Thứ Sáu, 17 tháng 11, 2017

CHÂN DUNG NHÀ VĂN CAO THẾ DUNG

NHỚ ANH CAO THẾ DUNG
KHẢI TRIỀU




Tôi nhận được tin từ Canada nói anh Cao Thế Dung mất ngay ngày 31 tháng 10 năm 2017. Lúc đó tôi đang ở quê nhà mình, Phú Xuyên, Hà Nội. Tôi về “nhà mình” từ ngày 25 tháng 10 ngay sau khi nhận được tin báo của các cháu “Mẹ con đau nặng. Xin cậu về ngay”. Một lát sau, giọng một cháu nữ tu lại gọi “Ông về ngay, nếu trễ thì chỉ thấy xác bà nội con thôi!” Giọng nó có vẻ giục giã. Vậy là tôi về.
Ngày 30 tháng 10 năm 2017, chị tôi qua đời trong vòng tay của con cháu, người thân và xóm giềng. Bà đi nhẹ nhàng, êm ái, thánh thiện, tôi ít thấy.

Tôi ở lại “nhà” đúng một tuần lễ. Tâm trí tôi lúc nhớ về người chị vừa mất, khóc hoài với các cháu của tôi. Có lúc như lạc mất trí, bồng bềnh, viễn du. Lúc tỉnh thì lại nhớ đến anh Cao Thế Dung, người có nhiều kỷ niệm để lại trong tôi. Cho nên,về tới nhà trong Sài Gòn tôi chưa thể làm việc được ngay, phải mất hơn một ngày, tôi mới mở hộp thư đến. Các bạn ở bên này gửi tin về cho tôi, rồi viết một bản Phân Ưu của các bạn phụ trách hoặc ít nhiều có bài đăng trên Bán Nguyệt san QUẦN CHÚNGtừ 1968-1970, bao gồm bộ cũ và mới.
Có một điều khá đặc biệt về anh Dung qua đời. Đó là Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn, 38 Kỳ Đồng Quận Ba, đã viết một bảng thông báo: Nhà văn, Nhà giáo Cao Thế Dung đã từ trần tại Hoa Kỳ…Tấm bảng này dựng ngay bên trong cổng ra vào, sáng ngày 13-11-2017 mới cất đi.Thay vào Thông báo là bài của Phạm Trần: “Cao Thế Dung và cuộc thảm sát TT Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu”.

Hoài niệm
Khoảng năm 1956 hay 1957 gì đó, căn gác trọ của tôi tại đường Nguyễn Thông, gần cổng vào ga xe lửa Hòa Hưng, bỗng có hai thanh niên xách túi quần áo bước lên gác. Trong hai người, chỉ một người nhìn tôi hơi mỉm cười,còn người kia dáng gầy, nét da tái xanh thì không, anh ta lặng lẽ và cũng ít khi có mặt ở căn gác đó suốt thời gian hai anh ở đây, khoảng một hay hai tuần gì đó. Trước ngày dọn đi, người thanh niên lâu lâu nhìn tôi cười, mở ví rút ra một tấm hình, đưa tôi xem, hỏi : “ Cậu có biết ông này là ai không ?” Tôi thoáng nhìn, trả lời: “Nguyễn Thái Học”. Anh ta nói: “Cậu có con mắt tinh đời”, rồi tự giới thiệu là Đỗ Tất Phú, người kia là Cao Thế Dung.
Mấy năm sau, tôi bỏ căn gác này, lên sống ở Ban Mê Thuột rồi mấy năm sau lại trở về. Lần này, tôi cũng thuê được căn gác ở đường Nguyễn Thông nối dài, gần cống Bà Xếp, nhỏ và lẹp xẹp hơn căn gác trước kia. Một chiều tối, tôi xuống đường đi ăn cơm, tình cờ gặp Đỗ Tất Phú đang đạp xe đi về phía căn gác tôi đang ở.Tôi gọi: “Anh Phú, đi đâu thế?” Anh nói ngay: “Mình không có tiền trả tiền nhà, họ đuổi đi”- “Đến ở với tôi”, rồi tôi dẫn anh vào nhà để cất xe, sau đó hai chúng tôi ra ngoài quán ăn cơm. Đêm hôm đó hai chúng tôi gần như thức trắng nói nhiều chuyện, về văn nghệ, thời sự. Anh nói về Cao Thế Dung. Ngày hai anh đến ở trên gác trọ với tôi, anh Dung nói với Phú: tôi là người Bắc mà lại dạy kèm trẻ người Nam. Nên nghi tôi là VC nằm vùng !

Về tờ Bán Nguyệt san Quần Chúng
Từ ngày Đỗ Tất Phú đến ở với tôi, dần dà tôi gặp lại anh Dung và những thành viên khác trong hệ phái Yên Bái VNQDĐ. Trong số này có anh Đỗ Đình Duyệt, Đỗ Đức Thịnh, vợ chồng Nguyễn Cái Thế-Nguyễn Tường Uyển v.v…Sau đó, tôi gặp anh Nguyễn Công Luận (tức Lữ Tuấn) rồi anh Trần Quốc Minh. Riêng anh Minh thì đã giúp tôi vào Không Quân, công tác tại BTL/KQ, ngành BTV sau khi qua một kỳ thi tuyển (năm 1967). Sau đó, anh trao cho tôi làm tờ BNS Quần Chúng (Bộ mới). Lúc này, anh Cao Thế Dung còn dạy học trên Ban Mê Thuột, trường Lasan K’Buôn Banmêthuột. Sau ngày trở về Sài Gòn, anh Dung nhận chân Quản nhiệm BNS Quần Chúng. Chủ nhiệm là chị Nguyễn Thị Bảo Kim. Còn chân chủ bút thì có kỳ để tên anh Bùi Đức Uyên (Bùi Phổ), rồi anh Cao Thế Dung. Mấy số cuối trước khi báo bị tịch thu thì đề tên Khải Triều.Mặc dù thế, mấy anh em chúng tôi không có ý tưởng gì về vị trí trong tờ báo. Tất cả đều làm việc chung, đều tin tưởng vào lập trường và quan điểm của nhau, ngay cả các bài của thân hữu. Về mặt này, hai anh Cao Thế Dung và Bùi Đức Uyên phụ trách. Riêng số báo Xuân Canh Tuất 1970, gồm 2 số (21 và 22 tháng 1+2-1970) thì tôi đứng tên Chủ bút. Báo bị tịch thu. Báo giớitại Sài Gòn ngày đó xôn xao về vụ này. Họ chờ xem tờ tạp chí của chúng tôi vi phạm vào điều khoản nào của luật kiểm duyệt để có thể biết số phận tờ báo. Chẳng hạn, chúng tôi phải ra tòa để chịu một hình phạt nào đó, như tạm thời đình bản có thời hạn hoặc vĩnh viễn. Nhưng sau một tuần hồi hộp và lo lắng, anh Cao Thế Dung lặng lẽ gõ cửa một vị tướng (hình như vị này là cố vấn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu).
Chúng tôi thoát một bản án.
Dù tờ Quần Chúng bị tịch thu đã xa rồi, từ 1970 đến nay là 2017, gần nửa thế kỷ, nhưng có một bài viết của Đan Hồ, một bút hiệu khác của Cao Thế Dung, in ở đầu tờ báo bị tịch thu. Bài báo có tên: “Hòa bình-Liên hiệp-Trung lập-Chống Cộng theo kiểu Mỹ”. Trước khi đưa ra quan điểm về một nền hòa bình cho Việt Nam, tác giả Cao Thế Dung cho biết cần có một cuộc vận động. Như : thức tỉnh toàn bộ các khối quốc gia trong cộng đồng dân tộc; thức tỉnh lương tâm các tôn giáo trước sự tồn vong của dân tộc; kêu gọi và vận động tích cực toàn thể lớp người trẻ trong và ngoài quân đội quyết tâm đứng lên đòi quyền sống và quyền tự quyết cho dân tộc…Phát động phong trào vạch mặt chỉ tên bọn tay sai ngoại bang dưới chiêu bài chống Cộng (vì quyền lợi địa vị) hay bọn chủ trương liên hiệp, trung lập do ngoại bang giật giây chỉ đạo.
Sau đó, Đan Hồ (Cao Thế Dung) cảnh cáo: “Một điều dễ hiểu, ta chỉ trông cậy vào Mỹ có ngày ta bị tận diệt.”
Đó là một lời tiên tri !
Liền sau bài của Đan Hồ là bài của hai tác giả: Hoàng Văn Đức (Bác sỹ) và Trần Minh Tiết (Chủ tịch Tối cao Pháp viện, nhiệm kỳ 1968-1974). Tựa đề bài báo: “Con Đường Hòa Bình Của ViệtNam Trong Thế Quân Bình Mới Của Thế Giới Và Đông Nam Á”. Hai bài báo đều nói đến hòa bình cho Việt Nam trái ý người Mỹ, vì mãi hai năm sau đó, 1972, Mỹ mới ký được một Thông cáo tại Thượng Hải. Mỹ đã có “Hòa bình” cho Việt Nam trong cái cặp mà Nixon-Kissinger mang về từ Hoa lục.
Sau trận Việt Cộng tổng tấn công vào dịp Tết Mậu Thân 1968, tôi phải ở lại trong đơn vị. Sau khỉ “xả trại”, tôi về nhà trọ ở khu Vườn Chuối thì chủ nhà đã xóa tên tôi trong sổ gia đình. Tôi trở thành kẻ vô gia cư. Anh Cao Thế Dung giới thiệu tôi với Sư huynh Tiến sĩ Mai Tâm, tên thường gọi trong dòng là Frere Gagelin, giúp ông trong việc làm tờ NS Giáo Dục, nhận bản thảo từ tay ngài, rồi đem xuống nhà in Xây Dựng do ông Đinh Minh Ngọc quản lý, sửa bản vỗ rồi ký tên để đưa lên máy in. Anh Cao Thế Dung không phải là người có thể làm những việc như thế này. Cho nên anh nhờ tôi làm.Từ chỗ này, Sư huynh Mai Tâm dành cho gia đình anh Cao Thế Dung và tôi, mỗi người một phòng trong trường của ngài, là Viện Khoa học Giáo dục, góc đường Nguyễn Tri Phương-Hùng Vương, quận 5. Sau này đổi thành Đại học Thành Nhân. Gần 10 năm gia đình anh ở tại đây. Mãi về sau, trước ngày Sài Gòn mất khoảng 1,2 năm gì đó, gia đình anh mới dọn ra ngoài. Còn tôi thì vẫn ở lại cho tới năm 1981, sau khi một nhân viên Sở Giáo dục thành phố, hình như là một anh “cách mạng 30” dùng súng nhỏ dọa tôi,,,nếu không dọn đi thì…


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét