Thứ Bảy, 16 tháng 9, 2017

MÙA THU VIỆT NAM
Hoàng Long Hải



 Tôi muốn nhắc lại đây một mùa thu rất xưa, bài Vnh Thu ca bà Ngô Chi Lan:
                  
                   Gió vàng hiu hắt cảnh tiêu sơ
                   Lẻ tẻ bên trời bóng nhạn thưa
                   Giếng ngọc sen tàn bông hết thắm
                   Rừng phong lá rụng tiếng như mưa
                              (Ngô-Chi-Lan/ Vịnh Thu)

        Kể từ bài nầy cho đến những bài tả cảnh thu về sau như trong truyn Kiu, Chinh Ph Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc, Hoa tiên, v, v... bài nào t cnh thu cũng hay nhưng rước l, nghe như có v là thu bên Tàu: Cógiếng ngc (ngc tnh), có lá ngô đồng, có rng phong, có bóng nhn. v v... Ngay c nhng tác phm thi ca lãng mạn, cũng không hoàn toàn thoát khỏi những ước lệ đó.
Ví d như trong thơ Hàn Mc T ta thy:

                   Vội vàng chi lắm nhạn lưng mây

          Hoặc:

                   Trước sân anh thơ thn,
                   Đăm đăm trông nhạn về
                                      (Gái quê)

          Vậy trong văn thơ Việt Nam, không có mùa Thu Việt Nam chăng?
          Bạn đọc hãy đọc ba bài sau đây của Nguyễn Khuyến:

                   THU ĐIẾU
                   (Mùa thu câu cá)
                   Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
                   Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
                   Nước biếc theo làn hơi gn tí
                   Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
                   Tầng mây lơ lng tri xanh ngt
                   Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
                   Tựa gối ôm cần lâu chẳng được
                   Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo

                   THU VỊNH
                   (Vịnh cảnh thu)
                   Trời thu xanh ngắt mấy từng cao
                   Ngõ trúc quanh co gió hắt hiu
                   Nước biếc trông như tng khói ph
                   Song thưđể mc bóng trăng vào
                   Mấy chùm trước giu hoa năm ngoái
                   Một tiếng trên không ngỗng nước nào
                   Nhân hứng cũng vừa toan cất bút
                   Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

                  THU ẨM
                  (Mùa thu uống rượu)
                   Năm gian nhà cỏ thấp le le
                   Ngõ tối đêm khuya đốm lập lòe
                   Lưng giu pht phơ làn khói nht
                   Làn ao lóng lánh bóng trăng loe
                   Lưng tri ai nhum mà xanh ngt
                   Mắt lão không viền cũng đỏ hoe
                   Rượu tiếng rng hay hay chng my
                   Độ năm ba chén đã say nhè.

          Nguyễn Khuyến mô tả ba cái thú vui đặc biệt của người Việt trong mùa thu: câu cá, uống rượu và làm thơĐó là nhng thú vui thanh cao ngày xưa. Câu cá là thú vui cô đơn. Veo là mt vn nghèo (ít ch), li khó gieo. Cnh câu cá ở đây là mt cnh rt quen thu min quê nước ta, nht là vùng trung châu Bc b và vùng quê Trung b, vùng có nhiu h ao. Đây là ao làng, nơi dân làng có th ra đó tm git, ly nước. Cnh Nguyn Khuyến mô tả ở đây như mt bc tranh quê Vit Nam. Nhng chi tiết trong tranh đơn sơ, gin d, bình thường. Hình ảnh cũng như màu sc rt quen thuc. Mt chiếc thuyn câu trên mt ao màu xanh. Phi là thiên tài mi vẽđược cái lnh lo trên mt h thu; mt nước lăn tăn sóng (gn tí), có chiếc lá vàng (tương phn mt h xanh) bay nhanh trên mt nước (đưa vèo). Bu tri xanh ngt, vt ngang qua đó là my tng mây.

          Để tiện lấy nước sinh hoạt, làng quê Việt Nam thường nm bên mt con sông hay mt h nước. Do đó, ngi trên h, tác gi thy cái ngõ làng quanh co, vắng bóng người. Tt c hình ảnh trên, rất thường th min quê Vit Nam, ngay c cái ngõ trúc cũng không lạ gì với chúng ta. Những ngườ thành ph cũng có th thy ngõ làng qua “Xóm Giếng Ngày Xưa ca Tô Hoài:
          Những hình ảnh đó vắng, buồn và lặng lẽ; lặng lẽ đến nỗi tác giả nghe được cả tiếng cá lâu lâu móng nước dưới chân bèo. Âm thanh và màu sắc được phối trí rất hài hòa. Thi sĩ không cần sáng tạo vì âm thanh đó, màu sắc đó là những cái rất tự nhiên ở làng quê. Cái tài của tác giả là nhận xét và phô diễn ra bằng lời. Cái tĩnh lặng của miền quê Việt Nam là cái tĩnh lặng của cuộc sống, của thiên nhiên cả ngàn năm không có gì thay đổi trước khi có cuộc “Cách mạng mùa thu”, tiếp sau là cuộc “Cải cách ruộng đất” mà tiếng than khóc và máu đỏ tuôn ra tương phản với không khí tĩnh lặng của ruộng đồng, các lũy tre làng êm ả.

          Bài “Thu Vịnh” vừa tả cảnh vừa tả tình. Đó cũng là cảnh thu Việt Nam, một cảnh thu ở miền quê giống như bàThu điếu. Tri xanh cao, ngõ xóm vắng vẻ, gió thổi nhẹ (hắt hiu), cửa sổ mở cho bóng trăng chiếu vào (song thưa). Mc là ch nôm (Song thưđể mc) đưa vào thơ khó hay. Tuy vy, sau ny Thế L li dùng cũng khá hay (“Đim nhiên mc k con người v vn, Khách Chinh Phu). Trước hàng rào, li thy my chùm hoa n. Hoa ny năm ngoái n ri, nay li n. Chữ “năm ngoái biu l mt s gn gi thân quen, mt c nhân, làm người ta nh câu thơ ca Thôi H (“Đào hoa y cựu tiếu đông phong”) mà Nguyễn Du diễn ý đó trong Kiều là “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
          Hoa thì biết rồi, năm ngoái, như cũ, nhưng ngỗng thì không biết từ nước nào bay ti. Nguyn Khuyến gi nôm na là ngng, không văn chương như các nhà thơ làm thơ ước l, gi là nhn, là hng.
          Trước cnh thiên nhiêđẹp mt cách đơn sơ, gn gi và gi tình như thế, tác gi tính làm thơ, vài câu ngu cm nhưng li h thn vĐào Tim, nhà thơ Trung Hoa ni tiếng. Đó là s khiêm nhượng chăng, ch xem ra c ba bài thơ t cnh thu công, người ta khó ph nhđó là tuyt tác.

          Xin trở lại vần “oe” hay “e”, hai vần nầy hơi ging nhau, đi vi nhau cũng được, là mt vn nghèo, như đã nói trong bài “Thu Điếu”. Phải là người có tài mi gieo vn nhanh khi dùng vn ny. Bài th ba có vài ý mâu thuẫn nhau. Mới đọc, người ta tưởng tác giả tả cảnh thu về đêm. “Ngõ tối đêm khuya đốm lập lòe”. Trời tối mới thấy đom đốm lập lòe trong ngõ. Nhưng tiếđó câu ba, Nguyn Khuyến li viết: Lưng giu pht phơ làn khói nht. Phi tri còn sáng mới thấy làn khói nhạt bay lên, hơi sương bay lên thì đúng hơn, tương tự như “Yên ba giang thượng vy. Phi tri ti mi thy bóng trăng loe dưới ao (Làn ao lóng lánh bóng trăng loe), nhưng tiếđó li là cnh ban ngàDa tri ai nhum mà xanh ngt. Chc chn cnh ny không phi là cnh sáng hay trưa, mà chiu hay chp chong, chng vng, hoàng hôn. Lúđó, ngõ tre thì đã tối lắm, có thể tối như lúđêm khuya. Xem li bài  “Xóm Giếng” như tôi nó trước, độc gi có th hiu, nht là ai tng sng  quê. Con đường làng có hai hàng tre hai bên, che kín trêđầu là kín lm, có khi nhìn lên không thấy trời, thành ra trời mới chiều ngõ đã tối um, đom đóm bay ra kiếm ăn. Lúc hoàng hôn, dưới ao sâu, cnh cũng đã tối nên dễ thấy bóng trăng. Thực ra, tác giả tả cảnh chiều và sắp tối ở miền quê. Vì cấu trúc thơ Đường kht khe, nên Nguyn Khuyến khó t cnh theo th t thi gian.
          Tác giả cũng tả phong thái của ông khi uống rượu, hòa mình với khung cảnh thiên nhiên của mùa thu nơi thôn dã, thung dung nhàn hạ của một ông già điềm đạm, vui với thời gian và không gian. Thời gian có tính tổng quát, không cần xác định một cách máy móc sớm trưa chiều tối, không gian là khung cảnh êm đềm tĩnh lặng, thanh thoát gần gủi thiên nhiên của vùng quê Việt Nam. Nói chung, đó chính là vô vi của Lão Trang, sống hài hòa cùng thiên nhiên, không có gì trái nghịch với tạo hóa, là thông đạt triết lý Lão Trang một cách sâu sắc vậy.
         
                   Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt
                   Mắt lão không viền cũng đỏ hoe
                                           (Nguyễn Khuyến)

          Phép đối ở đây khá hoàn chỉnh, tự nhiên, đạt tới cao điểm của nghệ thuật, đến nỗi không còn thấy sự đẻo gọt công phu, cầu kỳ thường có ở những người làm thơ Đường. Ch lão là một nhân xưng đại danh t ngôi th nht số ít, người già thường dùng để t xưng. Hai câu kết t tình, cái sở thích của tác giả. Mùa thu lạnh. Người già thích ung rượu, có tiếng là hay rượu nhưng thc ra cũng chng có gì là hay.         
          Cả ba bài nầy đều nói về thu, bối cảnh hơi giống nhau: Cảnh thôn quê Việt Nam cho nên không có những ước l như rng phong (cây phong ch m hàđới), không quan tái, tóc liu, lá ngô đồng. Néđặc bit ca thôn quê Vit Nam là tĩnh lng, êđềm, vng v. S rn ràng ca nhng bến sông, tiếng đùa vui nhng lúc th diu trên cánh đồng sau làng ch rn lên ngn ngi trong nhng ngày hè nay biến mt khi gió heo may bđầu thi, khi nhng đám mâđen vn vũ báo hiu thu sang. Tác gi cũng gi tình cảm vào thơ nhưng không như các nhà thơ lãng mạn, tình cảm của ông chừng mực, vừa phải, không có những cái bi thiết, quay quắt, rên la trong khi cảnh thu. Ông tả đẹp thì đẹp vô cùng mà thực cũng là rất thực, không vay mượn cnh sc ca Tàu như nhng người làm thơ trướông hay cnh sc ca Tâ nhng thế h sau ông.

          Bàn tới mùa thu trong thi ca lãng mạn mà không nói tới “Tiếng Thu” của Lưu Trng Lư có th là mt thiếu sót bi bài thơ nđược nhiu người biết, nhiu người thích, Thi Nhân Vit Nam ca Hoài Thanh có bàn ti. Lưu Trng Lư có mt tp thơ nhan đề là “Tiếng Thu xut bn trước 1945, trong đóông có mt s bài nói v mùa thu tôi s bàn sau đây. 
          Lưu Trng Lư li là người rt mơ mng. S mơ mng làm cho ông đãng trí đến nỗi, như Hoài Thanh giới thiệu trong Thi Nhân Việt Nam có lần Lưu Trng Lư đọc hai câu thơ
                   Giật mình ta thấy mồ hôi lạnh
                   Mộng đẹp bên nhau đã biến rồi 
mà cứ tưởng đó là hai câu thơ ca Thế L, nhưng chính li là ca Lưu Trng Lư.

          Nói chuyện thơ thn mơ mng như thế ny, phi nói rng ai đã từng ở Huế, lớn lên ở Huế, chỉ trước 1945 mà thôi mi thy nhng cái l lùng ca x Thn Kinh. Huế có cnh sc thơ mng, núi Ng sông Hương thì điều đó đã hẵn, nhưng trai gái Huế cũng mơ mng không kém. Trong cuNa B Xương Khô”, Vũ Anh Khanh k li mt cnh thc. C cui tun, hc sinh trai gái Huế, phđông là hc sinh trường Đồng Khánh, Khải Định rủ nhau đi chơi lăng hay chơi núi Ngự Bình. Núi Ngự hồi ấy còn thông dày đặc, còn bậc cấp đá đi lên ở mặt sau ngọn núi. Người ta vào chơi trong rng thông, ca hát, đàn sáo, v.v... và cũng có người thi sáo khá tuyt. Người ta mơ mng và say mê thi ca đếđộ xy ra nhng trường hđặc bit, như có cu hc trò tên là B. mê “Giọt Lệ Thu” (tôi có dẫn mấy câu đầu ở trên) đến độ sa tình, điên loạn. Khi vào thi vấn đáp Brevet (tốt nghiệp cấp hai), anh ta đọc một lèo “Giọt Lệ Thu” rồi bỏ về. Sau anh ta thi vào Sở Xe Lửa Huế, cũng chỉ đọc “Giọt Lệ Thu” mà thôi. Về sau, ông ta bị điên hẵn.

          Lưu Trng Lư là người mơ mng nêông thường ngơ ngác trước cuđời, y như con nai vàng trong bài thơ “Tiếng Thu công:

                   Em không nghe mùa thu
                   Dưới trăng vàng thn thc
                   Em không nghe rạo rực
                   Hình ảnh kẻ chinh phu
                   Trong lòng người cô ph

                   Em không nghe rừng thu
                   Lá thu kêu xào xạc
                   Con nai vàng ngơ ngác
                   Đạp trên lá vàng khô    
                             (Lưu Trng Lư)
         
          Rất nhiều người khen và thích bài thơ ny. Phm Duy đã phổ nhạc. Cũng có người cho rng bài ny Lưu Trng Lư phng ý thơ bàChanson d Automne ca Verlaine. Điu ny, nếu có cũng không gì lạ vì các nhà thơlãng mạn tiền chiến chịu ảnh hưởng thơ ca lãng mạn Pháp và chính Xuân Diệu cũng gián tiếp xác nhận như thếkhi viết:

                   Tôi nhớ Rimbeau với Verlaine
                   Hai chàng thi sĩ choáng hơi men
                   Say thơ xa l mê tình bạn,
                   Phá bỏ khuôn mòn, những lối quen.
                                                (Xuân Diệu)

          Trong thơ c ca ta, có l không ai t cnh thu mà có hình ảnh con nai. Hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác trong my chc năm tr lđây tr thành mthành ngữ” trong câu nói thường ngày ca người Vit chúng ta, bt ngun t trong câu thơ ca Lưu Trng Lư vy. Tác gi hi mt em vô hình nào đó có nghe tiếng lòng thổn thức của cô phụ. Tại sao cô phụ thổn thức. Cũng là tại cảnh thu nhắc nhở ngườđàn bà vic xa chng. Bao gi cũng vy, ý nghĩa mùa thu là ly cách, làm cho người ta, nht là ph n nh cnh ly bit.    

          Trong rừng thu, lá thu đã rụng nhiều, tiếng chân nai đi xào xạc trên lá khô. May mắn tôi ở đây là vùng cấm săn sai, trên xa lộ có nhiều bảng hiệu cảnh giác nai băng qua đường, và tôi không dấu được niềm vui vì nhiều lần thấy bóng những con nai xuất hiện bên đường đi, ngơ ngác nhìn xe chạy qua, hoặc có khi nai cũng vào vườn nhà người ta tranh nhau ăn nhng trái táo rng trong sân. Chúng ch bđầu xut hin khi mùa thu ti. Mùa h, nai lên vùng cao kiếăn. Khi nhng cơn lnh đầu tiên ti, nai theo nhng con đường quen, tìm về vùng thấp, như Huy Cn mô t:

                   Bỗng dưng bun bã không gian       
                   May bay lũng thấp, giăng màn âm u
                   Nai cao gót lẫn sương mù
                   Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về
                   Sắc trời trôi nhạt dưới khe
                   Chim đi lá rụng cành nghe lạnh lùng
                   Sầu thu lên vút song song
                   Với cây hiu quạnh, với lòng quạnh hiu
                   Sắc xanh nhạt cả buồn chiều
                   Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia 
                       (Thu rừng, Lửa thiêng, Huy Cận)

          Có thể bài thơ nđược gi hng t hoàn cnh sng thc tế: Huy Cn h Cù, thuc người sc tc, sinh trưởng  mn thượng du tnh Thanh Hóa. Nhng nhn xét công v mt mùa thu  rng rt tht và rt thi v. Khung cnh thiên nhiêđược Huy Cn bt rt nhanh qua tâm hn mt nhà thơ lãng mạn, điều đó xác định thêm nỗi buồn khi ông thấy không gian thay đổi, có lẽ chính yếu ở trời và cây rừng. Trời thì nhiều mây, trên các thung lũng, như giăng màn che bt núi non. Huy Cn t cnh tri không bng cách nhìn lên mà nhìn xuống: “Sắc trời trôi nhạt dưới khe. Lá rng nhiu, các b khe trng ra, in bóng tri cao ri xung. Con nai xung khe ung nước, nhìn nước trôi trong lòng khe mà tưởng tri cũng trôi theo nước. Khi con chim bay đi, s nhún nhy ca nó to mt sđộng làm cho chiếc lá rng. Đây là mt nhn xét tinh tế khác vi người xưa. Xưa, khi t chim và lá, như bà TiếĐào thì cho rằng: “Chi nghinh nam bắc điểu, diệp tống vãng lai phong”. Ở một cành cây những con chim từ phương ny hay phương khác ti, chiếc lá rung rinh theo ngn gió qua li. Người ta cho đàn bà làm thơ như thế là không đứng đắn. Đón người ny người kia, ngn gió ny gió n là “Dp dìu lá gió cành chim, Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh”, là cuộc sống của Kiều ở lầu xanh. Xuân Diệu cũng có một câu tương tCành biếc run run chim ý nhi”. Nhưng không phkhu khí” mt cô gái ngày sau và chn lu xanh. Huy Cn không nói ý đó, với ông, một con chim nhún bay đi làm thêm một chiếc lá rụng, thêm một sự chia lìa.

          Huy Cận cũng nhận xét tinh tế cách sống của loài nai. Khi những cơn lnh đầu mùa theo gió v, nai b các vùng cao xung vùng thp hơđể trn lnh. Chúng theo nhng lđi quen (no thuc). Con nai xung sui ung nước, nhìn sắc trời trong khe, nhìn sương thu bay lên cao, tng ngn song song, nó t hi con người sng  vùng đồng bng chc cũng bun khi mùa thu ti. Trong thi ca, khi cn nhn mnh mt ý nào đó, người ta thường dùng phép “điệp ngữ” hay “đão ngữ”. Huy Cận theo bút pháp thứ hai khi ông dùng “hiu quạnh” (cây) và “quạnh hiu” (lòng). (Với cây hiu quạnh, với lòng quạnh hiu).

          Mơ mng như Lưu Trng Lưông bun khi thy lá mùa thu rng nêông viết bài thơ “Mùa Thu Rng Lá”. Bài ny ch có my câu sau đây là hay nht:

                   Lòng anh như nước h thu lnh
                   Quạnh quẽ đem soi bóng nguyệt tà
                   Ngày tháng anh mong chầm chậm lại
                   Hững hờ em mặc tháng ngày qua.
                                                (Lưu Trng Lư)

          Lòng ông lạnh không phải ông không còn yêu nhưng chính vì người yêđã bỏ ông, vì “Vội vã cô em đi lấy chồng” (Mùa Thu Rụng Lá) để đêm đêm ông trải lòng mình ra trên  “mặt nước h thu lnh” đón nhánh trăng đã xế tà. Ở một số bài trong tập “Tiếng Thu”của ông, không thấy ông dùng chữ thu nhưng đọc qua, biếôngđang nói ti mùa thu:

                   Gió thổi hôm nay lá rụng nhiều
                   Cậy em đan hộ tấm tình yêu
                   Để về mang ủ lòng anh lạnh
                   Cho khoảng đêm trường đỡ qunh hiu.
                                                     (Mùa thu đan áo)
Hoặc là:
                   Hoa lá quanh nàng lác đác rơi
                   Cuối vườđeo gi hái mng tơi
                   Mồng tơúđỏ đôi tay nõn
                   Cô bé nhìn tay nhí nhảnh cười.
                      (Lá mồng tơi, Lưu Trng Lư)

          Mồng tơi là loi cây leo mc hoang  hàng rào; có khi người ta cũng trng thành lung để ly lá nu canh. Trái mng tơi màđỏ tím như màu mc hc trò, trẻ con thường hay nghch. Cô em ca Lưu Trng Lư tuy đã lớn nhưng còn nghịch như tr con.
          Nguyễn Bính có mấy câu nói về mồng tơi, nôm na hơn nhưng li khá hay:
         
                   Từ độ mồng tơi thôi trổ lá
                   Thì cô hàng xóm cũng thôi sang

          Hoặc:
                  
                   Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
                   Cách nhau có giậu mồng tơi xanh rn
                   Hai người sng gia cô đơn
                                      (Nguyễn Bính)

          Bài “Lá Bàng Rơi ca Lưu Trng Lư có my câu nói v thu rđẹp:
                  
                   Sớm vin cành liễu so màu tóc
                   Chiều ngắt hoa lê đọ nụ cười
                   Ngườđẹp bên sông su chưa biết
                   Bên sông ngày lượm lá bàng rơi.     
                                      (Lưu-Trng-Lư)

          Có điều buồn cười là các nhà làm thơ mi thường đã kích lối làm thơ c, nht là Đường thi, nhưng h vn không thoát ra khi nhng ước l thơ cVin cành liuso màu tóc. Như đã nói ở trên, theo xưa thì cây liễu tượng trưng cho ngườđàn bà con gái. Lưu Trng Lư li còn dùng cả phép đối trong thơ Đường. Hễ “Sớm vinh cành liễu” thì “Chiều ngắt hoa lê” là phép “tiểu đối”. Cái ý bến sông xa cách ngày nay thường thy trong văn chương. Thch Lam thì có “Bên Kia Sông”, Huy Cận thì có “Không cầu nối lại niềm thông cảm”, Lưu Trng Lư thì có “Ngườđẹp bên sông hay Hoa rng bên sông.

          Tôi đã giới thiệu bài “Thu Rừng” của Huy Cận ở phần trước. Trong tLa Thiêng công, còn một bài nói về thu nữa. Bài nầy, ông tả qua cảnh thu về, có hoa rụng, có sương nng trêđầu ngn tre, có lnh v theo gió. Thu ti tht nh nhàng mà đóa hoa cúc n ra cũng ng ngàng. Có cô con gái nhỏ đi chơi trong vườn nhìn hoa tạ từ, mầu hoa đậm và nhớ nhung.

                   Hôm qua thu mới về      
                   Với một cành hoa gãy
                   Sương nng gieo đầu tre
                   Lạnh tràn theo gió đẩy
                   Thu tới trong vườn bên
                   Ngỡ ngàng màu cúc mới
                   Đêm qua bên láng giềng
                   Êm tựa nhàn, thu tới
                   Cô gái nhỏ thung dung
                   Qua miếng vườn hoa nh
                   Đất nằm im dưới cỏ
                   Hoa tạ màu nhớ nhung
         

          Nói chừng nầy làm sao hết cả thu trong trường thơ lãng mạn tiền chiến. Thi nhân thời ấy nói về thu nhiều lắm, nói mãi cũng không sao hết được. Vì sao? Như đã nói, mùa thu là mùa ly biệt, mùa đất trời chuyển dịch, mùa của nhớ nhung, trông chờ. Tình cảm tâm hồn người b giao động, xúc cm, có khi rt mãnh liệt, làm cho người ta sinh ra than vãn, khóc lóc lắm lúc thật não nề.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét