MANG VIÊN LONG,
Cây bút truyện ngắn của những mảnh đời hẩm hiu
& những tình yêu dang dỡ.
Bài viết: HỒ SĨ DUY
BÀI III
Suốt một hành trình dài của lịch
sử từ 1945 đến 1975 và kéo dài thêm một thời của bao cấp, Mang Viên Long đã lần
lượt hiện thực những mãnh đời đau thương cùng những phận người trong cuộc bể
dâu chìm nổi ấy. – “Chờ Bão”, nói lên
một cuộc đời cùng khổ và quạnh hiu của lão giáo Truyện. Xuất thân từ một gia
đình giàu có nhất ở nông thôn, gắng học, đậu primaire trước 1945 rồi đi làm
thầy giáo hương thôn, lãnh lương 12 đến 15 đồng mỗi tháng, cuộc sống tương đối
ổn định. Nhưng rồi Việt Minh lên, cho dạy vài năm lại bị loại bỏ, vì thành phần
giai cấp,
Lão trở về cày ruộng và bắt đầu mắc phải bệnh phong thấp. Mùa lạnh,
cơn đau nhứt kéo dài trong cơ thể lão, nhưng lão phải “một mình ngồi co ro trên vọng gác ngoài bãi, với cái mõ, chiếc gậy dài,
cuộn dây dừa, để canh chừng tàu thủy đổ
bộ …” ( trang 96 sđd ) và “chiếc áo
tơi lá kè không sao cho nổi được những trận gió ào ạt, những con sóng to nổi
dậy, hung hãn mom men bò sát vọng gác, muốn cuốn phăng cái chòi tre cao lêu
nghêu, khiến lão sợ hãi, không thể nào
chịu được ”. Rồi lão làm đơn xin dạy bình dân để chấm dứt cuộc sống gác tàu
cơ cực ấy, nhưng không được chấp nhận. Bệnh thấp khớp của lão ngày một tăng,
lão đã trải qua bao khốn khổ để đi chữa
bệnh, nhưng “cơn đau nhức vẫn không buôn
tha cho lão”. Đình chiến 1954, lão bán
ruộng vườn để đi chữa bệnh bằng thuốc bắc. Rồi lão xin đi dạy học trở
lại. Rồi vợ lão chết, lão bỏ nghề dạy học, trở về với gia đình. Sống trong cảnh
gia đình con cái nheo nhóc, lão Truyện dạy học tư để kiếm sống và người con gái
tên Hữu, bán hàng ngoài chợ, nhưng buôn bán ế ẩm, chợ búa thưa vắng dần vì cuộc
sống mất an ninh. Chồng Hữu bị mất tích trong trận đánh ở Pleiku. Hữu có mối
tính vụng trộm với Thế - Thế, 26 tuổi cha mẹ đều chết, thoát ly năm 1967, tổ
trưởng du kích, trưởng mũi. “Đêm đêm Thế
thường về với Hữu, rồi cảnh sát xã về điều tra, rồi lính của quận đến bắt Hữu –
Hữu đi rồi, cuộc đời lão Truyện chỉ còn sự quạnh hiu. Từ ngày vắng Hữu, Huyện
mang cơm sang mỗi bữa cho Lão… “
Những bát cơm vắng vẻ, hiu quạnh như thu góp hết mọi nỗi quạnh hiu sầu thảm của
đất trời. Lão đã ăn âm thầm, lão đã khóc âm thầm. “Đời già, vắng con, vắng cháu, hỏi có lúc nào buồn hơn ? ” Lão rưng
rưng khóc mỗi bận ngủ dậy, nhìn dáo dác khắp nhà gọi “Hữu ơi, con ơi… ” mà không hề
nghe tiếng đáp ” ( trang 106 – 107 ).
Thật
là một cảnh đời u ám, buồn hiu và cô độc trong tuổi già của lão Truyện. Tuy
vậy, ta vẫn thấy có lúc lão được sống trong hồi tưởng như: một ánh hồi quang
chợt lóe lên, dù là một hồi tưởng trong bi thương: “Lão soi từng tia nhìn chung quanh vách tường, bàn thờ, bàn ghế, chõng
tre, móc áo, chiếc tủ, tấm tranh, câu liễn, cột hiên. Lão dừng lại nhìn đăm đăm
nơi chiếc trống treo lủng lẳng ở đầu hiên nhà. Chiếc trống lủng, chiếc trống
nhện giăng bụi phủ. Chiếc trống im lặng, chiếc trống đã chết. Nhìn sững sờ vào
chiếc trống đã bị phế bỏ, tự dưng lão nhớ tới những ngày còn đi dạy quá đỗi.
Tiếng trống xôn xao mỗi sáng sớm, mỗi chiều vàng, như bừng dậy rộn rã trong đầu
lão. Những ngày yên thân ở Đông Phước, những tháng buồn bã ở
Củng Sơn, những năm âm thầm dưới mái hiên
nhà bên đàn trẻ đen điu lam lũ… Tất cả những âm vang đó, trôi dần qua
trí lão, réo gọi bên tai lão với thật nhiều nỗi tiếc xót xa. Ta bây giờ như
chiếc trống mục đầu hiên, đâu còn âm vang của những sớm những chiều giục giã hân hoan? Bỗng lão nhắm nghiền đôi
mắt, nghe những giọt nước mắt nóng, chảy ròng trên gò má khô ”. ( trang 105
– 106 sđd )
Mang
Viên Long đã đưa người đọc vào một thế giới hồi tưởng của nhân vật trong tác
phẩm ông. Ở đây, không chỉ là sự hồi tưởng về một quá khứ xa xưa của ông giáo
già như lão Truyện, mà tưởng chừng còn là những hồi tưởng man mác trong tâm hồn
người đọc với một chút xót xa, băn khoăn, bồi hồi nhớ về một qúa khứ nào đó…
Chiếc trống ở đây, không chỉ là dụng cụ để tạo âm thanh, báo hiệu cho những giờ
đi học, những giờ vào lớp hay những buổi tan trường, mà tiếng trống còn là biểu
tượng cho linh hồn của cuộc sống học đường. Học đường có vang lên tiếng trống,
là có sự sống của nó, có cả sự linh hoạt của thầy, trò, của bạn bè và của tuổi
thơ sinh động, hồn nhiên, của tình thầy trò mến thương, thiêng liêng, ấm áp…
Đặc biệt những ai sống với nghề giáo,
rồi bị dỡ dang, khi đọc đoạn văn trên, chắc lòng không khỏi bùi ngùi trong cái
nhìn hoài tưởng, trong sự sống lại với hoài niệm về một thời còn đi dạy. Tiếng
trống đã trở thành hiện thân của một nỗi nhớ xôn xao, làm bừng thức bao kỷ niệm
, vui buồn của một thời quá khứ và đang réo gọi bên tai với thật nhiều nuối
tiếc xót xa. Và trong sự xót xa tiếc nuối ấy, Mang Viên Long đã để cho nhân vật
trong tác phẩm tự nhìn vào mình mà cảm nhận thân phận trong hiện tại, một thân
phận: “bây giờ như chiếc trống mục đầu
hiên, đâu còn âm vang của những chiều
giục giã, hân hoan…” ( trang 106
)
Rõ
ràng là một thân phận bi thương trong mảnh đời hẩm hiu, buồn tẻ. Mảnh đời ấy đã
làm cho lão Truyện phải “nhắm nghiền đôi
mắt” để nghe đau thương trào theo nước mắt chảy ròng trên đôi gò má khô !
Nhưng
rồi, đau thương cũng đã không dừng lại cho riêng cuộc đời của lão Truyện, mà
đau thương lại còn len lỏi các mạch sống của những mảnh đời bao kẻ khác. Nó trở
thành hệ lụy cho một kiếp nhân sinh, cho những cuộc đời cơ nhỡ, lận đận, bị bỏ
rơi, bị hất hủi của một thương binh. “Sau
75, nhiều người đã nhìn ngó vào khúc chân còn lại của anh như nhìn vào một điều
gì đáng ghê tởm. Nhiều lần gia đình Mân đã bị từ chối không cho nhận phần cứu
trợ, cấp cho gia đình nghèo vì không nằm trong diện “ chính sách” (trang
315 – 316 sđd). Vợ chồng Mân đã sống trong cảnh nghèo với nghề bỏ chổi cau,
chổi đót đem ra chợ bán. Cuộc sống kham khổ, nhưng lòng họ rất nhân ái, vì họ
cũng biết cưu mang cho những mảnh đời rách nát, già nua như ông Năm Bụng, như
Dì Dượng Sáu mà chia cơm xẻ cháo với họ. “Năm
Bụng sống một mình nơi góc phía sau hiên đình làng ”. Từ ngày vợ lão mất,
lão phải bán đi thửa vườn và ngôi nhà tranh còn lại để trả nợ. Trả nợ xong, “còn một ít để làm vốn kiếm ăn, thì đứa con
trai duy nhất của lão ở Sài Gòn về
hạch sách lão, rồi lấy hết khoản tiền còn lại mới chịu ra đi ” ( trang 312
sđd ). Lão Năm buồn, ngã bệnh, sống vất vưởng trong tuổi già, trong cô đơn,
nghèo khó. Còn lão Năm Kèn, trong ban tang lễ của đình, cuộc sống cũng chẳng gì
hơn lão Năm Bụng: “Cả hai, đều sống chui
đụt hai bên ngôi đình làng như đôi bạn chí cốt – như hai đám rong bèo tình cờ
trôi dạt vào chân cầu ” ( trang
312 sđd ).
Tình
cảnh vợ chồng Dì Sáu cũng thật đắng cay,
trước cũng thuộc loại khá giả trong thôn, có ruộng đôi ba mẫu, có vườn cây ăn
trái vài hecta. Sau 1975, giao ruộng cho HTX
để làm ăn theo lối tập thể, còn vườn thì “hiến” để HTX xây nhà kho. Cuộc
sống thu lại “ông Sáu xin vào làm cai
trường ”, “Dì Sáu hằng ngày với mẹt
bánh kẹo, cốc ổi, ngồi trước cổng trường, kiếm từng đồng bạc lẻ từ đám học sinh nghèo khó ”. Tuy vậy, Dì Dượng Sáu
vẫn cố gắng nuôi hai đứa con trai ăn học đến nơi đến chốn và có vợ, con, nhà
cửa ở Sài Gòn. Thế rồi một hôm, ông Sáu bị đột quị, cái chết tất tưởi, đột
ngột, khi “vẫn còn cầm trên tay cái dùi
đang đánh trống tan trường” (trang 313 sđd ). Rồi Dì Sáu vào Sài Gòn ở với
cậu con trưởng, với cô dâu và cháu nội, nhưng bị con dâu hất hủi, đã nhiều lần
nặng lời: “Bà có đủ thói hư tật xấu vậy – không thể sống chung với tôi được
đâu!... ”. Người con trai nghe lời vợ nói sang sảng ngay trước mặt mình
cũng chỉ im lặng. Dì Sáu chỉ biết gạt nước mắt đau thương! Đến với vợ chồng đứa
con thứ cũng bị con dâu từ chối, tìm cách đuổi khéo bà: “Mẹ liệu ở chơi vài hôm rồi về. Ở đây, sinh hoạt đắc đỏ, mà tụi con còn
phải lo cho con cái ăn học, chi phí nhiều, không gánh nổi thêm ai nữa ”. Dì
ngồi nghe mà nước mắt cứ rưng rưng – lòng điếng lặng, cảm thấy toàn thân như mềm nhũn đi, tan rã ra (trang
314 sđd).
Dì
Sáu lầm lũi trở về, sống cô độc trong căn nhà rách trước dột sau. Đó là những
mảnh đời hẩm hiu, mảnh đời bị dồn vào góc tối của xã hội, những ước mơ hụt hẩng
khi vào HTX để làm ăn tập thể, nhưng
cũng chẳng sáng sủa gì cho Dì Dượng Sáu mà chỉ đem lại một sự đổ vỡ vì đổi thay
nếp sống, đổ vỡ từ lòng người khi đi vào buổi giao thời giữa hai nếp sống, một
đàng là kinh tế tự do, một đàng là kinh tế chỉ huy theo lối XHCN. Trong thời
buổi ấy, cũng tạo ra sự giao thoa, sự nhiễu động trong nếp tư duy về cuộc sống
của con người, giữa giá trị tinh thần và vật chất, giữa giá trị truyền thống về
nhân bản, nhân văn hay sự khát khao về vật chất trong cái nhìn thuần vật chất,
xem đó như là cứu cánh cùng đích của con người, sau một thời gian dài của chiến
tranh, chết chóc, đói khổ, thèm khát vị thiếu thốn trăm điều. Sau 1975, đất được đã được thống nhất, nhưng lòng người
còn lắm ngổn ngang. Sự đổ vỡ từ tâm hồn đã kéo theo sự đổ vỡ của gia đình và xã
hội. Về mặt này, ngòi bút truyện ngắn của Mang Viên Long cũng đã xâm nhập vào một cách sâu sắc. Ngoài những
đứa con của Dì dượng Sáu đã quáng mắt vì tiền bạc, lợi danh, a dua thói đời,
chạy theo vật chất, quên cả công ơn của đấng sinh thành dưỡng dục, xa lánh mẹ
cha, từ bỏ trách nhiệm… Lại còn có “Một
Trường Hợp” thật điển hình như thằng Hùng trong gia đình ông Nguyễn chẳng
hạn: “Sau năm 1975, ông từ miền Bắc trở
về thăm quê và vợ con, sau 20 xa cách. Hai người con ông đã lập gia đình, vợ
ông đã có cháu nội, cháu ngoại. Bà vẫn sống với con, để chờ đợi ông, như lời bà
đã hứa lúc đưa ông xuống tàu. Ở lại với gia đình được một tháng, ông trở ra Bắc,
với một số lớn vàng, vợ ông và con ông góp cho, để ông “ thanh toán món nợ tình cảm dây dưa ở
ngoài ấy”, trước khi về sống hẳn với gia
đình trong này. Rồi năm năm sau, ông trở về, không một mình, mà với bà vợ sau
cùng ba đứa con. Vợ trước và con cái đều quyết không lui tới với ông nữa. Còn
ông cũng chẳng bước đến nhà họ, cho dù đó là kỵ giỗ cha mẹ của ông” (trang 287 sđd ). Với chức vụ
Trường phòng lương thực huyện, sau gần sáu năm làm việc, ông Nguyễn đã “mua
được đất”, “xây dựng nhà to ”. Có “xe cúp đời mới” – ông đã có đủ số tài sản
ấy, so với trong Nam trước đây, một công chức trung bình, phải làm trong thời
gian gấp ba lần.
Cuộc
sống vật chất của gia đình cán bộ như ông Nguyễn khá no đủ, nhưng cuộc sống
hạnh phúc gia đình của ông lại khá xáo trộn. Thằng Hùng, con trai ông rất hoang
nghịch, hỗn láo, đánh mẹ chửi cha, ăn chơi, xài phí, hoang đàn và bất trị. “Ông
Nguyễn hỏi: “Sao mày lại hỗn láo với mẹ mày thế ? – Bà ấy không phải là mẹ tôi - Hùng lớn tiếng cãi”. Nó vẫn ăn chơi, đàng
điếm, hết tiền thì lấy của nhà ra bán, từ chiếc đồng hồ “Oméga” của ông Nguyễn, sau đó là chiếc quần Jean, cái
bàn ủi điện… ” ( trang 290 sđd ). Ông bà Nguyễn định đưa nó ra chính quyền,
cho đi cải tạo, nhưng kế hoạch ấy không thực thi được. Có lần nó đã xô mẹ nó
lăn xuống nhà, trặc một cánh tay, va đầu vào tường thâm tím, rồi bỏ ra đi. Có
lần nó quay về, bố nó hỏi, nó lại lý sự
và dùng chiến thuật “lấy gậy ông đập lưng ông ”.
“-
Mày nói lý sự với tao à?
- Bố mẹ đã chẳng từng nói
với nhau: Ở đời nếu không biết lý sự, quanh co , thì không sống được“ hay sao ?
- Mày xô ngã mẹ mày trặc
một cánh tay, va đầu vào tường thâm tím như thế, mà không chịu xin lỗi, hỏi han
bà ấy một lời là thế nào?
- Ai đã sinh mày ra, nuôi
mày lớn lên, mà mày không nghĩ tưởng gì đến là sao chứ? Mày có phải là con
người không?
- Còn bố - Hùng quay phắt
lại – Bố đã nghĩ gì, làm gì cho cha mẹ của bố? Đến ngày cúng giỗ bố cũng chẳng
đã bỏ quên là gi?” (
trang 291 ).
Ông
bà Nguyễn rất đau buồn và âu lo vì có một thằng con phá gia: “Bao nhiêu tiền của trong nhà này, dần dần cũng từ tay Hùng mà bay đi – Biết làm
thế nào? - Trước tình trạng của một đứa
con hoang và bất trị như thế, ông bà Nguyễn đã phải nhờ đến sự giúp đỡ của
người em vợ ở Nam Định, vốn là một cán bộ quản giáo trong trại giam để có biện
pháp cải huấn cho thằng Hùng. Thế nhưng khi: “Hùng bước vào, mặt đỏ gay. Mùi
rượu bia bốc lên từ bộ quần áo nhàu nhò, thấm ướt mấy chỗ trước ngực ”.
- Hùng, cháu mới đi chơi về đấy à?
- À – Hùng quay lại. Tôi
đi chơi hay đi đâu thì có can dự gì đến cậu?
- Cháu dám trả lời cậu như
thế à?
- Có gì mà không dám !
Hùng đáp – Cậu chỉ tài quát nạt những người đã bị trói – Anh giận dữ chụp lấy
cánh tay Hùng.
- Cậu buông tôi ra hay
không thì bảo? Hùng chỉ tay vào mặt gã:
- Muốn yên thân trở về Bắc thì đừng có giở
trò lên mặt dạy đời nhé. Anh quát lớn: Mày không phải là một con
người. Mày chẳng có trái tim. Hùng bước về phía cửa, quay lại cười gằn:
- Hẳn các người có trái
tim chắc ?”
Mẫu
đối thoại trên, không chỉ phản ảnh thực trạng của một mảnh đời đổ vỡ từ lòng người sau cuộc chiến
tranh dài. Chiến tranh và chủ thuyết ngoại lại đã phân hóa đến độ cùng cực từ
cuộc sống ngoại tại đến nội tâm con người. Sự đổ vỡ của quê hương đất nước vì
chiến tranh, sự đổ vỡ của gia đình vì lửa đạn, vì nghèo đói, bệnh tật… đã đành,
mà sự đổ vỡ từ tâm hồn, từ ý thức luân lý, từ truyền thống văn hóa tốt đẹp ngàn
đời đã từng gắn liền với hơi thở, với nhịp sống của con người qua bao nhiêu thế
hệ, bổng nay bị sụp đổ, bị thay thế bằng chủ nghĩa ngoại lai, chủ nghĩa vật
chất, thực dụng, thứ chủ nghĩa vong bản cứ lăm le xâm nhập, phá hoại những gì
là tinh hoa của dân tộc, những gì là văn hiến của giống nòi. Đó là điều đáng
sợ, là mối đại nguy vì nó muốn tiêu diệt hẳn những trái tim ấm áp tính người
với những tình cảm thiêng liêng nhân ái, trong sáng ngàn đời của dân tộc để
thay thế vào đó những gì của vô cảm, của tham lam và của say mê, rung động theo
một chủ nghĩa vật chất ngoại lai nào đó… Đất nước đã thống nhất sau 1975, giang
sơn Việt Nam đã nối liền một giải, nhưng sau một cuộc chiến dai dẳng trên 30 năm (1945 – 1975), trái tim
của con người Việt Nam đã có sự rung cảm
theo nhịp bước thống nhất của giang sơn hay chưa?
-
Đây, ta hãy nghe những dư âm của những trái tim qua bao mảnh đời mà
Mang Viên Long đã chứng kiến:
Trong
cuộc chiến dai dẳng gần 21 năm, có những mảnh đời của những kẻ sống bờ, sống
bụi, trốn chui, trốn nhủi vì sợ phải vào lính để cầm súng bắn nhau, nên cuộc
sống của họ là cuộc sống bên lề xã hội, mặc dù cuộc sống ấy thật bấp bênh, thật
nguy hiểm và thật bất định, dành cho “đứa
con trai dở dang mọi chuyện, ngày đêm nằm co ở ven sông Đ.R. giữa bãi cỏ dài
dằng dặc ” (trang 412 sđd ). Tuổi
thanh niên trong thời tương tàn ấy thật khốn khổ đủ chuyện, bên nào cũng dành
lấy chúng để đặt súng vào tay, để trang bị chủ nghĩa vào óc. “Chủ nghĩa và súng đạn, đâu có cần cho cuộc
sống của chúng. Súng đạn đã ngụy trang, che chở cho những chủ nghĩa to lớn,
rỗng tuếch như những tâm bích chương, những tờ truyền đơn vất rải rác trong các
con hẻm xóm làng. Không ai đủ thanh thản để nhìn lên những tấm bích chương,
cũng như không đủ yên ổn để cúi xuống
những tờ truyền đơn nọ. Nhưng dù có sợ hãi, thản thốt, tránh né như lũ thằng Cường,
thằng Chí, thì cũng được đặt súng M16 trong tay, hay như thằng Hòa, thằng Minh,
hoặc con gái lão Thí, cũng phải mang sung AK, dao găm, lựu đạn… Khổ nỗi, bao
nhiêu năm trên đất nước này, người ta chỉ chăm chú tập luyện cho tuổi trẻ thân thiết, gắn bó với súng đạn…” (trang
416 sđd).
Đó
là thực trạng bi đát của tuổi trẻ trong thời chiến, khi mà họ không muốn chấp
nhận thân phận mà vẫn cứ bị đày ải vào thân phận. Khi mà những kẻ chủ chiến đã
biến họ thành công cụ của chiến tranh, khi mà những công cụ ấy, là những con
người đồng bào, đồng chủng mà phải cầm vũ khí của ngoại ban để giết nhau trong
cuộc chiến huynh đệ tương tàn, mà chủ nghĩa ngoại lai ác hại đã vào nhân danh
cho cuộc chiến ấy. Bản chất của chiến tranh phi lý là như thế, thân phận của
người dân Việt trong chiến tranh khốn cùng, đau thương, bi đát là như thế.
(Còn tiếp)
HỒ SĨ DUY

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét