MANG VIÊN LONG,
Cây bút truyện ngắn của những mảnh đời hẩm hiu
& những tình yêu dang dỡ.
Bài viết: HỒ SĨ DUY
BÀI IV
Ngòi bút của Mang Viên Long đã lột
tả một sự thật của tâm thế con người trước nỗi buồn chiến tranh, muốn giã từ vũ khí, giã từ những gì
điêu linh, chết chóc và khổ đau, do chiến tranh gây ra, do chủ nghĩa ngoại lai
áp đặt và do cả hận thù được đào bới lên từ lòng người. Đó là những nét đặc thù
nhất của chiến tranh Việt Nam
trong thế kỷ vừa qua, và đã làm xuyến xao bao nhiêu lương tâm của con người
trên thế giới.
Nhưng
rồi, chiến tranh cũng đã qua, và nỗi buồn vẫn còn đọng lại. Những “Mùa Thu Trống Trải ”, hắt hiu, đã nhạt
nhòa cái buồn dằng dặc của con người
trong trong cuộc chiến, thì “Một Thời Để
Thương Yêu ” của Khánh và Kha cũng bâng khuâng trong nét ngậm ngùi dài…
Tình yêu sắt son, chung thủy của Khánh và Kha
sau thời điểm 1975 đã đi vào khúc ngoặt của cuộc đời: Kha là sĩ quan
quân đội của chế độ miền Nam Việt Nam, sau 1975 phải đi học tập cải tạo nơi núi rừng hiểm trở, rồi bị bệnh nặng.
Khánh vợ của Kha, một người vợ rất mực yêu thương son sắt với chồng, đã lên
rừng núi gian nguy để thăm nuôi chồng, chăm sóc lúc chồng bị bệnh. Khi Khánh
trở về nhà, nàng bị sốt ác tính, vào thời buổi bao cấp, không đủ thuốc men để
chữa trị, nên nàng đã trút hơi thở cuối cùng! Câu chuyện đơn giản nhưng cũng
khá thương tâm! Có lẽ nỗi thương xót ngậm ngùi trong lòng Kha càng hằn đậm “Một thời để thương yêu ” và Mang Viên
Long, đã làm sáng lên khuôn mặt của một người vợ tuyệt đẹp với tấm lòng sắt
son, nhất mực yêu thương chồng, bất chấp cả gian nguy, dù phải hy sinh đến tính
mệnh.
Nhưng,
cũng trong thời hậu chiến (sau 1975), bên cạnh khuôn mặt của Khánh, một người
vợ thủy chung, trung hậu, đảm đang thì cũng có một khuôn mặt bạc nghĩa, phụ
tình như Thảo – Thảo là hôn thê của Vĩnh, Nguyễn Thế Vĩnh, một sĩ quan của chế
độ cũ, sau 1975 đã bị đi cải tạo ở trại tập trung, vùng núi cao nguyên trung
phần. Vĩnh và Thảo đã yêu nhau, thuở ấy Thảo còn đang học sư phạm. Tháng 7 năm
1974, Thảo và Vĩnh đã làm lễ đính hôn và hai bên hứa hẹn sẽ làm lễ cưới vào
ngày 1 tháng 5 năm sau. Nhưng rồi mọi tình thế đã đổi khác; sau 30 – 4 – 1975,
Vĩnh đã phải vào trại tập trung cải tạo. “Cha
của Thảo tập kết hoạt động ở chiến khu về, đang làm phó chủ tịch UBND cách mạng
tỉnh. Thảo ra trường được phân công dạy ở thị xã, sau đó vài tháng là đám cưới
– chồng Thảo đang làm Trưởng phòng giáo
dục thị xã ” ( trang 208 sđd ). Thảo bỏ Vĩnh đi lấy chồng. “Vĩnh đã sống trong buồn đau của kẻ chiến
bại trong cuộc đời và cả trong tình yêu” (trang 206 sđd ). Vĩnh đã bàng
hoàng trong nỗi thất vọng và phũ phàng – ước mơ một ngày hòa bình được giải
ngũ, trở về bên gia đình, vợ con để viết lại những gì cần viết cho mình, cho
người, đã bao lần thì thầm với Thảo. nay thật xa lạ, mịt mờ trong đầu óc Vĩnh,
và đôi lúc “nó làm anh khiếp đảm, sợ hãi,
không dám nghĩ tới nữa. Nó tan biến dần, thế vào bằng một nỗi ê chề, rã rời…”
(trang 207 sđd). Đó là tâm trạng bi quan của một tên tù nhân như Vĩnh, một tâm
trạng thất vọng của một kẻ “chiến bại
trong cuộc đời và cả trong tình yêu”.
Ngày Vĩnh được phóng thích là niềm vui lớn cho đời anh, cũng như mọi bạn tù như
anh. Nhưng Vĩnh đã thấy rằng anh chẳng còn gia đình nào để trở về, chẳng còn
biết nơi nào để dừng lại. Mọi tình thế không còn như cũ nữa, thậm chí Vĩnh ghé
vào nhà của người anh ruột, cũng bị ông anh và bà chị dâu ghẻ lạnh: “Họ không
mời Vĩnh ở lại, họ đều nhìn Vĩnh với ánh mắt lạ lùng, cả bốn con mắt ấy,
không tỏa ra một chút sinh khí vương
vấn nghĩa tình nào. Nó lạnh tanh, cứng đờ… ”. ( trang 209 sđd ). Vĩnh bước
ra khỏi nhà người anh và dọc phố chạm mặt người quen, nhưng chẳng ai chào hỏi
anh một lời, anh lầm lũi bước đi, lòng mênh mang buồn và tình cờ dừng lại trước
nhà một người bạn là một nhà thơ, Vĩnh ghé thăm, nhưng nhà thơ cũng lạnh lùng
dấu mặt! Đó là cảnh nhân tình thế thái trong bức tranh đời tàn của một sĩ quan
thuộc chế độ cũ như Vĩnh. Đó cũng là nỗi buồn hiu của một kiếp người do “thời
thế, thế thời phải thế!”. Vĩnh đi vào Sài Gòn vì đã không chịu nỗi cái không
khí lạnh lùng, xa lạ ngay trên quê nhà của mình. Vĩnh bắt đầu đi vào cuộc đời
tạm trú, từ tấm giấy xin tạm trú ba tháng mà anh xin được từ địa phương. Vào
lang bạt ở Sài Gòn, tình cờ nơi quán cafe, Vĩnh lại gặp một người cũng tạm trú.
Đó là cô gái vừa tròn 28 tuổi, năm 1973 tốt nghiệp Đại học sư phạm Sài Gòn, đã
có chồng và một đứa con gái. Giữa năm 1978, hai người anh của cô ở Nha Trang đã
vượt biên. Cuối năm ấy, cô bị cho nghỉ việc. Năm 1980, nghe theo lời người cha
đang công tác ở tổ chức tỉnh, chồng nàng yêu cầu nàng ký vào đơn ly hôn. Cuộc
ly hôn đã diễn ra nhanh, gọn và hợp pháp. Nàng phải xa chồng, ẵm con về quê,
vĩnh viễn rời bỏ cuộc sống an lành đã bao năm gắn bó. Nàng đã một thân bơ vơ,
ẵm con vào Sài Gòn kiếm sống, nhất là để xa nơi “đã từng ghi dấu bao kỷ niệm
một thời son trẻ hạnh phúc của đời con gái”. Thế là một cuộc sống hẩm hiu
bắt đầu một cuộc tình dang dở. Sài Gòn bấy giờ đã trở thành miền đất hứa cho
những người tạm trú, những con người cơ nhỡ, dở dang trước cuộc đời. Và cuối
đời, nói như Mang Viên Long thì “cũng chỉ
là một nơi tạm trú thôi ” ( trang
213 sđd ). Có lẻ ý tưởng ấy được thoát thai từ tư tưởng của triết lý Nho, Phật,
Lão và nó cũng là một trải nghiệm thực tế cho những con người thuộc chế độ cũ
của Nam Việt Nam đã sống sau giai đoạn 1975. Vẫn biết rằng đời là một cõi tạm
và con người sống trên đời này cũng chỉ là những kẻ tạm trú, kể cả những ai đã
nhân danh của quyền lực nào đó mà tác oai tác quái với con người. Cái thực tại
của xã hội Nam Việt Nam
sau 1975, vẫn là một thực tại xót xa đổ vỡ, ngổn ngang và ray rứt trong lòng
người. Thực tại ấy cũng phi lý, cũng hẩm hiu, cũng nghiệt ngã cho số phận con
người, dù rằng chiến trang đã đi qua, nhưng nổi “trùng trùng duyên khởi” của đau buồn vẫn chưa chấm dứt, những kiếp
sống dở dang đang mơ về một mùa xuân, nhưng “mùa xuân còn ở trên cao”!.
Những
mảnh đời lận đận, “tay làm hàm nhai” như ông Nhương , như Lão Nhện trong “Phố Nhỏ Những Ngày Mưa” hoặc như lão Năm Bụng, Năm Kèn với cuộc đời
“bần cố”, sống trôi dạt trong ngôi đình làng, sống hẩm hiu với đói nghèo và
bệnh tật và kể cả cuộc đời đắng cay của đôi vợ chồng già: Dì dượng Sáu. Rồi
“Điều Bất Ngờ Đã Đến” – với câu khẩu hiệu: “Đông đồng tan chợ” được nhắc đi
nhắc lại nhiều lần trong các cuộc họp “ phố xá chợ búa đều vắng hoe”. “Cuộc sống vẫn ngột ngạt, lận đận, khó khăn, lại thu hẹp quanh quẩn ở trong nhà,
trong vườn, ngoài ruộng, chậm chạp và
đều đặn trong nỗi cam chịu âu lo ”. ( trang 371 sđd ). Để kiếm sống qua
ngày, vợ chồng Trương và Khải cùng mấy đứa con dại, đã làm cái nghề vặt vãnh để
thay vào cái việc làm vườn nhỏ lẻ không sống nỗi. Trương đã dừng ngay công việc
làm vườn, để chú tâm nắn những con gà đất, những con ve ve, những chiếc trống
rung… làm những đồ chơi vặt vãnh cho trẻ con, để vợ đem ra chợ bán, kiếm chút
tiền còm mà sống qua ngày. Thế rồi Khải, vợ Trương, khuyên chồng bán nhà ra đi,
vì cha Khải đã bảo với nàng rằng:
- “Chồng mày là lính ngụy, còn mày không có nghề nghiệp, không về quê sản
xuất, thì mày hãy thu xếp đi kinh tế mới ”. Chú nàng còn cho biết thêm: “Nay
mai, trong thành phố, thị xã sẽ khó có một người dân thường nào
được ở cả - nhất là đám ngụy quân, ngụy quyền ”… ( trang 373 sđd )
Khải “mù mờ không nghĩ ra lối thoát giữa bao đổi thay mới lạ, khắc nghiệt, càng ngày càng dồn ép, thúc giục
”… Về sau, nhất là khi biết tin cha mình đã trở về Bắc với vợ và con riêng của
ông, Khải buồn tủi vô cùng. Ông đã mang gần như toàn bộ số vàng bán nhà ra đi,
không về quê thăm vợ chồng nàng lần cuối như đã hứa. Nghĩ đến quãng thời gian
đằng đẵng hai mươi năm, mẹ nàng đã dời chỗ ở hơn mười lần để tránh bom đạn và
sự truy xét, quản thúc của chính quyền thôn xã, hai lần bà cạo trọc đầu để cầu
nguyện cho chồng được bình yên trở về với vợ con, làng xóm, Khải không khỏi đau
đớn, thất vọng. (trang 373 sđd)
Nỗi “đau đớn, thất vọng” ấy, không
riêng gì Khải đã nếm trải mà nó gần như
là nỗi “bạc mệnh” cho số phận của những người đàn bà có chồng đi tập kết, xa
cách hai mươi năm như mẹ Khải đã phải chịu đựng bao nỗi khóc, cười dở dang, bao
nhiêu là đau thương thầm lặng, bao điều nguyện cầu thiết tha, bao nhiêu hy vọng
trong ước mơ để rồi tuyệt vọng trước thực tại phũ phàng. Và cái thực tại phũ
phàng ấy vẫn còn đeo đẳng, và ám ảnh cho số phận của cô giáo 28 tuổi đi bán
café trong truyện “Những Kẻ Tạm Trú ”,
cũng như số phận bẽ bàng của Thương: “Chim
Bay Về Đâu ”!. Có ai khi đọc đến những mẫu chuyện trên của Mnag Viên Long
mà lòng không cảm thấy xót thương cho thân phận của những người đàn bà trong
nỗi đau “bạc mệnh” như thuở xa xưa cụ Nguyễn Du đã để cho nàng Kiều kêu lên nỗi
đau ấy: “ Đau đớn thay phận đàn bà – Lời rằng
bạc mệnh cũng là lời chung”!
Cuộc sống của miền Nam lúc bấy giờ
cũng đang “Tiến nhanh tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” như lời
hô hào của Tổng Bí thư Lê Duẫn, do đó đã cuốn hút vào những đợt cải tạo: Cải
tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, cải tạo sản xuất, cải tạo nếp sống cũ,
cải tạo ngụy quân ngụy quền vân vân và vân vân…
Con người được đặt dưới những cái
nhìn: Cái nhìn của lý lịch ba đời, cái nhìn của những sự nghi kỵ, cái nhìn của
phân biệt đối xử tùy theo thành phần được phân loại: ngụy quân, ngụy quần, vượt
biên, người hoa… hay gia đình công nhân viên chức nhà nước, gia đình thương
binh liệt sĩ, gia đình có công cách mạng.v.v.. Vấn đề cư trú của người dân cũng
được đặt ra, được qui định rõ rệt cho những ai được ở thành thị và những ai
không được sống ở đó, như lời của cha và chú của Khải đã nêu. Rồi những phong
trào đi kinh tế mới, phong trào thanh niên xung phong xây dựng nông thôn mới,
phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, phong trào xây dựng nếp sống văn hóa mới…
liên tục được nổ ra. Bên cạnh những điều ấy, ta cũng thấy có những tình huống
xảy ra mà đã được Mang Viên Long ghi nhận một cách sinh động và sâu sắc:
Thương và Luân yêu nhau, mối tình
thật êm đẹp trong bối cảnh của xã hội và quê hương Nam Việt Nam . Thương học sư phạm, Lận là
chàng sinh viên trường luật. Họ gặp nhau một chiều trên bãi biển cùng đuổi bắt
những con còng với bạn bè. Tình yêu đã đến với họ từ ấy. Sau đó không lâu, họ
đã tốt nghiệp và làm đám cưới. Sau 1975, Thương là cô giáo phổ thông cơ sở ở
thị trấn, Luân làm phó Bí thư huyện Đoàn. Cuộc sống của họ “trôi qua êm ả, so với gia đình nhiều người đang bắt đầu những xáo
trộn, đổi thay. Cuộc sống cũ trong hơn hai mươi năm, cùng với chín năm kháng
chiến chống Pháp, đang bị xốc lên,
sàng lọc ” ( trang 386 sđd ). Ông Bảo, cha Luân tập kết từ Bắc về, đang
công tác ở huyện lỵ. Thương, vợ Luân, có hai người anh vượt biển, đang sống ở
ngước ngoài. Ông Bảo xét thấy lý lịch của Thương không tốt, vì có anh ruột vượt
biên, nên quyết định chấm dứt cuộc hôn nhân của Luân và Thương. Buộc họ phải ly
dị và ra tòa giải quyết nhanh gọn. Thương lặng lẽ bồng con về với cha mẹ nàng, rồi ở đó cũng bị chính quyền xã
gây khó khăn. Nàng lìa xa cha mẹ, ra đi trong đau đớn và để lại một bức thư giã
từ cùng với đứa con của nàng tạm gửi bố mẹ trông nom. Thế là một cuộc tình dang
dở, một cảnh đời bơ vơ và một số phận hẩm hiu trút xuống thân phận của người
thiếu phụ “chim bay về đâu”. Những mẫu chuyện thương tâm như trường hợp của Khải, trong “Điều Bất Ngờ Đã Đến”, của
Hiên, trong “Bên Trời Mơ Ước ” và của Thương, trong “Chim Bay Về Đâu ”, đã không kém gây nỗi xuyến xao trong lòng người
đọc. Đó là những câu chuyện sống thực, của cay đắng và phủ phàng, của nhẫn nhục
và khổ đau, của âm thầm và lặng lẽ cam chịu bao bất hạnh của cuộc đời như Khải,
như Hiên, như Thương, như Khánh… Họ đều là những thiếu phụ, những người mẹ,
người vợ luôn yêu thương và lo lắng cho chồng, cho con, cho gia đình. Họ là
những người luôn tảo tần vì cuộc sống, vì tinh thần trách nhiệm cao, biết hy
sinh cho chồng, biết chấp nhận nguy nan như Khánh, biết chịu thương chịu khó
như Hiên, luôn chăm sóc và an ủi chồng, một người chồng thương binh, tàn tật
như Khải, đã được hạnh phúc sống bên cô vợ người Nam, bé nhỏ, thật thà, nặng
tình, nặng nghĩa đã thực sự an ủi, vỗ về đùm bọc anh. Nhưng đau thương vẫn
không từ bỏ họ, những đổi thay của thời cuộc, những hạn chế của sự sống, những gò
bó của một nền kinh tế chỉ huy, và một chế độ quan liêu bao cấp đã không tránh
khỏi bao sự phán xét nghiệt ngã về con người, kể cả sự phán xét của một “Thúc
ông” thời hiện đại trước bản lý lịch của con dâu ông. Tình yêu chồng vợ và hạnh
phúc gia đình của Thương và Luân đã bị vỡ tan dưới sự phán quyết của ông Bảo,
một “Thúc ông ” của thời đại lý lịch. Một cánh chim lìa đôi, lìa tổ như Thương
không biết bay về đâu, đang bơ vơ giữa bầu trời vô định. Đó là số phận tình yêu
bị chia xa vì lý lịch. Lý lịch như một bức tường vô hình đã ngăn cách giữa con
người và con người, giữa trái tim tình yêu và “nhân tình thế thái”. Niềm đau
của sự cách ngăn ấy đã làm cho Thương “không
khóc, nhưng những giọt nước mắt cứ chảy ràn rụa quanh mặt. Thương phải đưa tay
lên gạt lau nhiều lần ” (trang
390 sđd). Thật là một nỗi bi thương cho thân phận của một thiếu phụ như Thương.
Nhưng ở đây ta còn thấy Luân, chồng Thương, cũng là người trong cuộc. Đặt dưới
sự phán quyết của ông Bảo, Luân đã làm đơn ly hôn vợ theo lời thúc dục của cha,
không một chút do dự, không một lời phản đối. Thái độ ngoan ngoản của chàng
“Thúc sinh thời đại” ấy, cũng chỉ là kẻ giá áo túi cơm, tham mùi phú quí lợi
danh chăng?! Người đọc không tìm được ở đây một nét phản kháng nào để chứng tỏ
là một người chồng biết bảo vệ tình yêu chồng vợ, bảo vệ hạnh phúc gia đình
mình. Từ góc độ so sánh, ta có thể liên tưởng đến Hùng: “Có Một Trường Hợp” là con trai của ông Nguyễn và Luân: “Chim Bay Về Đâu”, là con trai của ông Bảo. Cả Hùng và Luân đều có điểm
chung là cùng có cha đi tập kết ở Bắc về sau 1975. Tuy nhiên Hùng có một cách
nhìn đời khác hẳn với Luân. Hùng ngang tàng, biết lý sự với cha, với cậu biết
phân tích và nhận định sự việc và biết phản kháng trước vấn đề mà mình đã tư
duy, dù rằng Hùng là một đứa con hoang phí của cải cha mẹ. Còn Luân cũng là con
của một cán bộ tập kết về, nhưng Luân công tác tại huyện Đoàn với chức Phó Bí
Thư. Luân ngoan ngoản nghe theo lời cha bao nhiêu thì Hùng lại ngược ngạo với
cha bấy nhiêu. Luân làm theo lời cha là chối bỏ hôn nhân và hạnh phúc riêng tư
của mình, thì Hùng lại đem lời nói của bố mình ra để chứng minh, mà lý sự với
ông: “Bố mẹ đã chẳng từng nói với nhau: Ở
đời nếu không biết lý sự quanh co thì
không sống được hay sao? ” Có thể người đọc sẽ không khỏi ngạc nhiên về sự
trái nghịch nhau giữa tâm tính và cách nhìn đời giữa Hùng và Luân. Một bên thì
sôi động, phản kháng và bất tuân, còn một bên thì lặng lẽ và ngoan ngoản tuân
theo.
Tại sao vậy? – Xin thưa: Có lẽ Mang
Viên Long muốn vẻ lên hai khuôn mặt của hai người con đều có cha đi tập kết,
nhưng một người thì được ra đời từ lòng mẹ phía bên kia bờ “Bến Hải” và cũng đã
được nuôi dưỡng, học tập, lớn lên từ nơi ấy. Còn một người thì được ra đời từ
lòng mẹ phía Nam từ “Bến Hải” , lúc lên hai tuổi, cha ra đi tập kết ở bắc, mẹ ở
lại trong Nam đã nuôi Luân khôn lớn cho đến ngày cha trở về. Đó là hai hình ảnh
trong một thế hệ cuộc đời, mà Mang Viên Long muốn đưa ra thành hình tượng nhân
vật tượng trưng trong tác phẩm của ông để cho người đọc nhận thức… Mang Viên
Long đã nhìn thẳng vào thực trạng của cuộc sống ở miền Nam Việt Nam
sau 1975 để hình thành bức tranh của thời thế thế thời. Sự cúi đầu lặng lẽ với
tâm trạng lạnh lùng nhận chịu sự khổ đau, mất mác hơn là sự phản kháng trước
thực trạng phi lý, bất công và bất cận nhân tình như thế, chỉ đem lại một dập
vùi cho thân phận người phụ nữ như Thương. Tình yêu đôi lứa của Thương và Luân
đã không còn “như chim liền cánh, như cây liền cành” nữa và “La mour c’estun
rêve” (tình yêu là một giấc mộng), nhưng lại là
giấc mộng bẽ bàng của Thương và Luân.
Rồi thời gian vẫn trôi, dòng đời vẫn
biến đổi, con người trong cuộc sống vẫn có lúc “ngẫm lại sự đời” như câu chuyện
“Bên Tách Trà Khuya” giữa ông Thạch
và ông Cổn. Đó là cả một nỗi niềm của những kẻ đã “trải qua một cuộc bể dâu”.
“Cuộc bể dâu” là một biến trình, làm cho cuộc đời ông Cổn đổi thay từ trẻ đến
già. Từ ngày xa quê đi tập kết 1954 đến ngày trở về 1975 và cuồi cùng, cuộc đời
còn lại “như bóng tà cuối thôn”. Đây, ta hãy nghe cái tâm sự buồn tẻ và ngậm
ngùi của ông:
“ Ngày đi có vợ, có con,
Ngày về, vợ đã chẳng còn bên ta!
Con thì phiêu bạt phương xa…
Đời ta còn lại bóng tà cuối thôn!
Nhớ thương da diết mõi mòn,
Tìm đâu ngày cũ ? nước non dặm dài ” ( trang 239)
Đời còn lại của ông Cổn thật già nua, buồn tẻ như cái “bóng
tà cuối thôn”. Còn cuộc đời của ông Thạch, nguyên là một sĩ quan của chế độ Sài
Gòn, sau 1975 cuộc đời ông cũng chẳng tươi sáng gì hơn. “Chuyện hai hoa mai vừa nở
trên ve áo ông, thì đã sớm héo tàn từ năm xưa rồi ”. Nhưng cái hậu quả để lại cho con cái ông vì lý lịch, có cha là sĩ quan
của chế độ cũ, nên con “học sinh giỏi văn cấp tỉnh” không bước vào được ngưỡng
cửa đại học. Nên cô con gái ông không ngớt phiền trách cha… Ông biết nói gì với
con về cái quá khứ dài dặt và bất hạnh mà ông (và bạn bè ông) đã phải trải qua ? ( trang 236 sđd ) – “ Nghĩ mà buồn
” ! Đó là nỗi buồn của thời thế, của đất nước và của lịch sử đã tạo nên cho đôi
bạn già đồng hương và là bạn cùng học một trường, thuở còn là học sinh trung
học, rồi kẻ đi tập kết ra Bắc, người ở lại trong Nam. Sau 20 năm cách xa, họ
được đoàn tụ tại quê nhà, để rồi có dịp ôn lại những gì về cuộc đời họ. Cuộc
đời ấy, theo họ: “là một giấc mộng” mà con người đang đi vào đời là “những kẻ
đang say”. Và “ kẻ đã say” thì không bao giờ nhận ra được ý nghĩa của cuộc đời.
Rồi “đêm lặng lẽ trôi. Mặt trăng thu 21
chênh chếch, lơ lửng, góc trời phía đông, trông lạnh lẽo. Tiếng gà buâng quơ,
chợt gáy đơn độc từ góc vườn nhà người bạn như tiếng thở dài – Tắt lịm ” 9 trang 242 sđd
(Còn tiếp)
HỒ SĨ DUY

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét