc kệ con người vớ vẫn”, Khách Chinh Phu). Trước hàng rào, lại thấy mấy chùm hoa nở. Hoa nầy năm ngoái nở rồi, nay lại nở. Chữ “năm ngoái” biểu lộ một sự gần gủi thân quen, một cố nhân, làm người ta nhớ câu thơ của Thôi Hộ (“Đào hoa y cựu tiếu
đông phong”) mà Nguyễn Du diễn ý đó trong Kiều là “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”.
Hoa thì biết
rồi, năm ngoái, như cũ, nhưng ngỗng thì không biết từ nước nào bay tới. Nguyễn Khuyến gọi nôm na là ngỗng, không văn chương như các nhà thơ làm thơ ước lệ, gọi là nhạn, là hồng.
Trước cảnh thiên nhiên đẹp một cách đơn sơ, gần gủi và gợi tình như thế, tác giả tính làm thơ, vài câu ngẫu cảm nhưng lại hổ thẹn với Đào Tiềm, nhà thơ Trung Hoa nổi tiếng. Đó là sự khiêm nhượng chăng, chứ xem ra cả ba bài thơ tả cảnh thu của ông, người ta khó phủ nhận đó là tuyệt tác.
Xin trở lại
vần “oe” hay “e”, hai vần nầy hơi giống nhau, đi với nhau cũng được, là một vần nghèo, như đã nói trong bài
“Thu Điếu”. Phải là người có tài mới gieo vận nhanh khi dùng vần nầy. Bài thứ ba có vài ý mâu thuẫn nhau.
Mới đọc, người ta tưởng tác giả tả cảnh thu về đêm. “Ngõ tối đêm khuya đốm lập
lòe”. Trời tối mới thấy đom đốm lập lòe trong ngõ. Nhưng tiếp đó, ở câu ba, Nguyễn Khuyến lại viết: “Lưng giậu phất phơ làn khói nhạt”. Phải trời còn sáng mới thấy
làn khói nhạt bay lên, hơi sương bay lên thì đúng hơn,
tương tự như “Yên ba giang thượng” vậy. Phải trời tối mới thấy bóng trăng loe dưới ao (Làn ao lóng lánh bóng trăng loe), nhưng tiếp đó lại là cảnh ban ngày “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt”. Chắc chắn cảnh nầy không phải là cảnh sáng hay trưa, mà chiều hay chập choạng, chạng vạng, hoàng hôn. Lúc đó, ngõ tre thì đã
tối lắm, có thể tối như lúc đêm khuya. Xem lại bài “Xóm
Giếng” như tôi nói ở trước, độc giả có thể hiểu, nhất là ai từng sống ở quê. Con đường làng có hai hàng tre hai bên, che kín trên đầu là kín lắm, có khi nhìn lên
không thấy trời, thành ra trời mới chiều ngõ đã tối um, đom đóm bay ra kiếm ăn.
Lúc hoàng hôn, dưới ao sâu, cảnh cũng đã tối nên dễ thấy
bóng trăng. Thực ra, tác giả tả cảnh chiều và sắp tối ở miền quê. Vì cấu trúc
thơ Đường khắt khe, nên Nguyễn Khuyến khó tả cảnh theo thứ tự thời gian.
Tác giả cũng
tả phong thái của ông khi uống rượu, hòa mình với khung cảnh thiên nhiên của mùa thu nơi thôn dã, thung dung
nhàn hạ của một ông già điềm đạm, vui với thời gian và không gian. Thời gian có
tính tổng quát, không cần xác định một cách máy móc sớm trưa chiều tối, không
gian là khung cảnh êm đềm tĩnh lặng, thanh thoát gần gủi thiên nhiên của vùng
quê Việt Nam. Nói chung, đó chính là vô vi của Lão Trang, sống hài hòa cùng
thiên nhiên, không có gì trái nghịch với tạo hóa, là thông đạt triết lý Lão
Trang một cách sâu sắc vậy.
Da
trời ai nhuộm mà xanh ngắt
Mắt
lão không viền cũng đỏ hoe
(Nguyễn
Khuyến)
Phép đối ở
đây khá hoàn chỉnh, tự nhiên, đạt tới cao điểm của nghệ thuật, đến nỗi không
còn thấy sự đẻo gọt công phu, cầu kỳ thường có ở những người làm thơ Đường. Chữ lão là một
nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít, người già thường dùng để tự xưng. Hai câu kết tả tình, cái sở
thích của tác giả. Mùa thu lạnh. Người già thích uống rượu, có tiếng là hay rượu nhưng thực ra cũng chẳng có gì là
hay.
Cả ba bài
nầy đều nói về thu, bối cảnh hơi giống nhau: Cảnh thôn quê Việt Nam cho nên
không có những ước lệ như rừng phong (cây phong chỉ mọc ở hàn đới), không quan tái, tóc liễu, lá ngô đồng. Nét đặc biệt của thôn quê Việt Nam là tĩnh lặng, êm đềm, vắng vẽ. Sự rộn ràng của những bến sông, tiếng đùa vui những lúc thả diều trên cánh đồng sau làng chỉ rộn lên ngắn ngủi trong những ngày hè nay biến mất khi gió heo may bắt đầu thổi, khi những đám mây đen vần vũ báo hiệu thu sang. Tác giả cũng gởi tình cảm vào thơ nhưng không như các nhà thơ lãng mạn,
tình cảm của ông chừng mực, vừa phải, không có những cái bi thiết, quay quắt,
rên la trong khi cảnh thu. Ông tả đẹp thì đẹp vô cùng mà thực cũng là rất thực,
không vay mượn cảnh sắc của Tàu như những người làm thơ trước ông hay cảnh sắc của Tây ở những thế hệ sau ông.
Bàn tới mùa
thu trong thi ca lãng mạn mà không nói tới “Tiếng Thu” của Lưu Trọng Lư có thể là một thiếu sót bởi bài thơ nầy được nhiều người biết, nhiều người thích, Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh có bàn tới. Lưu Trọng Lư có một tập thơ nhan đề là “Tiếng Thu” xuất bản trước 1945, trong đó, ông có một số bài nói về mùa thu tôi sẽ bàn sau đây.
Lưu Trọng Lư lại là người rất mơ mộng. Sự mơ mộng làm cho ông đãng trí đến nỗi,
như Hoài Thanh giới thiệu trong Thi Nhân Việt Nam có lần Lưu Trọng Lư đọc hai câu thơ:
Giật
mình ta thấy mồ hôi lạnh
Mộng
đẹp bên nhau đã biến rồi
mà cứ tưởng đó là hai câu thơ của Thế Lữ, nhưng chính lại là của Lưu Trọng Lư.
Nói chuyện
thơ thẩn mơ mộng như thế nầy, phải nói rằng ai đã từng ở Huế, lớn
lên ở Huế, chỉ trước 1945 mà thôi mới thấy những cái lạ lùng của xứ Thần Kinh. Huế có cảnh sắc thơ mộng, núi Ngự sông Hương thì điều đó đã
hẵn, nhưng trai gái Huế cũng mơ mộng không kém. Trong cuốn “Nửa Bồ Xương Khô”, Vũ Anh Khanh kể lại một cảnh thực. Cứ cuối tuần, học sinh trai gái Huế, phần đông là học sinh trường Đồng Khánh, Khải Định rủ nhau đi chơi
lăng hay chơi núi Ngự Bình. Núi Ngự hồi ấy còn thông dày đặc, còn bậc cấp đá đi
lên ở mặt sau ngọn núi. Người ta vào chơi trong rừng thông, ca hát, đàn sáo, v.v... và cũng có người thổi sáo khá tuyệt. Người ta mơ mộng và say mê thi ca đến độ xảy ra những trường hợp đặc biệt, như có cậu học trò tên là B. mê
“Giọt Lệ Thu” (tôi có dẫn mấy câu đầu ở trên) đến độ sa tình, điên loạn. Khi
vào thi vấn đáp Brevet (tốt nghiệp cấp hai), anh ta đọc một lèo “Giọt Lệ Thu”
rồi bỏ về. Sau anh ta thi vào Sở Xe Lửa Huế, cũng chỉ đọc “Giọt Lệ Thu” mà
thôi. Về sau, ông ta bị điên hẵn.
Lưu Trọng Lư là người mơ mộng nên ông thường ngơ ngác trước cuộc đời, y như con nai vàng trong bài thơ “Tiếng Thu” của ông:
Em
không nghe mùa thu
Dưới trăng vàng thổn thức
Em
không nghe rạo rực
Hình
ảnh kẻ chinh phu
Trong
lòng người cô phụ
Em
không nghe rừng thu
Lá
thu kêu xào xạc
Con
nai vàng ngơ ngác
Đạp
trên lá vàng khô
(Lưu Trọng Lư)
Rất nhiều người khen và thích bài thơ nầy. Phạm Duy đã phổ nhạc. Cũng có
người cho rằng bài nầy Lưu Trọng Lư phỏng ý thơ bài “Chanson d’ Automne” của Verlaine. Điều nầy, nếu có cũng không gì lạ vì các nhà
thơlãng mạn tiền chiến
chịu ảnh hưởng thơ ca lãng mạn
Pháp và chính Xuân Diệu cũng gián tiếp xác nhận như thếkhi viết:
Tôi
nhớ Rimbeau với Verlaine
Hai
chàng thi sĩ choáng hơi men
Say
thơ xa lạ mê tình bạn,
Phá
bỏ khuôn mòn, những lối quen.
(Xuân
Diệu)
Trong thơ cổ của ta, có lẽ không ai tả cảnh thu mà có hình ảnh con
nai. Hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác” trong mấy chục năm trở lại đây trở thành một “thành ngữ” trong câu nói thường ngày của người Việt chúng ta, bắt nguồn từ trong câu thơ của Lưu Trọng Lư vậy. Tác giả hỏi một em vô hình nào đó
có nghe tiếng lòng thổn thức của cô phụ. Tại sao cô phụ thổn thức. Cũng là tại
cảnh thu nhắc nhở người đàn bà việc xa chồng. Bao giờ cũng vậy, ý nghĩa mùa thu
là ly cách, làm cho người ta, nhất là phụ nữ nhớ cảnh ly biệt.
Trong rừng
thu, lá thu đã rụng nhiều, tiếng chân nai đi xào xạc trên lá khô. May mắn tôi ở
đây là vùng cấm săn sai, trên xa lộ có nhiều bảng hiệu cảnh giác nai băng qua
đường, và tôi không dấu được niềm vui vì nhiều lần thấy bóng những con nai xuất
hiện bên đường đi, ngơ ngác nhìn xe chạy qua, hoặc có khi nai cũng vào vườn nhà người ta tranh
nhau ăn những trái táo rụng trong sân. Chúng chỉ bắt đầu xuất hiện khi mùa thu tới. Mùa hạ, nai lên vùng cao kiếm ăn. Khi những cơn lạnh đầu tiên tới, nai theo những con đường quen, tìm về
vùng thấp, như Huy Cận mô tả:
Bỗng
dưng buồn bã không
gian
May
bay lũng thấp, giăng màn âm u
Nai
cao gót lẫn sương mù
Xuống
rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về
Sắc
trời trôi nhạt dưới khe
Chim
đi lá rụng cành nghe lạnh lùng
Sầu
thu lên vút song song
Với
cây hiu quạnh, với lòng quạnh hiu
Sắc
xanh nhạt cả buồn chiều
Nhân
gian e cũng tiêu điều dưới kia
(Thu
rừng, Lửa thiêng, Huy Cận)
Có thể bài
thơ nầy được gợi hứng từ hoàn cảnh sống thực tế: Huy Cận họ Cù, thuộc người sắc tộc, sinh trưởng ở mạn thượng du tỉnh Thanh Hóa. Những nhận xét của ông về một mùa thu ở rừng rất thật và rất thi vị. Khung cảnh thiên nhiên được Huy Cận bắt rất nhanh qua tâm hồn một nhà thơ lãng mạn,
điều đó xác định thêm nỗi buồn khi ông thấy không gian thay đổi, có lẽ chính
yếu ở trời và cây rừng. Trời thì nhiều mây, trên các thung lũng, như giăng màn che bớt núi non. Huy Cận tả cảnh trời không bằng cách nhìn lên mà nhìn
xuống: “Sắc trời trôi nhạt dưới khe”. Lá rụng nhiều, các bờ khe trống ra, in bóng trời cao rọi xuống. Con nai xuống khe uống nước, nhìn nước trôi trong lòng khe mà
tưởng trời cũng trôi theo nước. Khi con chim
bay đi, sự nhún nhảy của nó tạo một sức động làm cho chiếc lá rụng. Đây là một nhận xét tinh tế khác với người xưa. Xưa, khi tả chim và lá, như bà Tiết Đào thì cho rằng:
“Chi nghinh nam bắc điểu, diệp tống vãng lai phong”. Ở một cành cây những con
chim từ phương nầy hay phương khác tới, chiếc lá rung rinh
theo ngọn gió qua lại. Người ta cho đàn bà làm thơ như thế là không đứng đắn. Đón người nầy người kia, ngọn gió nầy gió nọ là “Dập dìu lá gió cành
chim, Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh”, là cuộc sống của Kiều ở lầu xanh.
Xuân Diệu cũng có một câu tương tự: “Cành biếc run run chim ý
nhi”. Nhưng không phải “khẩu khí” một cô gái ngày sau vào ở chốn lầu xanh. Huy Cận không nói ý đó,
với ông, một con chim nhún bay đi làm thêm một chiếc lá rụng, thêm một sự chia
lìa.
Huy Cận cũng
nhận xét tinh tế cách sống của loài nai. Khi những cơn lạnh đầu mùa theo gió về, nai bỏ các vùng cao xuống vùng thấp hơn để trốn lạnh. Chúng theo những lối đi quen (nẻo thuộc). Con nai xuống suối uống nước, nhìn sắc trời
trong khe, nhìn sương thu bay lên cao, từng ngọn song song, nó tự hỏi con người sống ở vùng đồng bằng chắc cũng buồn khi mùa thu tới. Trong thi ca,
khi cần nhấn mạnh một ý nào đó, người
ta thường dùng phép “điệp ngữ” hay “đão ngữ”. Huy Cận theo bút pháp thứ hai khi
ông dùng “hiu quạnh” (cây) và “quạnh hiu” (lòng). (Với cây hiu quạnh, với lòng
quạnh hiu).
Mơ mộng như Lưu Trọng Lư, ông buồn khi thấy lá mùa thu rụng nên ông viết bài thơ “Mùa Thu Rụng Lá”. Bài nầy chỉ có mấy câu sau đây là hay nhứt:
Lòng
anh như nước hồ thu lạnh
Quạnh
quẽ đem soi bóng nguyệt tà
Ngày
tháng anh mong chầm chậm lại
Hững
hờ em mặc tháng ngày qua.
(Lưu Trọng Lư)
Lòng ông
lạnh không phải ông không còn yêu nhưng chính vì người yêu đã bỏ ông, vì “Vội
vã cô em đi lấy chồng” (Mùa Thu Rụng Lá) để đêm đêm ông trải lòng mình ra
trên “mặt nước hồ thu lạnh” đón nhận ánh trăng đã xế tà. Ở một số
bài trong tập “Tiếng Thu”của ông, không thấy ông dùng chữ thu nhưng đọc qua, biết ôngđang nói tới mùa thu:
Gió
thổi hôm nay lá rụng nhiều
Cậy
em đan hộ tấm tình yêu
Để
về mang ủ lòng anh lạnh
Cho
khoảng đêm trường đỡ quạnh hiu.
(Mùa
thu đan áo)
Hoặc là:
Hoa
lá quanh nàng lác đác rơi
Cuối
vườn đeo giỏ hái mồng tơi
Mồng
tơi úa đỏ đôi tay nõn
Cô
bé nhìn tay nhí nhảnh cười.
(Lá
mồng tơi, Lưu Trọng Lư)
Mồng tơi là loại cây leo mọc hoang ở hàng rào; có khi người ta cũng trồng thành luống để lấy lá nấu canh. Trái mồng tơi màu đỏ tím như màu mực học trò, trẻ con thường hay nghịch. Cô em của Lưu Trọng Lư tuy đã lớn nhưng còn nghịch như trẻ con.
Nguyễn Bính
có mấy câu nói về mồng tơi, nôm na hơn nhưng lại khá hay:
Từ
độ mồng tơi thôi trổ lá
Thì
cô hàng xóm cũng thôi sang
Hoặc:
Nhà
nàng ở cạnh nhà tôi
Cách
nhau có giậu mồng tơi xanh rờn
Hai
người sống giữa cô đơn
(Nguyễn
Bính)
Bài “Lá Bàng
Rơi” của Lưu Trọng Lư có mấy câu nói về thu rất đẹp:
Sớm
vin cành liễu so màu tóc
Chiều
ngắt hoa lê đọ nụ cười
Người đẹp bên sông sầu chưa biết
Bên
sông ngày lượm lá bàng rơi.
(Lưu-Trọng-Lư)
Có điều buồn
cười là các nhà làm thơ mới thường đã kích lối làm thơ cổ, nhất là Đường thi, nhưng họ vẫn không thoát ra khỏi những ước lệ thơ cổ. “Vin cành liễu”, “so màu tóc”. Như đã nói ở trên, theo
xưa thì cây liễu tượng trưng cho người đàn bà con gái. Lưu Trọng Lư lại còn dùng cả phép
đối trong thơ Đường. Hễ “Sớm vinh cành liễu” thì “Chiều ngắt hoa lê” là phép
“tiểu đối”. Cái ý bến sông xa cách ngày nay thường thấy trong văn chương. Thạch Lam thì có “Bên
Kia Sông”, Huy Cận thì có “Không cầu nối lại niềm thông cảm”, Lưu Trọng Lư thì có “Người đẹp bên sông” hay “Hoa rụng bên sông”.
Tôi đã giới
thiệu bài “Thu Rừng” của Huy Cận ở phần trước. Trong tập “Lửa Thiêng” của ông, còn một bài nói
về thu nữa. Bài nầy, ông tả qua cảnh thu về, có hoa rụng, có sương nặng trên đầu ngọn tre, có lạnh về theo gió. Thu tới thật nhẹ nhàng mà đóa hoa cúc nở ra cũng ngỡ ngàng. Có cô con gái nhỏ đi chơi trong vườn nhìn hoa tạ từ,
mầu hoa đậm và nhớ nhung.
Hôm
qua thu mới về
Với
một cành hoa gãy
Sương nặng gieo đầu tre
Lạnh
tràn theo gió đẩy
Thu
tới trong vườn bên
Ngỡ
ngàng màu cúc mới
Đêm
qua bên láng giềng
Êm
tựa nhàn, thu tới
Cô
gái nhỏ thung dung
Qua
miếng vườn hoa nhỏ
Đất
nằm im dưới cỏ
Hoa
tạ màu nhớ nhung
Nói chừng
nầy làm sao hết cả thu trong trường thơ lãng mạn tiền chiến. Thi nhân thời ấy nói về thu nhiều lắm, nói mãi
cũng không sao hết được. Vì sao? Như đã nói, mùa thu là mùa ly biệt, mùa đất trời chuyển dịch, mùa
của nhớ nhung, trông chờ. Tình cảm tâm hồn người bị giao động, xúc cảm, có khi rất mãnh liệt, làm
cho người ta sinh ra than
vãn, khóc lóc lắm lúc thật não nề.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét